Những Nhạc Sĩ Vô Cùng Bất Hạnh

Theo: vulep

https://i2.wp.com/files.myopera.com/diemxuacafe/blog/truc%20phuong.jpg

Đã có nhiều bài viết và nhận xét khác nhau của khán thính giả khắp nơi về chương trình Asia 55 chủ đề “75 Năm Âm Nhạc Việt Nam, kỳ 2 – Hát Với Thần Tượng” được phát hành cách đây vài tuần.

Theo ý kiến của đa số khán giả, DVD Asia 55 kỳ này đã đáp ứng được những đòi hỏi của mọi người như: mới lạ, rực rỡ về ánh sáng, màu sắc và âm thanh qua các tiết mục lồng trong những bài hát có quen, có lạ, có mới, có cũ, có vui, có buồn..v..v.. khiến cho người xem như bị lôi cuốn từ đầu tới cuối. Thêm một lần nữa, Trung Tâm Asia đã cống hiến cho chúng ta một tác phẩm thật tuyệt vời và đầy giá trị về nghệ thuật cũng như lịch sử của nền âm nhạc Việt Nam.

Tuy nhiên, sau khi xem xong cuồn DVD Asia 55 này, những cảm xúc và ấn tượng để lại trong đầu (khiến cho nhiều người băn khoăn, suy gẫm) lại là những gì? Có thể nói đó chính là những hình ảnh khó quên của vài nhạc sĩ xuất hiện trong Asia 55 qua những đoạn video clips phỏng vấn ngắn ngủi nhưng vô cùng quý hiếm.

Tiêu biểu nhất vẫn là những nhạc sĩ Văn Cao, TrúcPhương, Thăng Long, Ðỗ Lễ, Châu Kỳ, Nguyễn Văn Tý … Cho dù họ đã lìa trần hay còn sinh sống ở quê nhà, nhưng họ có một điểm chung là đã làm “kiếp tằm nhả tơ” để đem đến cho đời biết bao ca khúc tuyệt vời suốt mấy chục năm qua.

Nhưng đàng sau những tác phẩm “để đời” ấy là những quãng đời u tối, nhọc nhằn và phần số vô cùng nghiệt ngã mà ít có ai ngờ tới.

Qua cuồn DVD Asia 55 kỳ này, lần đầu tiên chúng ta được nghe và biết chút ít về những nhạc sĩ khá bất hạnh nêu trên, nhưng còn biết bao nhiêu câu chuyện khác về họ mà chúng ta chưa biết và cũng không hề thấy đề cập đến trong những đoạn phim phỏng vấn.

 Tìm hiểu thêm về cuộc đời của họ, chúng ta lại càng đau xót nhiều hơn cho những kiếp đời mà tạo hóa đã “bắt phong trần, phải phong trần” cho đến mức tang thương cùng tận. Vậy mà số phận của họ vẫn đúng là cái số “con tằm đến thác vẫn còn vương tơ” ?

 Xin cùng nhau tìm hiểu thêm nơi đây vài quãng đời bi thương và tiêu biểu của những nhạc sĩ đã xuất hiện trong DVD Asia 55 chủ đề “75 Năm Âm Nhạc Việt Nam, kỳ 2”: 

https://i2.wp.com/files.myopera.com/diemxuacafe/blog/truc%20phuong.jpg

Câu chuyện của Nhạc sĩ Trúc Phương rút xuống theo yêu cầu của con ông, Linh Nguyen.

Nhạc sĩ Văn Cao (1923-1996):

Có một thi sĩ trong nước đã miêu tả chân dung nhạc sĩ Văn Cao bằng bốn câu thơ như sau:

 

“Thiên Thai từ giã về dương thế

Suối Mơ ngày ấy Buồn Tàn Thu

Sân đình ngất nghểu ngôi Tiên Chỉ

Uống rượu say rồi hát Quốc Ca !”

 Trong bài thơ này có bốn bản nhạc tiêu biểu nhất của nhạc sĩ Văn Cao là Thiên Thai, Suối Mơ, Buồn Tàn Thu và bài Quốc Ca của nước CHXHCN Việt Nam. Ngoài ra ông còn được giới văn nghệ sĩ miền Bắc đặt cho biệt danh “Cụ Tiên Chỉ”.

 (Thời phong kiến trước năm 1945, cụ Tiên Chỉ là chức vụ to nhất ở trong làng. Mỗi khi có hội họp, tế lễ, cụ Tiên Chỉ luôn luôn được mời ngồi chiếu trên). Tác giả của bài Tiến Quân Ca (Quốc Ca) có rất nhiều tài như hội họa, âm nhạc, làm thơ, viết văn phê bình …

 Trong vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm”, nhạc sĩ Văn Cao bị xếp vào thành phần lãnh đạo. Biệt danh “Cụ Tiên Chỉ” là do giới văn nghệ sĩ đặt cho ông để chỉ tài năng đa dạng của ông, nhưng cái biệt danh này lại khiến cho chính quyền cộng sản gán cho ông, kết tội ông là người cầm đầu nhóm “Nhân Văn Giai Phẩm” chỉ trích chế độ đương thời.

 Ông bị treo bút, không được sáng tác, về làm người minh họa cho báo Văn Nghệ suốt hơn 30 năm, đến khi già ốm và chết vào năm 1996. Đã hàng chục năm dài, nhạc sĩ Văn Cao buồn cho thế sự, buồn cho tình đời, nên ông đành mượn chén rượu giải sầu. Tài uống “rượu suông” (uống rượu mà không có thức nhắm) của ông Văn Cao thật kinh người. Ông có thể ngồi uống hàng lít rượu mà vẫn không say, vẫn tỉnh táo như thường.

 Trong chương trình Asia 55, chúng ta được xem một đoạn video clip của nhạc sĩ Văn Cao trả lời phỏng vấn năm 1995 trước khi ông mất, về những bài hát thời tiền chiến của ông với thật nhiều kỷ niệm luyến tiếc. Thần trí ông thật minh mẫn và ông đã kể lại rành mạch từng cảm xúc của ông khi sáng tác những bài hát này cách đây hơn 60 năm.

Có một giai thoại do chính người con trai thứ ba của ông là kỹ sư xây dựng Nguyễn Nghiêm Bằng (sanh năm 1951) kể lại cho một người bạn và được giới văn nghệ sĩ miền Bắc truyền tụng sau này là: Vào lúc Văn Cao bị “đánh tả tơi” sau vụ án “Nhân Văn Giai Phẩm” thì bà Nghiêm Thúy Băng – vợ của ông – đã có lần mắng vào mặt mấy “thằng bạn chí cốt” của chồng, giờ đang nắm chức cao quyền trọng như sau:

 “Các ông ghen tài rồi thù chồng tôi ..các ông kỷ luật anh ấy … nhưng chồng tôi vẫn là người được nhân dân tôn kính …Khi bài “Tiến Quân Ca” của anh ấy cất lên, ngay cả các ông vẫn phải gục đầu xuống !”. (trích từ cuốn “Nhận Diện Chân Dung Nhà Văn” của Lý Hồng Xuân, Văn Nghệ, California, USA, 2000)

 

 (Hình bà Văn Cao và nhạc sĩ Văn Cao ở nhà riêng, 1994)

 Trước kia, giới văn nghệ sĩ ở Hà Nội vẫn thường than thở với nhau là nhạc sĩ Văn Cao là tác giả duy nhất của bài Quốc Ca (so với những tác giả Quốc Ca khác trên thế giới) vẫn còn sống sót được trong suốt 50 năm (1945-1995), nhưng lại là người bị chế độ trù dập và phải cư trú trong một căn nhà rất tồi tàn, nghèo khổ, xoàng xĩnh nhất ở thủ đô Hà Nội.(Nghĩa la không được chính quyền ưu đãi gì cả so với công lao của ông).

 Khoảng năm 1993, bỗng dưng giới sinh hoạt văn nghệ Hà Nội được tin sẽ có một buổi lễ kỷ niệm “Nửa Thế Kỷ Âm Nhạc VN” nhằm vinh danh các nhạc sĩ đã đóng góp vào kho tàng âm nhạc VN. Buổi lễ được thực hiện rất trang trọng tại nhà hát lớn Hà Nội với nhiều viên chức chính quyền và quan khách ngoại quốc tham dự.

 Đến tiết mục thứ 13, ban tổ chức cho hát bài “Làng Tôi” và mời tác giả là nhạc sĩ Văn Cao lên sân khấu để ban tổ chức trao tặng bó hoa danh dự. Khán giả nồng nhiệt vỗ tay rào rào hàng chục phút. Nhưng mọi người chờ hoài mà không thấy nhạc sĩ Văn Cao đâu cả .

 Có người nói là :” Ông Văn Cao đòi thay tiết mục, ông đề nghị hát bài “Thiên Thai” không được, nên buồn bực không tới dự, vì ban tổ chức đã tự ý chọn bài “Làng Tôi” (1947) của ông sắp xếp vào chương trình.(trích “Vài Câu Chuyện Làng Văn Hà Nội” ký sự văn học của Lý Kiệt Luận, California, USA, 1994)

——————————————————– 

Nhạc sĩ Đỗ Lễ (1941-1997):

Trường hợp mất đi của nhạc sĩ Đỗ Lễ cũng khá thương tâm. Ông đã cống hiến hầu hết cuộc đời tài hoa của mình cho âm nhạc, cho tình yêu và đã để lại cho đời những bài hát thật tuyệt vời về những cuộc tình trái ngang, phụ phàng, cay đắng.

 Nhưng cuối cùng ông lại tự kết liễu đời mình bằng một liều thuốc độc trong một căn phòng khách sạn khi từ Mỹ trở về thăm quê hương (tháng 3 năm 1997)

 

Tên thật của ông là Đỗ Hữu Lễ, sinh ngày 12-10-1941 tại Hà Nội. Học tiểu học trường Hàng Vôi, trung học Chu Văn An (1952), Cao Đẳng Mỹ Thuật Sài Gòn (1953), Cao Đẳng Mỹ Thuật Gia Định (1954), Đại Học Khoa Học Sài Gòn (1959), Đại Học Luật Khoa Sài Gòn (1963).

 Tự học nhạc năm 1951 và bắt đầu sáng tác từ năm 1956 khi vừa tròn 15 tuổi. Tuyệt vọng vì yêu một ca sĩ (Lệ Thanh) nhưng không được đáp lại và khi nàng lên xe hoa thì ông sáng tác bài Sang Ngang rất nổi tiếng sau này và đã làm cho biết bao nữ sinh rơi nưóc mắt.

 “Thôi nín đi em

Lệ đẫm vai rồi

Buồn thương nhớ ai…

Mai bước sang ngang

Lòng thêm nát tan

Tình đã dở dang…

Thôi khóc làm gì

Đã lỡ duyên thề

Thương nhau làm chi…

Nỗi buồn ai hay

Khi mình chia tay

Xa cách nhau rồi …”

Lúc đó có nữ ca sĩ (Y. X ) đã trình bày lần đầu tiên bài hát này ở các phòng trà và sau đó đã trở thành bà Đỗ Lễ.

 Tuy nhiên cuộc tình của họ chỉ kéo dài được 6 năm và tan vỡ sau khi họ có với nhau ba mặt con. (Sau này người vợ của nhạc sĩ đã ôm cầm sang thuyền khác và đã định cư ở Mỹ).

 Trước đó nhạc sĩ Đỗ Lễ có phụ trách một chương trình ca nhạc trên đài Truyền Hình ở Sài Gòn hàng tuần mang tên là “Thời Trang Nhạc Tuyển”. Chương trình này quy tụ các ca sĩ như Hoàng Oanh, Khánh Ly, Thanh Lan, Phương Hồng Hạnh, Ngọc Minh, Thanh Tuyền, Giao Linh, Hương Lan, Caroll Kim, Hoài Xuân, Xuân Đào, tam ca Sao Băng, 3 Con Mèo, 3 Trái Táo …Đặc biệt là chính Đỗ Lễ lại là người hoạ sĩ vẽ trang trí cho sân khấu những show truyền hình của ông, nên ông được nhiều người gọi là họa sĩ “Sang Ngang” như tên một bài hát của ông.

Sau khi chia tay với người vợ đầu, thời gian cô đơn này nhạc sĩ Đỗ Lễ quá đau thương, nên ông đã sáng tác nhiều bản nhạc nghe rất não lòng như Tình Phụ. Chính bản nhạc này đã được hãng phim của Thẩm Thúy Hằng chọn làm nhạc chủ đề cho phim “Nàng” với tiếng hát của Carol Kim.

 Trong chương trình Asia 55, bài hát này đã được Nguyên Khang và Y Phương trình bày rất điêu luyện qua từng lời ca than oán và nét mặt ưu sầu của họ đã đã diễn tả rất chính xác tâm trạng đau buồn của nhạc sĩ và hàng triệu người khác có cùng chung một tâm sự suốt mấy chục năm qua.

 Sau năm 1975, nhạc sĩ Đỗ Lễ sinh sống bằng cách mở lớp dạy nhạc tại Sài Gòn. Đến năm 1994 nhạc sĩ Đỗ Lễ được thân nhân bão lãnh qua Mỹ định cư tại thành phố Philadelphia, tiểu bang Pennsylvania.

 Nhưng đời sống nơi xứ lạ này không làm ông yên tâm hay thoải mái như bao nhiêu người khác, mà ông lại một mình quay về chốn cũ, với nhiều kỷ niệm xưa để tự kết liễu đời mình ở đó trong cô đơn, thất vọng não nề như những lời tiên tri trong các bài hát của ông ?

 ————————————————-

Nhạc sĩ Thăng Long (1937- ):

Nếu không có những người phóng viên của Trung Tâm Asia và đài truyền hình SBTN về tận Việt Nam tìm kiếm và quay phim, phỏng vấn nhạc sĩ Thăng Long thì ít ai còn biết đến tung tích của ông.

 Tuy là một nhạc sĩ nổi tiếng cùng thời và cùng lứa tuổi với những nhạc sĩ khác như Duy Khánh, Lam Phương, Thanh Sơn, Trúc Phương …nhưng hầu như sau này ít ai còn nhớ đến tên của nhạc sĩ Thăng Long.

 Có lẽ vì đời sống của ông khá bình dị và ông thích kiếp sống giang hồ như những bài hát của ông sáng tác cách đây hơn 40 năm như Kiếp Giang Hồ, Giã Từ Gác Trọ, Trở Về Gác Trọ …

 Cuộc đời của ông thật quá phong trần. Vì ngay sau khi chào đời vào năm 1936 ở tỉnh Hải Dương, miền Bắc thì ông đã mồ côi mẹ . Năm 15 tuổi thì chàng thanh niên tên Nguyễn Văn Thành lại mồ côi cha.

 Một mình lưu lạc vào Nam, ông phải lang thang kiếm sống bằng cây đàn với một nhạc sĩ mù hát dạo khắp đô thành. Vậy mà năm 1963 ông đã thành trưởng ban của một ban nhạc mang tên Hồ Gươm, chuyên trình diễn trên đài phát thanh Tiếng Nói Quân Đội ở Sài Gòn với nhiều ca sĩ tên tuổi đương thời. …

 

 Nhìn tấm hình chụp của nhạc sĩ Thăng Long vào năm 1965 qua dáng dấp trẻ trung, nhưng đượm nét phong trần với túi hành lý quảy một bên vai và bên vai kia là cây đàn guitar rất nghệ sĩ. Nhưng không ngờ, cho đến bây giờ trong đoạn phim video clip, ông vẫn còn giữ lại cây đàn yêu quý như một tài sản độc nhất theo ông suốt hơn 40 năm nay.

 Không được may mắn như những nhạc sĩ khác cùng thời với ông (như Thanh Sơn, Nguyễn Ánh 9) có được một việc làm nơi chốn đô thành, nhạc sĩ Thăng Long phải về ẩn cư nơi vùng quê nghèo nàn của miền Tây là một làng nhỏ (Phú Lộc) của tỉnh Sóc Trăng. Thấy ông phải vất vả với số tuổi 70 để dạy từng bài học âm nhạc cho những thanh niên trong xóm, mà cảm xúc dâng trào, thương nhạc sĩ lão thành này quá đổi.

 Tuy vậy, khi được hỏi về bài hát “Quen Nhau Trên Đường Về” thì cặp mắt của nhạc sĩ Thăng Long sáng hẳn lên.

 Ông say mê nói về những cảm xúc của hơn 40 năm trước nơi bùng binh chợ Sài Gòn, với những âm thanh và hình ảnh của thời quá khứ xa xăm đã tạo nên nguồn cảm hứng để cho ông viết ra bài hát rất nổi tiếng này .

 Thật ngạc nhiên khi thấy tài năng độc đáo và cảm xúc đầy nghệ sĩ tính của người nhạc sĩ này, vì khi ngồi nghỉ chân nơi công viên, ông chỉ thoáng nghe một điệu kèn đám ma ò e như “ tàng tang tang táng tạng táng tang tàng tang …” mà cái làn hơi (air) đó, cộng với cảnh hẹn hò tâm sự bên nhau của đôi trai gái xa lạ, đã khiến ông tạo nên giai điệu mượt mà quyến rũ, giàu tình cảm quê hương với những lời ca như:

“Chiều này có phải anh ra miền Trung ..

Về thăm quê mẹ cho em về cùng

Rồi ta sẽ đi chung chuyến tàu

Về đến sông Hương núi Ngự

Để nhìn trăng soi cuối thôn …”

Ngoài ra khi thấy chàng quân nhân trẻ tuổi đang bịn rịn giã từ cô gái để đi về hướng nhà ga xe lửa chạy ra Trung phần, ông đã gởi gấm những lý tưởng và chí hướng thật cao đẹp cho chàng thanh niên trẻ ra đi phục vụ quê hương, giữ yên bờ cõi (đặt nợ nước trước tình nhà), với những lời ca như:

 Thương anh không phải vì “tình yêu” ..

không phải vì “sang giàu”

Mà vì “cùng chung chí hướng” …

Thương anh, thân dãi dầu nắng mưa

Băng rừng sâu núi đồi, mang về khúc hát “khải hoàn” …”

 Ôi những lời hát ngày xưa, sao nghe thật đậm đà và có quá nhiều ý nghĩa chân thành, tha thiết với giai điệu nhẹ nhàng êm ái mà cũng rất trữ tình, lãng mạn. Tất cả như quyện vào nhau giữa tình yêu đôi lứa và tình yêu mến quê hương đất nước.

 Không biết nơi quê nhà nhạc sĩ Thăng Long có dịp xem được chương trình Asia 55 trong DVD hay không ? Nhưng ở khắp mọi nơi, có lẽ đã có nhiều khán thính giả rưng rưng nước mắt cảm động khi lần đầu tiên được thấy và nghe tâm sự của ông và nhất là được thưởng thức giọng hát “vang tiếng một thời” của danh ca Minh Hiếu.

Đây là một tiết mục rất đặc sắc của chương trình Asia 55, được nhiều người chú ý và khen ngợi. Nhứt là việckết hợp bài hát đã một thời gắn liền với người “Hạ Sĩ Nhất Danh Dự” trong quân lực VNCH ngày nào với dàn nhạc đặc sắc của Trung Tâm Asia bên cạnh chiếc xe xích lô quen thuộc của đô thành Sài Gòn xa xưa.

 Giờ đây nơi quê nhà hẻo lánh, sống chuỗi ngày còn lại bên cây đàn mang theo bên mình suốt hơn 40 năm qua, không biết người “nhạc sĩ giang hồ” Thăng Long có biết được những bài hát của mình vẫn được trân trọng đón nhận và ghi khắc trong tâm tư của nhiều thế hệ người Việt lưu vong khắp nơi.

 —————————————–

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý ( 1925- ):

 Một trong những nhạc sĩ được phỏng vấn ở chương trình Asia 55 này đã để lại thật nhiều ấn tượng và nỗi bàng hoàng xúc động cho khán giả là nhạc sĩ lão thành Nguyễn Văn Tý. Cuộc đời của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý khá thăng trầm và nhiều lận đận từ những ngày còn trẻ cho đến lúc tuổi già xế bóng như hiện giờ . Trong đoạn video clip phỏng vấn ông vào năm 1995, chúng ta thấy nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý thật khoẻ mạnh, yêu đời và rất vui vẻ tâm sự về bài hát Dư Âm của ông sáng tác cách đây gần 60 năm với những kỷ niệm và những cảm xúc như mới vừa xãy ra và nhắc lại những lời ca êm ái mượt mà trong bài hát.

 Nhưng trong đoạn phim sau đó, khi gặp lại ông vào tháng 5 năm nay (2007), nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã tỏ ra thất vọng chán chường, và phát biểu những lời không ai có thể ngờ được như:

 

 “Tôi bây giờ phải nói thật với các bạn là tôi sống khổ, sống rất khổ, thiếu thốn mọi thứ …mà tôi trách cái xã hội … Tôi chỉ sống bằng tình thưong cảm của anh em bạn bè … Bạn bè đến thăm tôi, thấy tôi khổ …thì có bao nhiêu tiền móc ra cho tôi …Tôi quý những đồng tiền đó lắm …

 Có điều tôi muốn nói là … tôi nhận thấy không có chế độ nào bẩn thỉu như cái chế độ này. Nó coi người ta như rơm rác, nó không coi con người ra gì cả ..rơm rác…bẩn thỉu ….”

 Nghe mà lạnh mình. Tại sao vậy ?

Tại vì nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý là một nhạc sĩ đã có nhiều bài hát được trình diễn trong vài chục năm dài, kể từ tiền chiến và sau này như “Tiễn Anh Lên Đường, Người Đi Xây Hồ Kẻ Gỗ” …và trong quá khứ ông cũng đã được chế độ cộng sản ưu đãi so với nhiều văn nghệ sĩ khác.

Năm 2000 ông được trao tặng giải thưởng HCM về Văn Học cho các tác phẩm: “Mẹ Yêu Con, Bài Ca 5 Tấn, Tấm Áo Chiến Sỹ Mẹ Vá Năm Xưa, Một Khúc Tâm Tình Của Người Hà Tĩnh, Dáng Đứng Bến Tre …”.

Năm 2005 và 2006 ông đã được tôn vinh trong những “Đêm Vinh Danh Tác Phẩm Nguyễn Văn Tý”. Nhưng bây giờ ông lại trở nên bất mãn và không sợ hãi gì mà nói thật lòng mình cho những phóng viên từ nước ngoài trở về gặp ông tại nhà riêng của ông ở Sài Gòn.

 

 Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý sinh ngày 5 tháng 3 năm 1925 tại thành phố Vinh, Nghệ An. Thuở bé ông học ở trường Quốc Học Vinh và được một giáo viên người Pháp dạy cho những bài hát của Tino Rossi đang thịnh hành.

 Sau đó ông học nhạc lý với một linh mục người Tây Ban Nha và học đàn với một nhạc sĩ người Trung Hoa . Năm 1944 ông đi hát cho một phòng trà ở Vinh để kiếm sống.

 Năm sau, ông tham gia kháng chiến và hoạt động văn nghệ cho tỉnh Nghệ An trong lãnh vực nhạc và kịch. Năm 1948 ông công tác ở đoàn văn hoá tiền tuyến thuộc Quân Huấn Cục. Từ năm 1950, ông nhận nhiệm vụ đi xây dựng đoàn văn công của Sư đoàn 304 và làm trưởng đoàn.

Cuối năm 1950, khi về chơi ngang nhà người bạn ở huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An, ông đã viết bài Dư Âm để nói về cô em gái của người bạn này. Như chính lời kể của ông về lai lịch bài hát “Dư Âm”:

 “-Đây là một hình ảnh hoàn toàn có thực. Người con gái mà tôi yêu đó, ít hơn tôi gần 10 tuổi. Cho nên lúc đó gia đình cô không cho phép tiến tới hôn nhân.

 Người con gái đó đã phản ứng khi lần cuối cùng gặp nhau là nàng đợi đêm đến lúc trăng lên, mới ra sau nhà gội đầu, rồi ôm đàn ra hát.

 Đó là một cơn điên trong người nàng, như một phản ứng quyết liệt chống lại gia đình phong kiến. Và gửi cho tôi một lời thông điệp.

 Cho nên tôi ghi nhận hình ảnh đó một cách trọn vẹn. Đó cũng là hình ảnh tôi đã ấp ủ bấy nhiêu năm, và tôi vẫn coi đó như một nguồn cảm hứng để viết lên những lời ca trong bài Dư Âm.”

 Chính bài hát “Dư Âm” này đã khiến cho nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý bị đơn vị đưa ra kiểm điểm vì đã sáng tác một bài hát quá ủy mị, không hợp với thời toàn quốc đang kháng chiến lúc đó.

 Hầu như bài hát Dư Âm này bị cấm trình diễn ở miền Bắc trong nhiều năm dài và chỉ được phổ biến rộng rãi ở miền Nam tự do sau này.

 Năm 1951, ông giải ngũ và xin về làm việc ở Chi hội Văn nghệ Liên khu IV. Năm 1952, ông quen biết và sau đó lập gia đình với cô Bạch Lệ (là em gái của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương, tác giả bài “Đêm Đông”).

 Cuối năm 1957, ông cùng với Nguyễn Xuân Khoát, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Văn Cao được chỉ định thành lập Hội Nhạc Sĩ Việt Nam. Sau đó khi đang là ủy viên chấp hành khóa đầu tiên của hội thì xãy ra vụ án Nhân Văn-Giai Phẩm khiến cho những người bạn của ông như Văn Cao, Hoàng Cầm, Trần Dần phải bị kỹ luật, bị tù …

 Nên theo lời khuyên của Lưu Hữu Phước, ông tránh xa khỏi Hội Nhạc Sĩ này và xin đi nghiên cứu dân ca ở miền quê. Đầu năm 1961, ông được biệt phái về Hưng yên, thời gian này nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý đã viết một số ca khúc như Chim Hót Trên Đồng Đay, Dòng Nước Quê Hương (1963), Tiễn Anh Lên Đường (1964).

 Năm 1975, ông chuyển về Viện Nghiên Cứu Âm Nhạc, thuộc Bộ Văn Hóa, cơ sở II tại thành phố HCM. Trong khoảng thập niên 1990 ông vẫn sáng tác nhiều, khoảng hơn 20 bài, nhưng không có bài nào nổi tiếng.

 Vào năm 2004, lúc được 79 tuổi, ông bị tắc ngẽn mạch máu não 2 lần và bị liệt hai lần, nhưng dần dần hồi phục. Vì vậy, chúng ta mới nghe được những lời phát biểu và nhận xét thật xác đáng của ông về chế độ CS hiện nay ở trong nước.

 Với số tuổi đời hơn 82 nhưng thần trí của ông vẫn còn rất sáng suốt, dù nhạc sĩ lão thành phải than là “giờ đang sống rất khổ” như mọi người đã thấy trong Asia 55. (Chắc chắn là đoạn phim phỏng vấn này ít ai ở trong nước có thể xem được?)

 Trên đây là sơ lược về những mảnh đời có thể nói là khá bất hạnh của vài nhạc sĩ đã được phỏng vấn trong chương trình Asia 55. Bất hạnh vì họ đã sớm lìa trần hay vẫn còn đang sống cuộc đời cơ cực nơi quê nhà trong quên lãng của biết bao nhiêu người đã và đang thưởng thức những bài ca của họ.

Có lẽ nhiều người trong chúng ta đang ngậm ngùi chua xót cho những nhạc sĩ kém may mắn này và băn khoăn tự hỏi mình phải làm gì để tỏ lòng tri ân cho những cống hiến tuyệt vời của họ?

14 comments on “Những Nhạc Sĩ Vô Cùng Bất Hạnh

  1. “Tha La xóm đạo” và “Hoa trắng thôi cài lên áo tím”
    Mặc Lâm, biên tập viên RFA
    2011-12-24

    Chương trình Văn học Nghệ thuật kỷ này giới thiệu 2 bài thơ nổi tiếng của Vũ Anh Khanh và Kiên Giang Hà Huy Hà.

    Photo courtesy of http://www.tieulam.com

    Nhà thờ Họ Đạo Tha La

    Cho tới nay thân thế của nhà văn Vũ Anh Khanh vẫn còn là một bí ẩn người ta chỉ biết ông tên thật là Võ Văn Khanh, sanh năm 1926 tại Mũi Né, quận Hải Long, tỉnh Bình Thuận. Trong giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1950, Vũ Anh Khanh là một cây bút chuyên viết truyện ngắn và tiểu thuyết.

    Tác phẩm của ông gồm truyện dài như Nửa Bồ Xương Khô, Bạc Xíu Lìn, Cây Ná Trắc và các truyện ngắn như Đầm Ô Rô, Sông Máu, Bên Kia Sông… Tuy nhiên bài thơ “Tha La xóm đạo” mới làm cho rất nhiều người nhớ đến tên tuổi của ông mãi tận sau này.

    Xóm đạo Tha La nằm tại xã An Hòa, huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh. Xóm đạo này được thành lập vào khoảng năm 1863 nhờ sự cho phép và khuyến khích của người Pháp.

    Mặc dù họ đạo Tha La phát triển ngày một mạnh mẽ và vững vàng nhưng người Công giáo Tha La đã phản ứng khi thực dân Pháp ngày một lộ rõ dã tâm khống chế toàn bộ đất nước.

    Mùa Thu năm 1945 thanh niên Tha La tham gia phong trào kháng chiến ở đất Nam Kỳ và trong chính thời điểm này, nhà thơ Vũ Anh Khanh trong một lần thăm Tha La đã cảm tác tinh thần chống ngoại xâm ấy để bài thơ “Tha La xóm đạo” ra đời.

    Vũ Anh Khanh có lẽ là một nhà văn có cuộc đời ngắn ngủi và số phận hẩm hiu nhất trong các nghệ sĩ cùng thời. Ông không được cả hai chế độ miền Nam và miền Bắc thừa nhận tài năng vì các hoạt động chính trị phát xuất từ lòng yêu nước.

    Vũ Anh Khanh tập kết ra Bắc năm 1954, bị chính quyền miền Nam kết tội là cộng sản do đó suốt thời gian1955-1975, tác phẩm của ông bị cấm không được tái bản, lưu hành, và ngay cả không có tên trong chương trình giáo dục như Huy Cận, Xuân Diệu, Chế Lan Viên …

    Theo tiết lộ của ông Võ Hồng Cương, Cục phó Cục Tuyên Huấn quân đội nhân dân Việt Nam thì vào năm 1956, Vũ Anh Khanh được nghỉ phép ở Vĩnh Phúc nhưng ông đã sửa giấy phép thành Vĩnh Linh Quảng Trị để từ đó vượt tuyến, bơi qua sông Bến Hải vào Nam tìm tự do.

    Khi sắp vào được bờ bên kia thì bị phát hiện, bộ đội miền Bắc dùng tên có tẩm thuốc độc bắn chết. Lý do bộ đội phải dùng cung vì để tránh bị Ủy ban quốc tế làm biên bản vi phạm Hiệp định ngưng bắn. Cái chết của ông là một bi kịch cho những con người yêu nước trong một giai đoạn đen tối của lịch sử cận đại.

    Bài thơ “Tha La xóm đạo” của Vũ Anh Khanh đi vào lòng người bao nhiêu năm qua phải nói là có sự đóng góp của hai nhạc sĩ Dũng Chinh và Sơn Thảo. Hai nhạc sĩ này đã phổ bài thơ thành hai ca khúc: “Tha La xóm đạo” và “Hận Tha La” khiến cho bài thơ lan rộng vào quần chúng.

    “Tha La xóm đạo” được nhạc sĩ Dũng Chinh, cũng là người Phan Thiết phổ nhạc vào năm 1964 , sau đó một năm nhạc sĩ Sơn Thảo phổ thành bài hát mang tên “Hận Tha La” và cũng trong năm này nhạc sĩ Anh Tuyền phổ thành ca khúc mang tên “Vĩnh Biệt Tha La”.

    Ngoài ra soạn giả cải lương nổi tiếng Viễn Châu cũng đã phỏng theo ý tưởng Vũ Anh Khanh để viết ca khúc tân cổ giao duyên “Tha La xóm đạo.

    Bài thơ “Tha La xóm đạo” còn lưu hành tới ngày nay ngoài giá trị nghệ thuật nó còn có tác dụng nhắc nhở cho cả dân tộc về những ngày đau buồn đó.

    “Tha La xóm đạo”

    Đây “Tha La xóm đạo”
    Có trái ngọt cây lành
    Tôi về thăm một dạo
    Giữa mùa nắng vàng hanh.

    Ngậm ngùi Tha La bảo:
    – Đây rừng xanh rừng xanh
    Bụi đùn quanh ngõ vắng,
    Khói đùn quanh nóc tranh.
    Gió đùn quanh mây trắng,
    Và lửa loạn xây thành.

    – Viễn khách ơi!
    Hãy dừng chân cho hỏi,
    Nắng hạ vàng ngàn hoa gạo rưng rưng.
    Đây Tha La, một xóm đạo ven rừng,
    Có trái ngọt, cây lành, im bóng lá,
    Con đường đỏ bụi phủ mờ gót lạ.
    Ngày êm êm lòng viễn khách bơ vơ!
    Về chi đây? Khách hỡi? Có ai chờ?
    Ai đưa đón?

    – Xin thưa, tôi lạc bước!
    Không là duyên, không là bèo kiếp trước,
    Không có ai chờ, ai đón tôi đâu!

    Rồi quạnh hiu, khách lặng lẽ cúi đầu,
    Tìm hoa rụng lạc loài bên vệ cỏ,
    Nhìn cánh hoa bay ngẩn ngơ trong gió,
    Gạo rưng rưng, nghìn hoa máu rưng rưng.
    Nghìn cánh hoa rơi, lòng khách bỗng bâng khuâng.

    Tha La hỏi:
    – Khách buồn nơi đây vắng?

    Không, tôi buồn vì mây trời đây trắng!
    – Và khách buồn vì tiếng gió đang hờn?

    Khách nhẹ cười, nghe gió nổi từng cơn,
    Gió vi vút, gió rợn rùng, gió rít.
    Bỗng đâu đây vẳng véo von tiếng địch:

    Thôi hết rồi còn chi nữa Tha La!
    Bao người đi thề chẳng trở lại nhà.
    Nay đã chết giữa chiến trường ly loạn!

    Tiếng địch càng cao, não nùng ai oán,
    Buồn trưa trưa, lây lất buồn trưa trưa,
    Buồn xưa xưa, ngây ngất buồn xưa xưa,
    Lòng viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh.
    Khách rùng mình, ngẩn ngơ lòng hiu quạnh.

    – Thôi hết rồi! Còn chi nữa Tha La!
    Đây mênh mông xóm đạo với rừng già.
    Nắng lổ đổ rụng trên đầu viễn khách.
    Khách bước nhẹ theo con đường đỏ quạch,
    Gặp cụ già đang ngóng gió bâng khuâng.

    – Kính thưa cụ, vì sao Tha La vắng?
    Cụ ngạo nghễ cười rung rung râu trắng,
    Nhẹ bảo chàng:
    ” Em chẳng biết gì ư?
    Bao năm qua khói loạn phủ mịt mù!
    Người nước Việt ra đi vì nước Việt.
    Tha La vắng vì Tha La đã biết,
    Thương giống nòi đau đất nước lầm than. ”

    Trời xa xanh, mây trắng nghẹn ngàn hàng,
    Ngày hiu quạnh. Ờ.. ơ.. hơ tiếng hát.
    Buồn như gió lướt lạnh dài đôi khúc nhạc.

    Tiếng hát rằng:
    Tha La giận mùa thu,
    Tha La hận quốc thù,
    Tha La hờn quốc biến,
    Tha La buồn tiếng kiếm,
    Não nùng chưa!
    Tha La nguyện hy sinh.

    Ơ.. ơ.. hơ.. có một đám chiên lành.
    Quỳ cạnh Chúa một chiều xưa lửa dậy.
    Quỳ cạnh Chúa, đám chiên lành run rẩy:

    Lạy Đức Thánh Cha!
    Lạy Đức Thánh Mẹ!
    Lạy Đức Thánh Thần!
    Chúng con xin về cõi tục để làm dân…
    Rồi… cởi trả áo tu.
    Rồi… xếp kinh cầu nguyện.
    Rồi… nhẹ bước trở về trần…

    Viễn khách ơi! Viễn khách ơi!
    Người hãy dừng chân.
    Nghe Tha La kể, nhưng mà thôi khách nhé!
    Đất đã chuyển rung lòng bao thế hệ.
    Trời Tha La vần vũ đám mây tan.
    Vui gì đâu mà tâm sự?
    Buồn làm chi mà bẽ bàng?

    Ơ… ơ… hơ… ờ… ơ… hơ… tiếng hát
    Rung lành lạnh ngâm trầm đôi khúc nhạc.
    Buồn tênh tênh, não lòng lắm khách ơi!
    Tha La thương người viễn khách đi thôi!

    Khách ngoảnh mặt nghẹn ngào trông nắng đổ,
    Nghe gió thổi như trùng dương sóng vỗ
    Lá rừng cao, vàng rụng lá rừng bay…
    Giờ khách đi. Tha La nhắn câu này:

    – Khi hết giặc, khách hãy về thăm nhé!
    Hãy về thăm xóm đạo
    Có trái ngọt cây lành.
    Tha La dâng ngàn hoa gạo,
    Và suối mát rừng xanh.

    Xem đám chiên lành thương áo trắng.
    Nghe mùa đổi gió nhớ quanh quanh.

    kien-giang-170.jpg
    Thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà. Photo courtesy of ‘Một thời Sài Gòn’.
    Có thể cảm hứng từ khung cảnh của xóm đạo Tha La đã lan sang thi sĩ Kiên Giang Hà Huy Hà vì thế vào năm 1958 ông đã cho ra đời bài thơ nổi tiếng khác đó là bài “Hoa trắng thôi cài lên áo tím”.

    Bài thơ có nội dung của một chuyện tình dang dở lấy khung cảnh chiến tranh trong xóm đạo làm nền. Câu chuyện tình buồn này đã làm cho danh tiếng của nhà thơ Kiên Giang đi vào lòng người đọc mãi tới ngày nay.

    Kiên Giang Hà Huy Hà tên thật là Trương Khương Trinh, ông sinh năm 1927 tại Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang. Ông còn là soạn giả tuồng cải lương nổi tiếng qua nghệ danh Hà Huy Hà.

    Từ năm 1955 Kiên Giang Hà Huy Hà xuất hiện nhiều trên văn đàn Sài Gòn. Không những làm thơ, soạn tuồng cải lương ông còn là một ký giả kịch trường nổi tiếng cho các tờ báo Tiếng Chuông, Tiếng Dội, Lập Trường, Điện Tín, Tia Sáng.

    Các tác phẩm cải lương của soạn giả Hà Huy Hà không thể quên là “Áo cưới trước cổng chùa”, “Người vợ không bao giờ cưới” rồi “Sơn Nữ Phà ca”…

    Chính tác phẩm “Người vợ không bao giờ cưới” đã đưa nữ nghệ sĩ Thanh Nga đoạt giải thưởng Thanh Tâm và từ đó Thanh Nga trở thành một ngôi sao trong giới nghệ sĩ cải lương.

    “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” ngay sau khi xuất hiện giới sinh viên học sinh của miền Nam trong thập niên 60-70 đã đón nhận bài thơ ngoài sự tưởng tượng của nhà xuất bản và của chính tác giả.

    “Hoa trắng thôi cài trên áo tím” được giới trẻ chuyền tay nhau và không ít người thuộc lòng bài thơ cho dù vài chục năm sau đó.

    Chất lãng mạn thường thấy của Thơ Mới, lồng trong bối cảnh chiến tranh tại miền Nam và dư âm của câu chuyện “Tha La xóm đạo” đã khiến bài thơ nổi lên như một nguồn cảm hứng mới cho thanh niên thời bấy giờ.

  2. Tha La Xóm Đạo

    Đây suối rừng xanh đồn quanh
    Đây mây trắng nghìn hoa với cây lành
    Còn gì viễn khách về đây chi hỡi người
    Đất Việt giặc tràn lan. Biết Tha La hận căm

    Nhẹ bước gặp cụ già, ngạo nghễ đang ngóng gió
    Em chẳng biết gì ư. Cười run run dấu trắng
    Đã từ bao năm qua khói loạn khu mịt mù
    Khách về chi đây, nghe tiếng hát khách hận do đây buồn
    Tiếng hờn ai oán, cời ra áo một chiều thu lửa dậy

    Nghe não nùng chưa,
    Tha La buồn tiên kiếp, Tha La giận mùa thu
    Ôi khi hết giặc xong
    Hãy về thăm Tha La có trái ngọt cây lành
    Cây lá ngẩn ngơ nằm trên nghìn hoa máu làm hoen cả ven rừng
    Lòng người viễn khách bỗng dưng tê tái lạnh với rừng già mong manh
    Đám mây tan phủ quanh, trời tối về bàng hoàng
    Lạnh dài đôi khúc hát
    Vang giữa chiến trường xa, giặc đang gieo tan tóc
    Từng đoàn trai ra đi đã thề chẳng về nhà”

  3. Người yêu nếu ra đi, một hôm nắng lên cao
    Xin hãy mang đi theo, cả mây trắng trong veo

    Lời chim hót mang đi, cùng tia nắng xôn xao
    Ngày ta mới yêu nhau, tình ta mới dâng cao

    Ngày sao thấy đi mau, và đêm vắng đêm sâu
    Trăng sáng như nâng niu, loài chim hót đêm thâu

    Người yêu nếu ra đi
    Người yêu nếu chia lìa
    Người yêu nếu ra đi

    Người mà không đi, người tình tôi còn đó
    Sẽ thấy tôi còn đây, yêu nhau như ngày qua

    Cùng vầng dương lên, cùng làn mây lả lướt
    Nói với lá cây xanh theo làn gió bay quanh
    Người mà xa vắng, tôi sẽ vẫn còn
    Còn vương vấn hương người
    Đời đời khó phai

    Người yêu nếu ra đi
    Nhười yêu nếu chia lìa
    Người yêu nếu chia lìa
    Người yêu nếu ra đi
    Người yêu sẽ ra đi
    Xin trái đất lang thang
    Đừng quay nữa nghe không
    Để có lẽ thương tâm
    Người yêu sẽ quay chân
    Người có biết con tim
    Rồi tim sẽ êm êm
    Ngừng nghe tiếng trăm năm
    Người yêu sẽ xa xăm
    Tôi chết êm trong đêm
    Chờ nghe tiếng yêu vang
    Người yêu nếu ra đi
    Người yêu nếu chia lìa
    Người yêu nếu ra đi.

  4. Ok, tui không biết thằng cha Nguyễn Trung này là ai, nhưng ông này viết bài này có mục đi’ch bôi bác Ba tôi và cả gia đình tui, nên tôi phải lên tiếng.

    1- Ba tui sanh năm 1933

    2- Ba tui không bao giờ uống rượu .

    3- Ba tui lấy Má tui trong những năm cuối 50, năm nay tui củng 5 bó rồi, hehe

    4- Má tui con nhà giáo, gia đình củng khá, nhưng nhà ở Bến Tre

    5- Chiều Làng Em là bài Ông viết cho Má tui .

    6- Ô via tui không phải tự học nhạc, mà có thầy dạy đàng hoàng .
    7- Xung quanh nhà bà nội tui không hề có tre trúc gì ráo, nhà Má tui thì có .

    8- Gia đình tui củng không nghèo, Ba tui thường lái Mazda và Peugeos(?) 404 . Thời xưa củng có thời khó khăn, lúc Ông còn viết nhạc, nhưng sau này Ba Má tôi làm ăn thì củng khá lắm . Khi giải phóng vào, thì có hơi sa sút . Nhưng đó là tình trạng chung của tất cả dân miền Nam, thời bao cấp .

    9- Gia đình tôi có tới 6 anh chị em, có nghĩa là Ba và Má tôi chung sống củng khá lâu . Họ ly dị vào khỏang năm79 .

    10- Nguyễn Trung viết rằng khi ông qua đời gia tài chỉ còn đôi dép là nói LÁO . Ông không giàu có gì, nhưng củng không đến nổi thê thảm như vậy . Tôi đã từng về thăm ông 3 tháng trước khi ông mất cho thấy điều này ông Trung quá boibác gia đình chúng tôi . Nói như thế có nghĩa là các con của ông không hề quan tâm tới ông . Điều này KHÔNG ĐÚNG sự thật . Chúng tôi lúc nào củng quan tâm đến ông .

    Cái bài lá cải này, Nguyễn Trung không biết rất nhiều chi tiết nhưng đã viết như chính Trung là nhân vật chính . Đọc bài này xong tôi rất là bất bình vì có quá nhiều chi tiết không đúng sự thật mà có quá nhiều người đọc . Đến nổi Việt Dzũng trung tâm Asia củng lấy bài này làm tài liệu và củng có lên trên Asia nói rằng khi Ba tôi mất, O^ngchỉ còn đôi dép . VD còn nói rằng đám ma Ba tôi, phải nhờ bạn bè quyên góp để làm mộ cho Ông . Điều này củng không đúng . Gia đình chúng tôi đã chôn cất Ông đàng hoàng mà chưa từng lấy 1 Đồng tiền phúng điếu cuả ai cả . Đây là điều không công bằng với Má tôi vì tôi có đọc vài bài, họ tả Má tôi như là 1 ngời đàn bà không đàng hoàng . Thực sự Má tôi đã từng khổ vì Ba tôi tánh hay bay bướm, họ ly dị vì chính nguyên nhân này .

    Trúc Linh

    Ok, tui không biết thằng cha Nguyễn Trung này là ai, nhưng ông này viết bài này có mục đi’ch bôi bác Ba tôi và cả gia đình tui, nên tôi phải lên tiếng.

    1- Ba tui sanh năm 1933

    2- Ba tui không bao giờ uống rượu .

    3- Ba tui lấy Má tui trong những năm cuối 50, năm nay tui củng 5 bó rồi, hehe

    4- Má tui con nhà giáo, gia đình củng khá, nhưng nhà ở Bến Tre

    5- Chiều Làng Em là bài Ông viết cho Má tui .

    6- Ô via tui không phải tự học nhạc, mà có thầy dạy đàng hoàng .
    7- Xung quanh nhà bà nội tui không hề có tre trúc gì ráo, nhà Má tui thì có .

    8- Gia đình tui củng không nghèo, Ba tui thường lái Mazda và Peugeos(?) 404 . Thời xưa củng có thời khó khăn, lúc Ông còn viết nhạc, nhưng sau này Ba Má tôi làm ăn thì củng khá lắm . Khi giải phóng vào, thì có hơi sa sút . Nhưng đó là tình trạng chung của tất cả dân miền Nam, thời bao cấp .

    9- Gia đình tôi có tới 6 anh chị em, có nghĩa là Ba và Má tôi chung sống củng khá lâu . Họ ly dị vào khỏang năm79 .

    10- Nguyễn Trung viết rằng khi ông qua đời gia tài chỉ còn đôi dép là nói LÁO . Ông không giàu có gì, nhưng củng không đến nổi thê thảm như vậy . Tôi đã từng về thăm ông 3 tháng trước khi ông mất cho thấy điều này ông Trung quá boibác gia đình chúng tôi . Nói như thế có nghĩa là các con của ông không hề quan tâm tới ông . Điều này KHÔNG ĐÚNG sự thật . Chúng tôi lúc nào củng quan tâm đến ông .

    Cái bài lá cải này, Nguyễn Trung không biết rất nhiều chi tiết nhưng đã viết như chính Trung là nhân vật chính . Đọc bài này xong tôi rất là bất bình vì có quá nhiều chi tiết không đúng sự thật mà có quá nhiều người đọc . Đến nổi Việt Dzũng trung tâm Asia củng lấy bài này làm tài liệu và củng có lên trên Asia nói rằng khi Ba tôi mất, O^ngchỉ còn đôi dép . VD còn nói rằng đám ma Ba tôi, phải nhờ bạn bè quyên góp để làm mộ cho Ông . Điều này củng không đúng . Gia đình chúng tôi đã chôn cất Ông đàng hoàng mà chưa từng lấy 1 Đồng tiền phúng điếu cuả ai cả . Đây là điều không công bằng với Má tôi vì tôi có đọc vài bài, họ tả Má tôi như là 1 ngời đàn bà không đàng hoàng . Thực sự Má tôi đã từng khổ vì Ba tôi tánh hay bay bướm, họ ly dị vì chính nguyên nhân này .

    Trúc Linh

  5. Ok, tui không biết thằng cha Nguyễn Trung này là ai, nhưng ông này viết bài này có mục đi’ch bôi bác Ba tôi và cả gia đình tui, nên tôi phải lên tiếng.

    1- Ba tui sanh năm 1933

    2- Ba tui không bao giờ uống rượu .

    3- Ba tui lấy Má tui trong những năm cuối 50, năm nay tui củng 5 bó rồi, hehe

    4- Má tui con nhà giáo, gia đình củng khá, nhưng nhà ở Bến Tre

    5- Chiều Làng Em là bài Ông viết cho Má tui .

    6- Ô via tui không phải tự học nhạc, mà có thầy dạy đàng hoàng .
    7- Xung quanh nhà bà nội tui không hề có tre trúc gì ráo, nhà Má tui thì có .

    8- Gia đình tui củng không nghèo, Ba tui thường lái Mazda và Peugeos(?) 404 . Thời xưa củng có thời khó khăn, lúc Ông còn viết nhạc, nhưng sau này Ba Má tôi làm ăn thì củng khá lắm . Khi giải phóng vào, thì có hơi sa sút . Nhưng đó là tình trạng chung của tất cả dân miền Nam, thời bao cấp .

    9- Gia đình tôi có tới 6 anh chị em, có nghĩa là Ba và Má tôi chung sống củng khá lâu . Họ ly dị vào khỏang năm79 .

    10- Nguyễn Trung viết rằng khi ông qua đời gia tài chỉ còn đôi dép là nói LÁO . Ông không giàu có gì, nhưng củng không đến nổi thê thảm như vậy . Tôi đã từng về thăm ông 3 tháng trước khi ông mất cho thấy điều này ông Trung quá boibác gia đình chúng tôi . Nói như thế có nghĩa là các con của ông không hề quan tâm tới ông . Điều này KHÔNG ĐÚNG sự thật . Chúng tôi lúc nào củng quan tâm đến ông .

    Cái bài lá cải này, Nguyễn Trung không biết rất nhiều chi tiết nhưng đã viết như chính Trung là nhân vật chính . Đọc bài này xong tôi rất là bất bình vì có quá nhiều chi tiết không đúng sự thật mà có quá nhiều người đọc . Đến nổi Việt Dzũng trung tâm Asia củng lấy bài này làm tài liệu và củng có lên trên Asia nói rằng khi Ba tôi mất, O^ngchỉ còn đôi dép . VD còn nói rằng đám ma Ba tôi, phải nhờ bạn bè quyên góp để làm mộ cho Ông . Điều này củng không đúng . Gia đình chúng tôi đã chôn cất Ông đàng hoàng mà chưa từng lấy 1 Đồng tiền phúng điếu cuả ai cả . Đây là điều không công bằng với Má tôi vì tôi có đọc vài bài, họ tả Má tôi như là 1 ngời đàn bà không đàng hoàng . Thực sự Má tôi đã từng khổ vì Ba tôi tánh hay bay bướm, họ ly dị vì chính nguyên nhân này .

    Trúc Linh

    • “ba tôi” tên gì vậy ???
      Tên Nguyễn ba Tôi hay Trần Ba Tôi ??
      Đính chánh như thế này thì ai hiểu ?? Chỉ figure out nhờ đôi dép mà thôi, yêu cầu viết lại rồi tôi sẽ đăng bài đính chính,
      Thân ái,
      Chau Xuan Nguyen

      • Sorry anh Chau, I didnt realize that. Thank you for pointing it out.
        My Dad was Nhac Si Truc Phuong. Normally I posted this right after the single article about my Dad, so there is no confusing, but I forgot that there are more people in the whole article.
        And I don’t know how to delete the double post. Can you help ?

      • Does not matter, just leave the comments like that, I will remove that section about ur Dad.
        Just write a new one.
        I admired you defending the honour of your Dad, I am sure he is smiling in heaven to know that you are defending him now,
        Thanks and regards,
        Chau Xuan Nguyen

  6. Cam on anh Chau, here is an article about Nhac Si Truc Phuong which I like, hope you and others like it, too

    NHỚ VỀ TRÚC PHƯƠNG
    Bài của: Lâm Thanh

    Trúc Phương là một nhạc sĩ gốc Trà Vinh. Tôi cũng là dân TràVinh. Ðó là lý do đầu tiên khiến tôi ghi lại mấy dòng sau đây. Hơn nữa, tôi rất thích âm nhạc. Tôi mê nghe ca hát, đủ thứ, từ cổ cho tới tân, từ hát bội, dù kê, cải lương cho tới những nhạc khúc cũ hay mới; tâm hồn tôi mẫn cảm với tiếng hát, điệu ru, giọng hò, tiếng trống tiếng kèn cho tới tiếng đờn giọng ngâm.v.v. Ðó là lý do thứ hai thúc đẩy tôi ghi lại đây một số ca khúc của Trúc Phương (TP), gọi là chút gì để tưởng nhớ một nhạc sĩ đồng hương, người đã một thời góp phần làm phong phú tình cảm của chúng ta. Sau đây chỉ là vài cảm tưởng về một số bài ca mà tôi còn nhớ, với tư cách một thính giả, có thể chủ quan hay phiến diện, cho nên rất hoan hỷ đón nhận mọi phê bình và góp ý từ bất cứ vị nào. Tôi xin chia bài viết này làm 2 phần:

    1- Một số ca khúc sót lại trong ký ức
    2- Chút cảm nghĩ về nhạc TP

    1- Những ca khúc đáng nhớ của Trúc Phương:

    Chúng ta hãy cùng nhau dành chút thì giờ để cho tâm hồn thanh thản và hướng về vườn hoa văn nghệ muôn màu, muôn sắc của miền Nam nước Việt ngày nào, thời thập niên 60, 70 của thế kỷ vừa qua, chúng ta sẽ bắt gặp những cánh hoa tươi đẹp mà nhạc sĩ TP đã góp phần tô điểm. Tôi còn nhớ được một số. Ghi lại đây có gì sai thì xin nhờ bổ túc hay sửa dùm. Xin mời các bạn cùng tôi lần về đường mòn kỷ niệm..

    “Lòng buồn dạt dào nhớ hôm nào xuôi miền Trung chuyến xe đêm tôi gặp em. Môi em đang xuân, đôi mắt buồn ngấn lệ trần. Chuyện đời sầu đắng vấn vương đôi má dịu hiền, áo em màu tím. Ðậm đà vì là buổi ban đầu.. Khi chân đến quê em nắng ban mai hôn nhẹ lên khóm hoa tươi. Thoáng thấy em cười vì mùa thương vừa chắp nối, vẫn biết phút bên nhau sẽ khơi buồn một ngày về…” trong “Hai chuyến tàu đêm”. Ở cái thời yên bình có xe lửa xuôi ngược Trung Nam còn nảy sinh nhiều bài hát như “Ga chiều, Chuyến xe lửa mùng năm, Chuyến tàu hoàng hôn, Hồi còi tiễn biệt”.. và TP có thêm “Tàu đêm năm cũ”: “Trời đêm dần tàn, tôi đến sân ga đưa tiễn người trai đi về ngàn. Tàu cũ năm xưa mang người tình biên khu về chưa?..” Cái ưu điểm của miền Nam là văn nghệ phát triển hết sức tự do, những nhạc sĩ rất thoải mái trong việc sáng tác. Nhạc Trúc Phương, bên cạnh những bản viết về quê hương, về người lính, còn ghi lại biết bao cuộc tình lãng mạn ướt át nồng nàn. Nửa đêm ngoài phố lang thang, tình cờ làm quen một người con gái lạ, rồi để lòng vương vấn mãi: “Buồn vào hồn không tên, thức giấc nửa đêm nhớ chuyện xưa vào đời. Ðường phố vắng đêm nao quen một người..” hoặc “Trở lại chuyện hai chúng mình. Khi em với anh…” làm quen, hẹn hò cùng nhau đi tới mòn lối, khiến nó trở thành “Con đường mang tên em”. Cũng có những lúc cô đơn, rút về nhốt mình nơi nhà trọ, nhưng Ðêm gác trọ chỉ nói lên nỗi buồn bâng quơ có vương chút phấn chấn nhờ thể điệu Tango, mà TP ít khi dùng trong hầu hết các nhạc phẩm của mình. Rồi có lúc người yêu xưa tìm đến, cùng nhau ôn chuyện cũ, nhắc lại Chuyện ngày xưa, được ghi lại như sau: “Hôm nào em đến thăm, mà quên mang tiếng cười, lặng yên không nói. Hai mươi tuổi đời qua mất rồi.. (ÐK):Thôi em nhé, xin trả về niềm cô đơn trước, cho anh bước xuôi ngược, khi hai chúng mình, vòng tay trót buông xuôi, dù gặp nhau ta cúi mặt bước mà đi ”. Ðây là bản nhạc đặc biệt nhứt vì vài năm sau, khoảng 1965, TP đã đặt lời ca thứ 2 và sửa cái tên thành bài Trên 4 vùng chiến thuật. Bạn nào biết cái e của bài này (Tôi thường đi đó đây,..) thì xin hát thử đoạn cuối tôi xin ghi lại, thấy tuy 2 mà một: “Em về trong bóng đêm. Ðường khuya loang ánh đèn. (Vì) Lửa thương chưa tắt. Nên em để lại hương tóc dại. Cho người yêu năm trước phút vui xưa. Trở về mộng mơ”.

    Tâm hồn TP như luôn vương vấn điều gì u uất cho nên hầu hết nhạc ông lúc nào cũng có âm điệu buồn buồn. Ta thử ca lại vài bài nhạc tình khác, như Buồn trong kỷ niệm: “Ðường vào tình yêu có trăm lần vui có vạn lần buồn. Ðôi khi nhầm lỡ đánh mất ân tình cũ…(đoạn kế) Mình vào đời nhau lúc môi còn non, tuổi mộng vừa tròn. Hương thơm làn tóc, nước mắt chưa lần khóc.Ðến nay thì đã, đắng cay nhiều quá. Thơ ngây đi mất trong bước buồn giờ mới hay..” Dường như hình ảnh người tình trong nhạc TP không phải là của một người, nhưng tất cả đã xa. “Ai cho tôi tình yêu, của ngày thơ ngày mộng. Tôi xin dâng vòng tay mở rộng, để đón người đi vào tim tôi bằng môi trên bờ môi..” Thế nhưng không biết đã yêu thương được bao lâu thì TP lại “Xin giã biệt bạn lòng ơi, trao trả môi người cười. vì Hai lối mộng hai hướng trông. Mình yêu nhau chưa trót. Thì chớ mang nỗi buồn theo bước đời. Cho dù chưa lần nói…thì đành xa nhau. Ðể chốn nao với chiều mưa gió lộng. Ta dừng vui bến mộng… Bao lần đi, gối mõi chân mòn. Tâm tư nặng vai gánh, đường trần cho đến nay, chỉ còn, bờ mi khép kín. Giấc ngủ nào tìm quên? Giấc ngủ nào gọi tên?.” Ðôi khi ông có chút cay đắng cho Thói đời, vì Người yêu ta rồi cũng xa ta nhưng không oán trách người mà chỉ than thân một mình. Những Chiều cuối tuần đã xa: “Hôm nao tôi lên đường phố cũ, chiều xưa, lần hẹn hò. Trao nhau, niềm vui cuối tuần…” Trên gác nhỏ, cô đơn, trằn trọc: “Ðêm chưa ngủ, nghe ngoài trời đổ mưa từng hạt rơi. Gác nhỏ đèn le lói bóng dáng ai trên tường loang…” Trong lúc Mưa nửa đêm: “Ai biết ai vì đời, cùng ngược xuôi chung lối mòn. Ngày tôi hai mươi tuổi, em đôi tám trăng tròn. Ðêm lạnh còn nghe chăn gối lẽ nằm thao thức…” nhớ về Bóng nhỏ đường chiều, chỉ còn là kỷ niệm: “Ta đến nơi hẹn hò, cùng gặp nhau trên phố nhỏ. Ta nhẹ dìu nhau trong tiếng thở..” Trong cuộc chiến tự vệ miền Nam, hầu hết những người của lứa tuổi đôi mươi đều tham gia và dự p hần vào, TP cũng tòng quân.

    Tâm trạng người chiến binh thay đổi, ngày càng nặng nề hơn theo đà của cuộc chiến. Ban đầu, tình cảm của anh tân binh quân dịch được ghi như sau: “Quê em nắng vàng nhạt cô thôn. Vài mây trắng vật vờ nơi cuối trời. Bâng khuâng tiếng hò qua xóm vắng. Khói lam buồn như muốn ngừng thời gian. Một chiều anh mới đến. Nắng vàng hoe ngát bên thềm”người trai xa lạ cảm thấy “mắt em nhìn nói ngàn câu. Nhớ mãi mấy tình của mẹ quê nâu sồng, của người em mơ mộng. Rồi chiều vàng ngát mênh mông. Là chiều ngày ấy sang sông. Em chờ trông… Anh ơi nhớ về thăm thôn xưa. Ðể nghe tiếng ngọt ngào ru bóng dừa. Xa xuôi bước người trai lữ thứ. Nhớ thương hoài câu hát Chiều làng em.” Trên đường luân chuyển, có khi qua chuyến Ðò chiều, trên sông vắng: “Một chiều nào trên bến cô liêu. Nắng hoang sơ tiêu điều. Giọng hát vui sông chiều. Ðò của người thôn nữ. Chờ đưa người viễn xứ. Ði muôn nơi xa xôi. Xây hướng cuộc đời. Rộn ràng lòng cô gái đôi mươi. Thắm trên môi nụ cười. Nhìn toán quân qua rồi. Chợt thấy lòng xao xuyến. Và tâm hồn lưu luyến. Trông anh trai muôn phương, em thấy mà thương! Ai biết ai hay mắt đợi mắt chờ, nhớ anh nhớ từ dạo ấy…” Cái tình thôn nữ, dân quân cá nước thật nhẹ nhàng êm đẹp. Nhưng chẳng bao lâu sau, giặc tràn từ Bắc vô càng ngày càng đông. Biết bao cảnh xa cách, biệt ly. Bạn bè trước ngày chia tay: “Mai anh đi rồi. Làm sao tôi ngăn được. Thà vui đi cho trót đêm nay..Ðời anh với phong ba gió sương gót chân in chiến trường. Làm quen với mưa tuôn..Ðời tôi ngày ngày khi chiều chết trên đường phố. Giọng ca điệu đàn mong gởi tám hướng tâm tư…Ðôi ta không sống, vì nhau, khi kẻ ở người đi, thôi thương tiếc làm chi?” Hai người cùng thức với nhau đêm cuối đến khi giật mình thấy một vì sao rơi, thôi kể Chuyện chúng mình. Người ra đi, xa người tình, không quên nhắn nhủ: “Những ngày anh đi khỏi. Xin em chớ đi lại vùng tình yêu lắm bẩy nhân gian. Ðể êm khói thuốc tay vàng. Tìm nhau thấy gần”. Dù kỷ niệm có đơn sơ nhưng làm sao quên “ Những ngày chưa nhập ngũ. Anh hay dắt em về vùng ngoại ô có Cỏ bông may, ở đây êm vắng thưa người. Còn ta với trời..” Lâu lâu được về phép, chỉ được một ngày tròn, tức 24 giờ phép mà thôi! Làm sao cho thoả nhớ thương: “Bốn giờ đi rồi thêm bốn giờ về, Thời gian còn lại. Anh cho em tất cả em ơi..Anh đưa em về nguyên thuỷ loài người” kiểu như Adam và Eva cũng chưa chắc đã dịu lửa chờ mong. Rồi lại ra đi, hơn một nửa ba năm, nặng mang gót giày quân nhân, nhớ về thành, hụt hẫng mộng ái ân: “Tôi ở miền xa, trời quen đất lạ, Nhiều đông lắm hạ, Nối tiếp đi qua, thiếu bóng đàn bà…Ngoài kia súng nổ, Ðốt lửa đêm đen, Tầm đạn thay tiếng em..Xin xích lại một lần bên tôi. Cho tôi yêu bằng hình hài đó không thôi. Ðến với tôi, hãy đến với tôi. Ðừng yêu lính bằng lời.” Nghe sao mà khắc khoải, chẳng khác nào đói cơm khát nước mà phải nhịn thèm!

    Trúc Phương viết rất nhiều nhạc. Ðầu thập niên 60 ông còn viết nhạc cho phim, tôi có từng chép chơi nhưng đã quên. Không biết rõ tổng cọng số lượng bài hát của ông. Nhưng tôi nghĩ có tới cả trăm. Nhớ bao nhiêu thì ghi lại đây bấy nhiêu.

    2- Chút cảm nghĩ về nhạc Trúc Phương

    Trúc Phương có tên thật là Nguyễn Thiện Lộc, sanh năm 1933 tại xã Mỹ Hoà , quận Cầu Ngang, tỉnh Trà Vinh (Vĩnh Bình), một xứ chùa tháp ở hạ lưu sông Cửu Long, Nam Phần Việt Nam. Ông sinh hoạt văn nghệ với ty Thông tin Tỉnh Vĩnh Bình cuối thập niên 50 thế kỷ 20, một thời gian ngắn rồi lên Sàigòn. Bắt đầu viết nhạc và lập nghiệp luôn ở đó. Sau 75 ông kẹt lại và vẫn sống tại Sàigòn, không biết làm nghề gì; ít có nhạc phẩm nào mới để nhắc nhở tên ông. Ðã từng vượt biên nhưng không thành. Ông tiếp tục kéo lê cuộc sống thầm lặng cho tới năm 1996 thì âm thầm ra đi, để lại cho đời những khúc nhạc buồn như chính cuộc đời ông, phản ảnh nhiều nỗi niềm khắc khoải của đám đông thanh niên thời chiến, thập niên 60-70 thế kỷ 20. Ông đã sống qua một thời vàng son của văn nghệ miền Nam.

    Thời vàng son đó xin được tạm đánh dấu bằng năm 1956, tức là 2 năm sau khi ngưng chiến theo Hiệp Ðịnh Genève. Bấy giờ ông Ngô Ðình Diệm đã bình định xong xứ sở, cuộc sống dân chúng bắt đầu yên ổn, hoà bình và thịnh vượng. Hiến Pháp 26 tháng 10 cùng năm đặt căn bản cho một chính quyền dân chủ đầu tiên, với các cơ chế hiến định và những quyền tự do căn bản của mọi công dân. Sức sống mới trỗi dậy trên mọi lãnh vực và mọi phương diện. Trong môi trường tự do, độc lập, vui tươi huyên náo ấy, sinh hoạt nghệ thuật và âm nhạc Miền Nam cũng dâng trào như sóng cả. Mở đầu Phó Quốc Thăng Dựng một mùa hoa, Chào bình minh hoa ban mai lả lơi.. rồi tất cả Dừng bước giang hồ để cùng Vui đời nghệ sĩ. Cả miền Nam hát khúc hoan ca. Trúc Phương nhanh nhẹn góp lời ca, khúc hát từ dạo ấy, với tuổi chưa đầy 20. Nắng đẹp miền Nam chẳng những làm cho ruộng lúa tốt tươi mà giúp cho mùa hoa biến thành vườn hoa lan toả, trãi rộng khắp quê hương. Rộng như biển, rậm như rừng. Phải nói tập thể nghệ sĩ miền Nam là cái rừng thiên nhiên trong đó chen chúc mọi thứ cỏ cây và hoa thơm cỏ lạ, với tất cả mọi tầm cỡ, từ gốc cổ thụ cho đến chồi non mới nẩy. Từ những tên tuổi lão thành như Lê Thương, Phạm Duy, Dương Thiệu Tước, Xuân Tiên v.v..cho tới lớp trẽ sau này như Từ Công Phụng, Dzũng Chinh, Phố Thu* , Miên Ðức Thắng v.v. tính ra có hơn trăm tên người nhạc sĩ còn đọng lại trong ký ức của tôi nhưng xin miển kể ra đây. Trong số đó, Trúc Phương là nhạc sĩ có tầm vóc lớn và nổi bật nhờ một khối lượng lớn nhạc phẩm với nét thật riêng biệt.

    Có hai điểm chính tạo ra nét đặc thù, phân cách nhạc TP với cái của người khác. Ðó là: thứ nhứt, hơi nhạc đặc biệt đượm mùi ca cổ và dân ca; thứ hai là đề tài, tức chất liệu nội dung của bài nhạc. Thật vậy, xét về thể điệu thì nhạc TP không có gì khác người, hầu hết là Boléro hay những điệu tương cận, rất phổ biến trong tân nhạc VN trong buổi đầu. Cái nhịp điệu bì bỏm, bùm bum, nghe buồn buồn xa vắng đó một thời đã ảnh hưởng rất lớn đến cảm quan thưởng thức nhạc của tuổi trẻ Việt Nam. Tôi còn nhớ, lúc tôi còn bé tí teo, đi coi hát thấy TP hát bài Ai nhớ chăng ai của Hoàng Thi Thơ, hát một hơi dài nhằng muốn đứt hơi, cứ liên 3 mà phăng tới, theo điệu boléro chính gốc, nghe nó tăng tăng buồn buồn, đã làm sao. Sau đó tôi nghe ông hát chính nhạc của mình, bài Hai chuyến tàu đêm, cũng ca từng đoạn dài muốn hết thở, giống như Chuyến đò vĩ tuyến, Người ấy là anh, Bóng người cùng thôn.. cũng với những liên 3 nối tiếp nhịp nhàng, của mấy nhạc sĩ cùng thời. Rồi cho tới sau này, trong khi người ta viết nhạc slow rock, twist, bebop,.. ông vẫn thường dùng thể điệu quen thuộc trước đó. Không thấy ông viết theo nhịp 3/4. Như đã nói, cái kết cấu hay nhịp điệu bài nhạc, tức cái diện mạo bên ngoài, là cái gì chung chung của tân nhạc, nó không là yếu tố phân biệt được nhạc của ông với của người khác.

    Hơi nhạc của Trúc Phương:

    Mà chính cái cái tiết tấu âm thanh là lạ, chính cái âm hưởng đặc biệt, cái hơi nhạc buồn muôn thuở, có khi ai oán, mới khiến người ta cảm và nhớ thật nhiều nhạc của TP. Phần lớn nhạc ông được viết theo cung thứ, nhứt là Do thứ, như Hai chuyến tàu đêm, Tàu đêm năm cũ, Mưa nửa đêm, Chiều cuối tuần, Bóng nhỏ đường chiều, Buồn trong kỷ niệm, v.v..Chỉ có bài Chiều làng em thì theo cung La trưởng. Cái âm giai thứ đã nghe buồn, được TP dùng, nghe nó muốn đứt ruột. Thử hát bài Nửa đêm ngoài phố (Mi thứ), với âm tiết thật độc đáo (Ðường phố…vắng… đêm- nao.. quen một người..Và biết.. có..đêm-nao ta hẹn hò. Ðể tâm.. tư những-đêm ngủ không yên) hay bản Con đường mang tên em: (Khi.. anh…vơi..ới ơi em..Vừa biết đam mê. Ðường chẳng riêng hai chu ung úng mình). Thật là mùi như vọng cổ xuống tiếng lìu. Chắc ít ai có thể phủ nhận nhạc TP có cái hơi của cổ nhạc Nam Phần. Mà cải lương vọng cổ là gì? Nó như là lời buồn nhược tiểu, là nỗi nhớ vô căn, là gió khuya đồng nội, là than thỡ của tổ tiên.. Hơi nhạc của TP từ trong đó toát ra. Cho nên đối với đại đa số, nhạc ông rất gần gũi, quen thuộc, dễ hát, dễ đi sâu vào hồn. Thưởng thức nhạc ông như ăn cơm với canh chua cá lóc và cá kho tộ, đôi khi có thêm ba khía dưa mắm, vừa mặn mòi vừa cay chảy nước mắt. Không cầu kỳ muổng nĩa với rô-ti, bít- tết cao sang. Có nhiều nhạc sĩ khác viết nhạc như Tây, cái hơi nghe lạ hoắc. Như bài Hương xưa, lệ đá xanh chẳng hạn. Rằng hay thì thật là hay. Nghe qua thì thấy nhạc Tây đổi lời. Hết sức là chuẩn mực. Sang như Tây. Rất là classic. Mà lời ca sao có vẻ khuôn sáo ước lệ, gượng ép, không bắt được âm độ của nốt nhạc. Ðó là loại nhạc tháp ngà, xé lẻ, chơi riêng. Trong làng tân nhạc VN, nhiều người cóp hơi nhạc tây, lồng lời Việt vô là chuyện thường. Thậm chí có người chôm nhiều đoạn nhạc ngoại quốc, hoặc Tây, Tàu hay Nhựt, sửa chút ít rồi lắp ghép vào nhạc của mình, vậy mà được bạn bè phe nhóm sơn phết, bôm hơi không tiếc lời để hướng cảm quan thính giả theo họ. Còn Trúc Phương, không có chuyện đó. Ông theo con đường âm nhạc rất sớm. Và cái mà ông sớm có, sớm chịu ảnh hưởng và tồn tại trong tâm hồn ông chính là âm hưởng của giọng hò thôn vắng, câu hát đưa em, hoặc những điệu Nam xuân, Nam ai, lý con sáo…và nhứt là cái hơi vọng cổ 6 câu rất mùi của Út Trà Ôn. Những điệu hát hò đó đã thấm vào xương tuỷ con người và sông nước ruộng đồng miền Nam. Nhạc ông được nuôi dưỡng trong cái đại thể ấy. Bởi vậy, cho dù sau này ông có trau dồi thêm nhạc lý Tây phương nhưng vẫn không thoát khỏi ảnh hưởng của nét nhạc dân tộc. Ông tự tin và không vọng ngoại? Hay Ông tự hào về nhạc dân gian của quê hương. Ta thử nghe lại một số bài. Trước hết, thấy có những âm lái lái trong khá nhiều bài nhạc tình khiến người ta liên tưởng tới điệu đờn cò hay đàn độc huyền. Nhiều chỗ khác lại có âm hưởng của ngũ cung, như: Con ư ứ đường..tình sử..ừ..ư nằm đây. Ðèn khuya mắt đỏ ò o Còn đầy dấu chân. Ðường… chẳng riêng hai chung u..úng..mình (Con đường mang tên em). Rõ nhứt là trong bài Trên 4 vùng chiến thuật. Từ tiết điệu cho tới âm hưởng, nghe như cổ nhạc mà không hoàn toàn giống cổ nhạc, bài tân nhạc mà khác xa với tân nhạc, nhạc của ông có nét khác lạ theo kiểu Trúc Phương, không giống ai, độc nhứt vô nhị. Ta thử hát bài Thói đời, 24 giờ phép thì thấy ngay nét TP rõ nhứt trong đó. Có nhiều bài nhạc TP được ghép vào vọng cổ để chế ra lối ca Tân cổ giao duyên, mà soạn giả Thu An, Hà Triều Hoa Phượng.. thường phụ soạn, khiến nhạc TP càng trãi rộng hơn. Và cũng vì vậy mà nhạc ông không thể thích hợp với mọi giọng ca, tức phải chừa ra hay kén chọn một số ca sĩ.

    Nói về ca sĩ Miền Nam thuở ấy thì tình trạng lạm phát khá trầm trọng. Không có thì giờ để kê tên họ ra đây. Tại rạp Quốc Thanh, hằng tuần, người ta tổ chức thi hát và tuyển lựa mầm non nghệ sĩ. Nhờ tiêu chuẩn chọn lựa khá thoải mái, không như cái kiểu theo đường lối đảng và nhà nước, nên ca sĩ miền Nam cũng là vườn hoa muôn hương vạn sắc. Mỗi người một vẻ, mỗi giọng ca có một nét. Mà dù có tốt nghiệp Quốc Gia Âm nhạc, ít nhiều có tính hàn lâm, thì giọng ca của họ luôn luôn có cái gì tươi tắn, tự nhiên, rất sống, rất “phăng”. Tức có cá tính, chứ không khô cứng, chuẩn mực, một khuôn. Những ca sĩ theo tiêu chuẩn cổ điển thường có giọng no tròn, làn hơi phong phú, tiếng ngân đều như lưỡi cưa, giòn như chuông chùa, dai như sóng biển, phát âm đúng chữ quốc ngữ Alexandre de Rhodes, đúng mẫu tự La tinh.., nhưng ngặc cái họ thường giả giọng lơ lớ, ca ồ ồ trong cổ họng, ít dùng âm môi, âm lưỡi v.v.. , họ hát Thánh ca trong nhà thờ rất hay, ca bài như Này công dân ơi rất đạt, nhưng ca nhạc tình miền Nam và nhứt là nhạc TP thì hư. Vì vậy, nếu nhờ Kim Tước, Mai Hương, Duy Trác, Lệ Thu… mà ca nhạc TP thì cũng bắt không kịp, vì họ giả giọng kỹ quá. Cũng như hiện nay, nếu Trần Thái Hoà hay Quang Dũng mà ca nhạc Vũ thành An, Từ công Phụng, Ngô thuỵ Miên thì chỉ làm hư Chiếc que diêm và những Bài không tên. Họ có giọng ca tốt, có làn hơi phong phú, ngân nga đúng sách vở, phát âm đúng kỹ thuật. Nhưng nó có vẻ khô khan, như máy, vô tình, vô hồn, quá chú trọng kỹ thuật mà chưa dám lả lơi thoát một li, nghiêng một độ ra khỏi nốt âm, và không dám hay không thể phổ hết tâm hồn vào bài nhạc. Họ hát giống ca sĩ Hà Nội. Nhạc TP kỵ mấy thứ đó. Ở đây lại xin nói lạc đề thêm chút cái điều khó bỏ qua, về giọng hát Thái Thanh của thời ấy. Ðó là giọng ca đã thoát ra khỏi mọi khuôn mẫu và tiêu chuẩn, xoá mọi thang cấp và lãnh vực. Phải nói là siêu. TT ca nhạc bán cổ điển như Tây. Ca nhạc hùng như Tiếng Cửu long trong Hội Trùng Dương khỏi chê. Mà ca dân ca hoặc tình ca cũng chưa có ai bằng. Nghe TT ca Nửa hồn thương đau, Nghìn trùng xa cách, Tuổi mười ba, hay những bài nhạc tình, nhạc sến, ướt hơn như Sang ngang của Ðổ Lễ, Hai sắc hoa ti gôn của Song Ngọc… thì thiếu điều muốn chết giấc. Vòng vo một chút như vậy để trở lại nhạc TP, ta sẽ thấy hơi nhạc của ông cần có cái lắc léo của đờn cò, cái trơn mướt của tiếng sáo, cái oằn oại của độc huyền cầm,.. Phải có lúc nhỏ lúc to, khi thì thầm, khi nấc nghẹn, lúc uốn éo lả lơi, lúc ngân nga hoà quyện theo hồn nhạc (như kiểu Khánh Hà,Ý Lan hay Vũ Khanh chẳng hạn) thì nó mới thích hợp với nhạc tình cảm miền Nam, trong đó có nhạc TP. Cũng may, trong cái môi trường âm nhạc thời trước, hầu hết các giọng ca đậm tình người của các ca sĩ miền Nam đều có thể đưa tiếng nhạc TP bay cao và lan xa. Dĩ nhiên nếu Thái Thanh mà ca bài Con đường mang tên em thì chắc Hoàng Oanh chừa bài đó. Nhờ vậy mà nhạc của TP đã trở thành một món ăn tinh thần bình dân đắt khách. Nó đã tiếp sức hun đúc tình quê hương, tô đậm nét nhân bản, bảo tồn tính hiền hoà, chân thật khó kiếm của người miền Nam. Rồi sau đó người ta chỉ được nghe Những đôi mắt hình viên đạn thù, Trường sơn tây anh đi, Vàm cỏ Ðông ôi Vàm cỏ Ðông. Nhạc đỏ tràn vào theo cờ đỏ, từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay, đã giải phóng nhạc vàng, nhạc xanh chạy ra khỏi đất nước. Gần đây nhạc vàng mới chạy ngược về quê xưa, theo đuôi khúc ruột ngàn dậm, giải phóng ngược lại nhạc đỏ

    Chủ đề của nhạc Trúc Phương
    Như đã nói trên nhạc TP khác xa với nhạc thù, chỉ gieo thù oán, nhạc ông hướng về tình yêu. Mà theo thói thường, chuyện tình buồn mới hay? Lúc ban đầu khi mới hoà bình, TP cũng như đa số nhạc sĩ đương thời, dù được khuyến khích hay tự phát, đều ca tụng về thôn quê, cảnh trí quê hương, đồng ruộng, sông núi, biển cả, tình tự dân tộc.., ông có tác phẩm Tình thương mái lá (tấc phẩm đầu tay), Chiều làng em, Ðò chiều, (có người bảo bài Tình thắm duyên quê là cũng của ông, nhưng tôi không nhớ và không chắc, mặc dù lúc còn trẻ ông hay hát bài này). Sau đó, ông hướng về nhạc tình. Mặc dầu cùng viết nhạc tình, ông tìm nguồn cảm hứng cách khác, diễn đạt theo lối riêng. Có nhiều nghệ sĩ lấy hứng từ rượu chè, ma tuý, lầu xanh, tìm tứ tìm âm trong ảo tưởng, ảo giác,..để mong nâng tác phẩm của mình lên cao, bí hiểm, xa lạ, như thể muốn hù thiên hạ. TP thì nói lên điều cụ thể hơn. Nhạc của ông bắt nguồn từ thực tế những cuộc tình buồn, từ tâm tư u ẩn, từ kinh nghiệm bản thân, không cóp ý trong thơ văn hay phim ảnh. Không nhờ Lan và Ðiệp tiếp hơi, không nhờ TTKH gợi ý. Ông nói lên những tâm sự của chính mình, có sao nói vậy. Từ những tình cảm cao thượng cho đến những ẩn ức sinh lý (trong 24 giờ phép và Kẻ ở miền xa), từ nổi buồn man mác cho tới niềm u uất trầm sâu, ông nói lên một cách thật thà, trung thực. Bởi thế, có người cho ông là nhạc sĩ hiện thực. Tâm hồn ông như ẩn chứa nổi buồn triền miên, cho nên hầu hết bài ca của ông đều là nhạc buồn. Xin đọc trở lại mấy bản nhạc đã dẫn ở trên thì rõ. Hai lối mộng, Chuyện ngày xưa, Chiều cuối tuần,v.v Bài nào cũng buồn. Nghe nhạc ông, người ta có thể kết luận: nhạc sao người vậy hay nhạc tức người.

    Có những loại nhạc làm dịu thần kinh, ru hồn người bay bổng, nghe nhạc như hành thiềng. Có những loại nhạc kích động để đánh nhau. Có loại rủ rê đám trẻ phá phách đập đổ. Nhưng khi nghe nhạc Trúc Phương trút vào lòng thì vị buồn, rất mùi rất ngọt, cũng len theo. Vì từ đáy lòng đậm đặc uẩn khúc tâm sự của ông tuôn trào ra hoá thân thành suối âm thanh chảy xa, xoáy sâu, xuyên thấm tận mọi hóc hẻm và ngõ ngách tâm hồn người nghe. Tóm lại nhạc của TP là những lời tự sự, đôi khi là độc thoại, rất thật thà nhân hậu, của người không thích thú đau thương mà phải thương đau, mơ hạnh phúc mà dường như chưa bao giờ được hưởng.

    Từ góc nhìn khác, ta có thể nói nhờ những đau thương ấy mà người đời được thưởng thức những bản nhạc rất hay. Qua mấy nét vừa nêu, có thể nói nhạc TP có chiều rộng, chiều sâu mà hơi thiếu chiều cao. Nhạc TP không có nét làm sang, giả đài các. Gọi nhạc TP là bình dân, đại chúng, dân gian, gì cũng được; nhưng đó chính là nhạc của đời thường, gắng liền với nhịp tim hơi thở của chúng ta trong giai đoạn lịch sử chưa xa. Hơn 30 năm trước. Ở miền Nam yêu dấu. Chủ đề nhạc TP như vậy cũng từng là chính tâm sự của hầu hết chúng ta. Tên tuổi Trúc Phương không nổi nhiều trên báo chí phân phe mà lại chìm sâu trong tâm hồn đại chúng, in đậm trong ký ức của nhiều người.

    Sinh thái của nhạc Trúc Phương
    Bản nhạc sống được và lớn lên là nhờ các ban nhạc, đài phát thanh, hãng dĩa, hãng băng, nhà in phát hành, ca sĩ v.v. và nhứt là thính giả, tất cả đã làm cho một bài ca sống với cái hồn thực của nó. Ngược lại chính bài ca cũng phải nói lên được cái tâm tình của người nghe và được họ hưởng ứng. Tất cả các yếu tố nói trên có tác động hỗ tương, cộng hưởng với nhau tạo nên bầu sinh thái cho nó. Lúc bấy giờ nhạc của TP có được sức sống rất mạnh chính là nhờ môi trường thuận lợi đó. Ðược sinh ra trong cái nôi dân nhạc trù phú, mầm nhạc nẩy nở từ phì nhiêu tình người, rồi lớn lên và được nuôi dưỡng trong bầu khí tương sinh đồng điệu, nó vang ra khắp phố, vọng đến thôn quê, lúc nào cũng như đang sống, vận chuyển không ngừng, quấn quít với sinh hoạt con người, tự nhiên như nắng mưa tối sáng, ít ai để ý tới sự còn hay mất của nó. Nhưng một khi nó không còn thì người ta mới cảm thấy mất mác cái gì lớn lao hơn bản nhạc. Ta thử nhớ lại bài Nửa đêm ngoài phố do Thanh Thúy hát, như nức nở thở than. Con đường mang tên em do Hoàng Oanh ca như nhớ thương tiếc nuối cuộc tình, Tôi ở miền xa do Duy Khánh sống với những ẩn ức khát khao, Chế Linh với Thói đời nghe ngậm ngùi chua xót.v.v. và nhiều bài với nhiều ca sĩ khác nữa. Ta cảm thấy bài nào cũng rất là hay, tai nghe mà lòng rưng rưng. Như khóc thương người quá vãng. Có phải vì ta ôm nặng quá khứ vào lòng, nhớ cả vùng trời huyền thoại?. Những giọng ca ngày ấy, rất ướt, mát tươi, nguyên chất, thiên nhiên, không lơ lớ giả giọng, tan loảng vào không trung. Những giọng ca thật thà hát những bài hát thật thà, đã hoà quyện với nhau làm một, bay xa khắp nước. Nhạc TP thực sự đã góp phần tô son phết vàng cho nền âm nhạc miền Nam. Giờ thì cái sinh khí đó không còn nữa, cả bầu sinh thái đã tan. Dù cho bản nhạc được hát lại bởi bất cứ người nào, có giọng ca điêu luyện và truyền cảm cách mấy, thì nghe không hay bằng lúc baì hát đó đang sống cái hồn thực và bầu khí nguyên thuỷ của nó. Như cái cây bứng đi trồng ở miền đất lạ, khí hậu không còn thích hợp. Mấy thế hệ con em sau này nghe lại nhạc ông, dù cảm thấy nó hay, nhưng chẳng khác nào nghe tiếng dội, như xem cái bóng, ngắm caí phó bản cho đỡ buồn, chứ làm sao mà cảm hết, sống cho hết, một cách trọn vẹn nhạc của thời ấy. Tội nghiệp! Tệ hơn nữa là nếu lấy nhạc của ông ngắt từng đoạn để ghép thành liên khúc, như đám trẻ thường làm để ca theo Disco, thì đó là sự bôi lọ hay phỉ báng tác giả.

    Vài khúc kinh cầu
    Nói như vậy thì có những bài hát thường gắn chặt vào một hoàn cảnh, rồi trở thành vật chứng cho một giai đoạn lịch sử, một móc điểm của đời người hay tâm tình thế hệ nào đó. Về phương diện lịch sử, thì nhạc TP nói riêng, cả nền văn nghệ miền Nam nói chung cũng là những tài liệu cụ thể giúp cho những sử gia suy ra thực chất của chế độ. Về phương diện thưởng thức văn nghệ thì ta thấy ảnh hưởng của âm nhạc vào tình cảm, tâm thức và ký ức con người thật khủng khiếp. So với các giác quan khác, cái lỗ tai chỉ nghe thôi nhưng nó lại gợi nhớ mạnh hơn hết. Âm nhạc có khả năng vực dậy ký ức sâu nhứt. Khi nghe một bài hát xưa người ta có thể thấy lù lù hiện về những khuôn mặt người thân đã khuất, thấy rõ hơn là nhìn vô tấm hình treo ở bàn thờ, sẽ sống lại mặt mày mấy thằng bạn đã bỏ xác ở chiến trường, hồi sinh những cuộc tình đã chết, thấy lại cả thành phố đã xa, vùng trời tuổi thơ đã mất, ngày xưa xa lắc mà cứ tưởng là hôm nay. Mỗi người chúng ta đều nhớ thuộc lòng một số bài hát ruột, và chính bài hát ruột đó giúp bạn thấy được như vậy. Ta thử lầm thầm trong miệng thôi, không cần hát lớn, chắc chắc ta sẽ thấy tác động nhiệm mầu của bài ca. Tôi cho rằng bài ca đó chính là kinh cầu hồn, hay gọi hồn. Trúc Phương là một trong số nhạc sĩ đã giúp cho tôi mấy bài kinh cầu hồn. Ðó là những bài: Nửa đêm ngoài phố(**), Ðò chiều và Con đường mang tên em.

    Còn riêng đối với hương linh của nhạc sĩ Trúc Phương, nếu chúng ta vì cảm mến và biết ơn về sự cống hiến của ông cho đời, trong đó có chúng ta, đã ít nhiều uốn nắn tình cảm tuổi hoa niên của chúng ta, mà tổ chức được một đêm ca nhạc lớn nhỏ gì cũng được, dành riêng cho những bài hát của ông, thì những bản nhạc ông đã gởi gắm tất cả tình cảm và tâm hồn vô đó sẽ được bay bổng. Tôi xin gọi đó là cách cầu siêu, vì nó sẽ linh hơn tụng kinh trong chùa hay nhà thờ. Và mấy bài hát được hát lên lúc đó cũng sẽ là kinh, nhưng là kinh cầu siêu chớ không còn là gọi hồn nữa. Cuộc đời của cố nhạc sĩ Trúc Phương có vẻ hẩm hiu. Nhạc của ông nổi tiếng không nhờ phe cánh. Ông sống đơn giản, thầm lặng theo cái kiểu Trà Vinh, không ba hoa, không làm nổi, không bạn bè thổi phồng như thường tình. Chúng ta là đồng hương với ông, chắc thông cảm điều đó hơn ai hết. Riêng tôi, có một thời là người ái mộ ông, mê nhạc ông. Nay nhờ dịp có báo xuân Ðặc san Trà Vinh, có chổ cho tôi phát biểu, tôi viết mấy dòng trên đây, dù rất muộn màng, để xin chân thành tạ ơn nhạc sĩ Trúc Phương, cám ơn những bài hát của ông đã góp phần làm cho phong phú tâm hồn tôi.

    Lâm Thanh
    Mùa Thu Giáp Thân 2004

    ——————————————————–

    Chú thích:

    (*) Phố Thu vừa nổi lên là tới năm 75, cũng là người Trà Vinh, quê Trà Cú, tên thật là Trầm bửu Hoài, sanh khoãng 1950, quân nhân, sáng tác từ năm 68 cho đến 75, có hơn chục nhạc phẩm rất có hồn trong đó có bài Tình xanh cho quê hương được giải thưởng Văn học nghệ thuật của tổng cục CTCT/VNCH năm 1974. Hiện còn sống nghèo khổ ở Thanh Mỹ, Trà Vinh, VN. (Theo lời kể của ông Trần Anh Kiệt, một đồng hương TV, từng quen biết nhiều về Phố Thu).

    (**) Xin ghi ra từ trí nhớ bản “kinh cầu” của tôi sau đây, để may ra có bạn nào thích thì hát chơi: (điệu Boléro, Mi thứ)

    Buồn vào hồn không tên.Thức giấc nửa đêm, nhớ chuyện xưa vào đời. Ðường phố vắng đêm nao quen một người. Mà yêu đương trót trao nhau trọn lời.- Ðể rồi làm sao quên. Biết tên người quen biết nẻo đi đường về. Và biết có đêm nao ta hẹn hò. Ðể tâm tư những đêm ngủ không yên.

    Nửa đêm lạnh qua tim. Giữa đường phố hoa đèn. Có người mãi đi tìm. Một người không hẹn đến. Mà tiếng bước buồn thêm.-Tiếc thay hoài công thôi. Phố đã vắng thưa rồi. Biết rằng chẳng duyên thừa. Ðể người không gặp nữa. Về nối giấc mơ xưa..

    Ngày buồn dài lê thê. Có hôm chợt nghe gió lạnh đâu tìm về. Làm rét mướt qua song len vào hồn. Làm khô môi biết bao nhiêu lần rồi.- Ðời còn nhiều bâng khuâng. Có ai vì thương góp nhặt ân tình này. Gởi giúp đến cố nhân mua nụ cười. Và xin ..ghi kỷ niệm một đêm thôi.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s