Posted by ttxcc6 on 16/10/2012Bùi văn Bồng blog
Trung Quốc có sẵn sức mạnh “lấy thịt đè người”
Cuốn “Trung Quốc và việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông Dương” là một công trình soạn thảo rất công phu của Phơ-răng-xoa Gioay-ô (Francois Joyaux) một nhà nghiên cứu lịch sử người Pháp, đồng thời là một chuyên gia về Trung Quốc. Công trình này được hoàn thành vào tháng 3 năm 1976 và được xuất bản vào quí I năm 1979, đúng vào thời điểm tập đoàn phản động Bắc Kinh tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược biên giới phía Bắc nước ta.
Để biên soạn công trình này, tác giả đã được phép khai thác nhiều tài liệu mật của cơ quan lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp như các biên bản các cuộc họp tay đôi giữa phía Pháp với phía Trung Quốc, những điện mật của đoàn Pháp báo cáo về thái độ của các nước dự hội nghị, những biên bản các phiên họp hẹp kéo dài của hội nghị đó, những điện mật của các đại diện Ngoại giao Pháp ở những nước tham dự hội nghị v.v… Như mọi người đều biết, trong hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương, những người lãnh đạo Trung Quốc đã cùng với đế quốc Pháp thoả hiệp về một giải pháp có lợi cho Trung Quốc và Pháp, không có lợi cho nhân dân Việt Nam, nhân dân Lào và nhân dân Cam-pu-chia. Họ đã hy sinh lợi ích của nhân dân ba nước Đông Dương để bảo đảm an ninh cho Trung Quốc ở phía nam, để thực hiện mưu đồ nắm Việt Nam và Đông Dương, đồng thời giữ vai trò là một nước lớn trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế, trước hết là ở châu Á. Cho nên những tài liệu mật được tác giả nêu lên trong cuốn sách này là những tư liệu có giá trị, cung cấp cho chúng ta nhiều điểm làm sáng thêm một số vấn đề trước đây đã được nghiên cứu về hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954.Khi biên soạn công trình này, tác giả còn tham khảo hầu hết các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả về hội nghị này, những cuốn hồi ký của nhiều nhân vật đóng vai trò chủ chốt trong hội nghị, đồng thời đọc rất nhiều báo chí của những nước tham dự hội nghị hoặc liên quan mật thiết đến hội nghị để dẫn ra những tư liệu cần thiết cho chủ đề cuốn sách. Có thể nói đây là bản tổng hợp những tài liệu chứng minh chính sách bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của giới cầm quyền phản động Bắc Kinh đối với nước ta và các nước khác ở Đông Dương.
Như vậy, tác giả đã cung cấp cho chúng ta những tài liệu phong phú và đầy đủ, giúp chúng ta hiểu sâu hơn về chiến lược, âm mưu và thủ đoạn của Bắc Kinh đối với Việt Nam và Đông Dương trước, trong và sau hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954 về Đông Dương.
Giá trị của cuốn sách không phải chỉ dừng ở đó. Là một nhà nghiên cứu lịch sử, tác giả không chỉ hạn chế ở việc dẫn ra những tư liệu phân tích sâu sắc về thái độ của giới cầm quyền phản động Bắc Kinh trong việc giai đoạn cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông Dương. Chính từ sự phân tích đó, qua các chính sách của Trung Quốc từ lịch sử xa xưa cho đến hội nghị Giơ-ne-vơ về Đông Dương, tác giả đã khách quan làm rõ “sợi chỉ đen” xuyên suốt trong chính sách bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Trung Quốc đối với ba nước Việt Nam, Lào và Cam-pu-chia.
Cuốn sách này gồm bốn phần:
Phần thứ nhất chủ yếu phân tích những nhân quyết định thái độ của Bắc Kinh trong việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông Dương. Đó là:
Vào năm 1954, Mao Trạch Đông “hoàn toàn chế ngự” Đảng, quân đội, Nhà nước, song rõ ràng tình hình kinh tế có khó khăn. Hơn nữa đã có những rạn nứt trong quan hệ Trung – Xô mà “sự liên minh chỉ bền vững trong chừng mực cần thiết cho chính sách đối ngoại của Trung Quốc”1 (Từ trang này trở đi, những đoạn trong ngoặc kép là trích dẫn lời của tác giả). Trước tình hình đó, lại muốn đạt quy chế cường quốc, Bắc Kinh “có nhu cầu cấp thiết lập lại các mối quan hệ bình thường với các nước phương Tây” để công nghiệp hoá đất nước. Vì vậy, phá thế cô lập với các nước phương Tây là một yêu cầu chiến lược của Trung Quốc lúc đó. Pháp, Mỹ đã đánh giá rằng các nhu cầu kinh tế đó “có thể đóng vai trò quyết định trong thái độ của Bắc Kinh”. Đó là “đề tài cua sự mặc cả ngầm” (Pháp), “lợi ích của Trung Quốc là phải chứng tỏ một thái độ mềm dẻo nào đó về vấn đề Đông Dương” (Mỹ).
Nhưng những nhân tố trên không phải là nhân tố quyết định duy nhất thái độ của Trung Quốc. “Tính truyền thống lâu đời trong quan hệ Trung-Việt”, và ở mức độ thấp hơn đối với Lào và Cam-pu-chia, cũng sẽ đóng vai trò quyết định”.
Lịch sử mối quan hệ đó từ các triều đại phong kiến Trung Quốc đến Tôn Dật Tiên, Mao Trạch Đông, đều cho thấy các chế độ chính trị ở Trung Quốc luôn luôn coi Việt Nam có một vị trí đặc biệt đối với họ. “Các đế chế Trung Hoa có ý đồ không thay đổi áp đặt một thứ hoà bình kiểu Trung Quốc đối với các bờ cõi phía nam…, ngày nay cũng như trước đây; điều đó đã được thật sự đặt lên hàng đầu trong suốt thời gian thương lượng ở Giơ-ne-vơ”.
Giới cầm quyền Bắc Kinh “quan tâm sát sao” đến vấn đề Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám ở Việt Nam thành công. Một mặt họ phái cán bộ sang Việt Nam “để tiến hành hoạt động tuyên truyền trong đông đảo Hoa kiều” ở Việt Nam, mặt khác họ tăng cường viện trợ và ảnh hưởng đối với cách mạng Việt Nam, nhất là từ sau khi Trung Quốc được giải phóng.
Trước hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954, trong khi ở phương Tây người ta lo ngại Trung Quốc có thể can thiệp trực tiếp vào Đông Dương thì ngược lại, Bắc Kinh lại làm rùm beng và tỏ ra lo sợ Mỹ can thiệp trực tiếp vào Đông Dương. “Vào mùa xuân năm 1954, Trung Quốc đã lựa chọn sự cùng tồn tại hoà bình” và đối với Bắc Kinh, “Đông Dương không được trở thành một Triều Tiên mới”. Thái độ đó bắt đầu từ sau khi đình chiến ở Triều Tiên. Trên thực tế, Bắc Kinh nhấn mạnh việc giải quyết vấn đề Đông Dương bằng thương lượng từ mùa thu năm 1953, trước cả Việt Nam, và chỉ viện trợ cho Việt Nam “đủ để tạo thuận lợi cho Việt Minh giành thắng lợi, song không vì thế mà viện trợ vô hạn độ để Việt Minh có thể làm cho Mỹ và đồng minh của Mỹ can thiệp, dù cho lúc đó Bắc Kinh có thể “viện trợ to lớn hơn viện trợ mà họ đã thực sự dành Việt Minh”.
Do đó, việc tiền hành thương lượng về Đông Dương hoàn toàn đáp ứng các lợi ích dân tộc của Trung Quốc: làm dịu tình hình căng thẳng ở Viễn Đông cần thiết cho sự phát triển kinh tế của Trung Quốc, gạt bỏ nguy cơ can thiệp của Mỹ vào cuộc xung đột ở Đông Dương, tạo khả năng cho Trung Quốc chấm dứt được sự bài xích của phương Tây, chứng tỏ Trung Quốc là một cường quốc trên sân khấu thế giới và tạo cơ hội cho Trung Quốc tiến hành các cuộc đàm phán thương mại với phương Tây”.
Về vấn đề thống nhất Việt Nam, sau hội nghị Giơ-ne-vơ, “Trong khi các nhà lãnh đạo và báo chí Việt Nam luôn luôn lên tiếng ủng hộ các tuyên bố của Trung Quốc liên quan đếm vấn đề Đài Loan thì việc Trung Quốc bỏ qua một cách có hệ thống không nói đến vấn đề thống nhất của Việt Nam lại càng trắng trợn”. Điện mừng của Mao Trạch Đông, khi ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, phát biểu của Chu Ân Lai khi tiếp thủ tướng Phạm Văn Đồng đi qua Bắc Kinh đầu tháng 8 năm 1954, phát biểu của Đại sứ La Quý Ba khi trình quốc thư đều không nói đến vấn đề đó. Ngược lại, phía Việt Nam “không ngừng khẳng định rằng mục tiêu cuối cùng là thống nhất đất nước”.Từ thực tế trên, tác giả nhắc lại rằng Măng-đét Phrăng (Mendès France) khi đàm phán với Chu Ân Lai, đã tin tưởng là Trung Quốc rõ ràng tán thành chia cắt lâu dài Việt Nam, tán thành sự tồn tại của phía nam Trung Quốc nhiều quốc gia đa dạng. Cho nên Bắc Kinh đã hạn chế các yêu sách của Việt Minh ở hội nghị Giơ-ne-vơ, đặc biệt đã gây sức ép với Việt Nam Dân chủ Cộng hoà phải giảm bớt “tham vọng” đối với miền Nam Việt Nam và đối với các nước khác ở Đông Dương, để tạo nên một sự cân bằng mới ở ngay Việt Nam và cả trên bán đảo Đông Dương. Ý đồ của Bắc Kinh còn ở chỗ là “bị cắt mất vùng lúa gạo thừa thãi ở Nam kỳ, Bắc Việt chỉ còn có thể hướng về Trung Quốc để bổ sung nguồn thực phẩm còn thiếu”; “sau khi Việt Nam bị chia cắt, miền Bắc gắn bó mật thiết hơn với nền kinh tế Trung Quốc từ nay duy nhất có khả năng cung cấp cho những nhu cầu chủ yếu của một nước không thể tự cung tự cấp được. Tình trạng đó từ nay sẽ là một chủ bài quan trọng đối với chính sách của Trung Quốc ở Việt Nam”.
Về chính sách của Trung Quốc đối với vấn đề Đông Dương, sự khác nhau cũng thể hiện ngay trên các tuyên bố công khai. Từ đó, tác giả cho rằng quan điểm của Trung Quốc về một Đông Dương đa dạng có nghĩa là “Lào và Cam-pu-chia phải là đối trọng với Việt Nam”. Và “Lập trường của Cộng hoà nhân dân Trung Hoa muốn tạo ra nhiều nước riêng biệt ở Đông Dương, muốn ban-căng hoá Đông Dương dĩ nhiên dẫn đến sự chia rẽ tình đoàn kết giữa những người yêu nước ở các nước Đông Dương, làm suy yếu các mặt trận cách mạng và dân chủ ở Lào và Cam-pu-chia đang hướng về chủ nghĩa xã hội trên thế giới”. Đó là: “một chính sách Đông Dương nối tiếp chính sách của các triều đại hoàng đế xưa kia”, mà một trng những nét nổi bật nhất của chính sách đó là ý muốn thường xuyên duy trì hoà bình ở sườn phía nam, dựa trên thế cân bằng lập ra từ nhiều sự cạnh tranh giữa các nước khác nhau ở trong vùng… một chính sách khá gần gũi với chính sách chia để trị cổ xưa”.
Tóm lại, tác giả kết luận, “phải chăng người ta thấy lại cách đối xử “vô tư” xưa kia, dưới cái vỏ trật tự nho giáo, thường chỉ phục vụ lợi ích chính trị của đế chế Trung Hoa”.
Thái độ của Trung Quốc đối với Việt Minh là thái độ của một cường quốc ủng hộ kiên quyết đồng minh của mình chừng nào mà mục tiêu của đồng minh có thể khớp với thế cân bằng (Bắc Kinh) đang tìm kiếm, nhưng cũng biết áp đặt một vài điều bó buộc trong trường hợp ngược lại”. Và Đông Dương thống nhất trong cuộc cách mạng như trước đây ở dưới chế độ thực dân nhường chỗ cho Đông Dương trở nên phức tạp biểu hiện ở bữa cơm của Chu Ân Lai ngày 27 tháng 7”.
Chiến lược của Bắc Kinh rõ ràng là muốn Đông Dương bị xé ra thành nhiều nước nhỏ, “đa dạng” về chính trị, dễ dàng bị Trung Quốc chi phối và buộc phải đi theo quỹ đạo của giới cầm quyền Bắc Kinh. Cho nên, Bắc Kinh ngầm tán thành sự tồn tại lâu dài của một Nhà nước Nam Việt Nam, duy trù các chính phủ Vương quốc ở Lào và Cam-pu-chia. Đó chỉ là một sự nối tiếp chính sách của các đế chế Trung Hoa. Và trong suốt mấy chục năm qua, mặc dầu bối cảnh quốc tế và tình hình nội bộ Trung Quốc có những đảo lộn lớn, song Bắc Kinh vẫn duy trì một cách liên tục chính sách không thay đổi đó. Sau khi Việt Nam đã thống nhất năm 1976, quan hệ Việt-Lào được tăng cường, bối cảnh căn bản khác với năm 1954 và những năm sau đó, nhưng Bắc Kinh vẫn “tiếp nối thẳng tắp thái độ ở Giơ-ne-vơ “nhằm duy trì cái gì còn có thể giữ được trong chính sách “chia để trị” ở Đông Dương. Vì vậy nếu ngày hôm qua, vào giữa những năm 1950, họ muốn có một Cam-pu-chia theo “Chủ nghĩa quốc gia” và là một đối tượng với Việt Nam thì ngày nay, vào giữa những năm 1970, họ tạo nên một Cam-pu-chia “cách mạng” để thống nhất lại nước Việt Nam thống nhất. Đó là mục tiêu không thay đổi trong chính sách Đông Dương mà tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Trung Quốc theo đuổi.
“Trung Quốc và việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông Dương” là một cuốn sách mà mọi người chúng ta nên đọc để hiểu thêm về kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm của nhân dân ta trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Tuy nhiên, do tác giả đứng trên lập trường tư sản để viết nên cuốn sách cũng có những nhận định sai lầm. Chúng ta đã có cuốn “sự thật về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc trong 30 năm qua”, một công trình nghiên cứu có hệ thống, một tài liệu đấu tranh sắc bén chống chủ nghĩa bành trướng đại dân tộc và bá quyền nước lớn của tập đoàn phản động trong giới cầm quyền Bắc Kinh.
Phải thẳng thắn thừa nhận sự ngu dốt của mình, không đem tưởng tượng và bịa đặt thay thế cho điều mình không biết. Phải kể lại chính xác các sự kiện, và sau đó chỉ đưa ra những điều suy nghĩ ngắn gọn đối với những cái mà những sự suy nghĩ ấy có thể có giá trị.
(Hồi ký của Xanh Xi-mông).
Cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa phương Đông và phương Tây, có sự tham dự của Trung Hoa-Bắc Kinh”, đại sứ Giăng Sô-ven (Jean Chauvel) trong hồi ký của mình đã nêu lên việc Cộng hoà nhân dân Trung Hoa tham gia hội nghị Giơ-ne-vơ như vậy1 (Jean Chavel, Commentaire (Bình luận). Pari Phay-át, 1975, tập H, tr.59).
Cuộc gặp gỡ đầu tiên ư? Chắc chắn là như vậy: Nếu cuộc đàm phán quan trọng giữa Trung Quốc và Liên Xô trong những năm 1949-1950 ở nhiều điểm được coi là “một cuộc gặp gỡ giữa phương Đông và phương Tây thì ngược lại, sự giống nhau về lý tưởng của hai chế độ xã hội hiện diện đã làm cho cuộc gặp gỡ có tính chất một sự bình thường hoá quan hệ trong nội bộ khối hơn là một sự chạm trán giữa hai hệ thống. Còn cuộc thương lượng tại Bàn Môn Điếm, kết thúc chín tháng trước hội nghị Giơ-ne-vơ thì chưa bao giờ vượt qua giai đoạn của một cuộc thảo luận hạn chế về quân sự nhằm đi đến ngừng bắn ở một giới tuyến đã được số phận vũ khí định đoạt.
“Cuộc gặp gỡ giữa phương Đông và phương Tây”? Triển vọng là to lớn. Nhưng chúng tôi thấy gọi như thế có vẻ đúng. Ý niệm đó thể hiện rõ ý hơn là dùng thuật ngữ “gặp gỡ Đông – Tây”. Đúng là chúng ta đang ở bối cảnh cuộc chiến tranh lạnh vào thời kỳ quyết liệt, hai khối đối chọi nhau gay gắt. Thái độ cư xử của một Bi-đơn Xmit (Bedell Smith), của một Đa-let (Foaster Dulles), một Bi-đơn (Georges Bidault), một Mô-lô-tốp (Molotov) gần như luôn luôn nhắc tới điều đó.Tuy vậy, chúng tôi thích dùng “giữa phương Đông và phương Tây” hơn. Bởi vì Giơ-ne-vơ cũng là thái độ ôn hoà khôn khéo của một I-đơn (Anthony Eden), hay niềm tin còn nóng vội của một Măng-đét Phrăng (Mendès Frangce) đứng trước ngoại giao quỷ quyệt khôn lường của một Chu Ân Lai hoặc hơn nữa là sự giận giữ lo âu của Phạm Văn Đồng. Tấn thảm kich của một Đông Dương chia cắt đang thoát khỏi sự ràng buộc thuộc địa. Sự cố gắng căng thẳng của một Trung Quốc mong muốn thế giới cũ và thế giới mới chấp nhận. Một châu Á đang vươn lên, mong muốn người ta hiểu mình trên diễn đàn quốc tế lâu nay bị châu Âu hay Hoa Kỳ chi phối. Đối với chúng tôi, thuộc loại các cuộc thương lượng quan trọng, từng thời kỳ một, chúng ghi lại những sự biến đổi của thế giới.
Nhưng tại sao lại tìm cách tách riêng thái độ đặc biệt của Trung Quốc như vậy? Ít nhất là vì hai lý do, bổ sung cho nhau là đằng khác:
Trước hết, bởi vì việc nghiên cứu lịch sử chính sách đối ngoại của Trung Quốc hiện đại-chưa được phát triển ở Pháp-đòi hỏi phải xem xét kỹ càng, từng cái một và kiên nhẫn những thời điểm có ý nghĩa nhất trong một thời kỳ lịch sử. Giơ-ne-vơ, cuộc đối mặt lớn lao đầu tiên của nước Trung Hoa mới với thế giới phương Tây, đối với chúng tôi là một trong những thời điểm đó-thời điểm đáng để chúng ta bỏ công nghiên cứu đề tài đó-đáng để chúng ta bỏ công phân tích việc nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa bước vào “hệ thống quan hệ liên quốc” (quan hệ giữa quốc gia này với quốc gia khác) như các nhà xã hội học về quan hệ quốc tế đã viết.
Từ nhận xét này chúng tôi đi thẳng đến lý do thứ hai phải ưu tiên nghiên cứu thái độ của Trung Quốc trong việc giải quyết cuộc xung đột lần thứ nhất ở Đông Dương. Đây còn là một lý do về phương pháp nữa. Chúng tôi cho rằng nghiên cứu các mối quan hệ quốc tế hiện đại mà chỉ dựa vào kinh nghiệm phương Tây thì không hợp lý lắm, còn nói gì vè lý thuyết? Làm sao có thể thúc đẩy việc nghiên cứu tiến triển nếu chúng ta xem nhẹ tính đặc thù của các thế giới xa lạ nhất với chúng ta? Trong một tác phẩm của Vôn-te (Voltaire), khi xem xét “Trích Dự án hoà bình vĩnh cửu của ông thày dòng Xanh Pi-e (Saint-Pierre)” do Rút-xô (J.J.Rousseau) công bố, Hoàng đế Trung Hoa đã nói: “Nhưng trẫm rất ngạc nhiên khi đã đi tìm mãi mà không thấy tên Trẫm trong danh sách”. Hai thế kỷ sau, ý nghĩ trào lộng này hình như vẫn không mất đi tính thời sự của nó.
Thật vậy trong chừng mừng nào đó (nói thì dễ quá đi thôi) hệ thống quốc tế có cái lô-gích riêng của nó và nó buộc các nhà đương cục là các quốc gia phải tuân theo. Nhưng sự phản ứng của các quốc gia đó về căn bản cũng cón thể hiện nhân cách của mỗi nước. Bởi vậy, chúng tôi tin tưởng sâu sắc rằng không nên đề cập đến chính sách đối ngoại của Trung Quốc ít nhất là ở Đông Dương, giống như chính sách của Mỹ hay của Liên Xô mà công trình nghiên cứu này không đả động đến. Phải chăng đây là cuộc tranh luận triền miền giữa những “nhà nghiên cứu cái phổ biến” và những “nhà nghiên cứu cái đặc thù”? Có thể như vậy.
