Cái sự hèn và nỗi uất nghẹn của đớn đau…

Hà Văn Thịnh

Chưa có năm nào mà mở đầu một năm mới (2012), tính đến hôm nay là 10 ngày (10.1.2012) mà cái đầu và trái tim của người dân Việt bị thử thách nhiều đến như thế, bị giày vò thảm thê đến thế trước những tai ương, những câu chuyện còn hơn cả buồn và những nhức nhối, để dẫu có muốn làm thinh cho khỏi mang tiếng “diễn biến” hay “bị xúi giục” thì vẫn phải mở mồm rên lên, khóc lên cho vợi bớt cái nhục nhã của thân phận làm người…

Đầu tiên là chuyện cháy xe và quan chức cứ sống chết mặc bay cho đến khi báo chí, dư luận la hét vang trời mới đủng đỉnh nhận cho gọi là… có. Tiếp đó là đọc ở đâu, xem cái gì cũng “năm 2020”(!)

Nào là đến năm đó có mấy chục ngàn tiến sĩ, nào là lạm phát bằng không, nào là “kiểm soát về cơ bản vệ sinh an toàn thực phẩm”… Hứa lèo cho qua hai nhiệm kỳ thì ai mà không hứa được?

Nếu nói rằng đến 2020, không còn thực phẩm thối thì liệu đến ngày đó, sức khỏe giống nòi sẽ ra sao, văn hóa đạo đức suy đồi đến mức nào?… Độc, đau, đắng, đểu là “bốn Đ” xin gửi tặng cho ông LDH và các bộ tứ khác đang tồn tại trên trái đất này, chẳng hạn như 4 biết, 4 chịu, 4 tốt (láng giềng tốt, đồng chí tốt…), 4 vàng (4 nhân 4 thành 16 chữ vàng – Sơn thủy tương liên, vận mệnh tương quan)…

***

Có một câu hỏi tôi luôn nghĩ từ nhiều năm nay nhưng SỢ chẳng dám nói ra bởi biết chắc là sẽ bị ném đá tơi bời – thậm chí là bị vùi cho thân tàn ma dại.

Đó là câu hỏi người Việt có anh hùng bất khuất thật hay không? Đành rằng vì không biết nên phải hỏi, nếu có sai thì các bậc thức giả, nhà cầm quyền có lẽ cũng chẳng trách đâu nhưng nỗi sợ nó ngấm vào máu, nó cuộn đắng trong tim nên mới để mãi đến bây giờ.

Một trong những danh ngôn mà tôi thích nhất là câu nói của tổng thống bị bại liệt hai chân F. D. Roosevelt nói trong lễ nhậm chức năm 1933: “Điều duy nhất mà chúng ta phải sợ chính là bản thân nỗi sợ” (The only thing we have to fear is fear itself).

Quả thực, trong mấy ngày qua, không ngày nào tôi không muốn viết nhưng bạn bè – người thân cản ngăn nhiều quá, cho đến lúc này, sau khi đọc thông tin đã tương đối, mới dám cố gắng đặt nỗi sợ sang một bên và… viết.

Trước hết, hãy liếc qua lịch sử Triều Tiên: Điều nhiều người biết nhưng ít người nói là trong suốt 1.117 năm Việt Nam bị Bắc thuộc, người Triều Tiên chỉ bị Trung Quốc đô hộ có vài chục năm – lần thứ nhất từ 108 đến 82 B.C. (thời Hán) và lần thứ hai từ năm 668-676 (thời Đường).

Đó là điều đáng để ngẫm suy. Và, cũng nên nhấn mạnh rằng, trong 1.117 năm đau đớn ấy, nhân dân Việt Nam chỉ nổi dậy khởi nghĩa có tất cả 12 lần lớn, nhỏ: Năm 111 B.C. là khởi nghĩa (đầu tiên) của Tây Vu Vương, năm 40-43 là Hai Bà Trưng, khởi nghĩa của Chu Đạt (năm 157), của Bà Triệu (năm 248), của Lý Trường Nhân (468-485), của Lý Bí (542 – 548), của Triệu Quang Phục – Lý Phật Tử (năm 547 – 602), của Lý Tự Kiên và Đinh Kiến (năm 687); của Mai Thúc Loan (năm 722); của Phùng Hưng (766-791), của Dương Thanh (819-820), Khúc Thừa Dụ, Khúc Hạo, Kiều Công Tiễn, Ngô Quyển (905-938). Như vậy trung bình cứ 92 năm thì khởi nghĩa 1 lần!

Mức độ và “tần số” của những cuộc khởi nghĩa đó nói thẳng, rõ ràng với chúng ta rằng đừng có tôn vinh sự quật cường thái quá bởi không có sự vượt trội so với nhiều dân tộc khác (nếu không muốn nói là chưa bằng) thì không thể luôn luôn huyễn hoặc mình.

Tất nhiên, đây là công việc của các cây đa cây đề sử học mà người viết bài này chỉ muốn lướt qua để nói về nỗi đau hiện tại có nguồn cội từ yếu hèn.

Nếu không hèn yếu cớ sao không ít quan tham ngu dốt cứ nói, cứ làm mà hàng triệu người vẫn cúc cung tận tụy trong lặng câm?

Nếu không bị ảnh hưởng bởi hơn 1.000 năm với kiếp cúi luồn thì tại sao bây giờ chúng ta (kể cả người viết bài này) lại sống trong sợ hãi: Không dám nói về những điều sai, trong khi cái sự thật cứ rành rành?…

Rất và rất nhiều câu hỏi chỉ có một sự trả lời duy nhất – chúng ta không dám sáng tạo (phản biện, chống lại cái ác là sự sáng tạo của tỉnh thức, sự lung linh của trái tim, sự hy vọng của nhân cách), chúng ta khiếp sợ bạo lực, cường quyền nên càng ngày, chúng ta càng lún sâu hơn vào vũng bùn tối tăm của nhận thức, dò dẫm sống, lắt lay tồn tại bằng sự đui mù của tư duy.

Có rất nhiều dẫn chứng nhưng, có lẽ, bài học từ Tiên Lãng là đủ đầy nhất.

Tôi xin lấy ví dụ từ chính cái mới nhất và đau nhất này. Một, tại sao người dân, kể cả người có học, lại dễ bị lừa đến thế khi nghe chính quyền (thật ra là quyền lực bị lộng hành bởi vài cá nhân nhân danh chính quyền) rút đơn về để họ dễ bề… cưỡng chế!

Chỉ cần biết cái kiến thức tối thiểu rằng đất đai đang tranh chấp thì không thể cưỡng chế như luật pháp đã quy định thì phải hiểu ngay lập tức rằng rút đơn khiếu nại (kiện tụng) về, đồng nghĩa với tự đút đầu vô thòng lọng.

Hai, chính quyền của “vua anh” (chủ tịch huyện) cưỡng chế trên đất của “vua em” (chủ tịch xã) là cái loại cơ cấu gì mà không cần học cũng hiểu ngay bản chất của vấn đề.

Ba, nhà không thuộc diện bị cưỡng chế, vẫn bị đập tan tành: Phá hoại tài sản công dân trắng trợn như thế mà vẫn nhởn nhơ được sao?

Thì ra không cần luật pháp, ưa chi làm nấy là cái thực của xã hội bây giờ sao? Tại sao càn rỡ như thế mà không bị cách chức, đuổi việc ngay lập tức?

Bốn, đất đai người ta bỏ cả máu, nước mắt, mồ hôi và tiền của ra để lấn biển, không khen, không ưu đãi thì chớ, lại còn ngang nhiên tịch thu (cướp giật) ngay giữa ban ngày là cái lý nào đây?

Năm, cái sai của gia đình ông Vươn là rành rành, luật pháp không thể dung thứ nhưng cái căn nguyên, nguồn cội của sự phẫn uất là lý giải được theo cái nghĩa hẹp nhất của cụm từ bước đường cùng.

Lửa và Khói là mối quan hệ nhân quả nhãn tiền.

Vậy, ở đây phải làm rõ tội của AI nặng hơn: Kẻ càn rỡ nhân danh luật pháp hay người dân trong phận con giun bị xéo giày tức tưởi?…

Nhiều và rất nhiều nữa những điều phải nói, sẽ nói về chuyện Tiên Lãng.

Đây là lúc những người có trách nhiệm phải cẩn trọng vì một tia lửa hay một ngọn lửa chỉ khác nhau về mức độ mà thôi còn thực tế, chúng bao giờ cũng là điểm khởi đầu của đám cháy.

Không thể chỉ trừng phạt một phía vì nguyên tắc của công lý là sai đến đâu phải xử ngay đến đấy.

Đến đây, chợt thấy buồn nẫu cả ruột gan: Vì lâu nay chúng ta đều “đồng thanh” lặng câm (khuyên bảo nhau lặng im) nên sự càn rỡ ngày càng trắng trợn, vì lâu nay người ta đánh giá sự phản kháng của người dân quá thấp nên cứ việc hành xử bất kể đúng sai.

Thật ra, cái tốt nhẫn nhục mới là tội ác ghê gớm hơn cả tội ác từ cái xấu. Martin Luther King đã nói đại ý như thế.

Chúng ta phải đòi công lý thực thi theo đúng lẽ ai sai đến đâu thì phải chịu trách nhiệm đến đó.

Đây là nguyên tắc, ít nhất, nó chứng tỏ rằng đôi khi người Việt cũng còn nhớ đến tinh thần bất khuất…

Huế, 13.1.2012

H. V. T.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.

8 comments on “Cái sự hèn và nỗi uất nghẹn của đớn đau…

  1. mỗi người việt hãy tự hỏi la nguoi vn..tôi có còn yêu người việt o?
    -đây là gia đình,anh em vợ chồng, bạn bè ,thân bằng quyến thuộc ..gần với bạn nhất .
    -tôi có dám xả thân bênh vực những người này nếu họ bị ai đó xa lạ bắt nạt hiếp đáp ??

    tôi có dám tuyến bố với mọi người là mình đã hoàn thành công việc tề gia và sẵn sàng trị quốc,trước khi bình thiên hạ ??….

  2. Sự nhục nhã của người Việt ta là chấp nhận là cừu của Đảng. Người Việt ta lại tự hào chịu nhịn nhục nhất thế giới . Hơn 60 năm dưới chế độ cộng sản người dân được Đảng thuần hóa như trâu, bò, cừu . Từ khi sinh ra lớn lên đi bộ đội rồi chết vẫn được dạy : “Ơn Đảng ơn Bác”.Dân Việt nay cũng gần giống như dân Bắc Hàn.Họ chấp nhận kiếp sống nhục, và còn tự hào nữa khi được là cừu của Đảng.

  3. Bác Hà Văn Thịnh càng nghiền ngẫm càng thấu đáo, càng mạnh mẽ càng truyền cảm…

    Nhưng tôi nghĩ đừng trách nhiều người dân ta.
    Từ trí thức học nhiều hiểu cao cho đến thường dân lam lũ, từ những người nặng lòng dân tộc đến cả những thằng chóp bu CS …tất cả tất cả đã bị học thuyết CS ngu hoá, hèn hoá, bạo lực hoá, gian ác hoá, sa đoạ hoá ,… đã gần 70 năm qua.
    Tất cả đều chưa nhận thức rõ điều này.

    Đây là tội ác lớn nhất của CSVN với dân tộc Việt nam.

    Sự nổi dậy tranh đấu liên tục thời Pháp thuộc có lẽ nó cũng bắt nguồn từ sự tôn trọng cá nhân con người và thể chế dân chủ cao hơn sự đàn áp cưỡng bức giả dối thời CS
    Tất cả mọi tội lỗi ở Việt nam ngày nay cơ bản bắt nguồn từ sự thối nát của tư tưởng và thể chế CS.

    Anh Đoàn Văn Vươn mới là sự phản đối cá nhân ban đầu bằng súng đạn, sẽ còn tiếp tục sự phản đối mạnh mẽ.
    Cần làm cho mọi người dân hiểu rõ quyền mưu cầu cuộc sống tốt đẹp của mỗi con người mỗi gia đình là quyền thiêng liêng không một thế lực nào dù hắc ám bạo tàn đến đâu được phép tước bỏ.

    Chính quyền CS đi ngược lại lợi ích của nhân dân của dân tộc, làm suy yếu đất nước, cướp đoạt tự do dân chủ và quyền mưu cầu cuộc sống phát triển bình yên của nhân dân phải bị loại bỏ.

  4. “…nỗi đau hiện tại có nguồn cội từ yếu hèn.

    Nếu không hèn yếu cớ sao không ít quan tham ngu dốt cứ nói, cứ làm mà hàng triệu người vẫn cúc cung tận tụy trong lặng câm?..”- HVT

    Bác HVT có bài việt thật tuyệt vời, bác đã chỉ ra cái yếu kém nhất có nguồn gốc xa xưa, mà ĐCS VN đã nắm được và khai thác triệt để, nhằm duy trì sự cai trị đất nước mãi mãi ?

  5. Đó là câu hỏi người Việt có anh hùng bất khuất thật hay không?

    NÊN SOI XÉT LẠI….khi so với DÂN TỘC SYRIA ANH HÙNG ….

    Hậu quả Cộng sản – cuộc phá sản toàn diện !
    ==================================

    Một niên kỷ Bắc thuộc bạo tàn

    Một thế kỷ thuộc địa dã man

    Dân Việt còn anh hùng bất khuất

    Năm thập kỷ Cộng sản ghé ngang

    Chúng hủy hoại tất cả truyền thống

    Nhân bản bao dung dũng khí tan

    Trí ngủ cung văn thi nô thỏ cáy

    Bi hài kịch vĩ đại Nước Nam !

    XEM ĐÂY : thằng ĐỘC TÀI đầu bù tóc rối xứ Li-Bì !!!

    NGƯỜI HÀ NỘI Người Sài Gòn nên học tập các dân tộc Ả rập

    như LI-BÌ (thế mà họ KHÔNG NGỦ li bì như NGƯỜI HÀ NỘI Người Sài Gòn…. !) 8 tháng thanh toán thằng điên ĐẦU BU TÓC RỐI vứt chôn xác hắn vào SA MẠC !

    như AI CẬP cho 3 cha con MU-BÀ -RẮC vào chuồng sắt bắt ra tòa Nhân Dân ( đây mới THẬT LÀ TÒA chớ không TÒA ÁN CUỘI xử CÙ HUY HÀ VŨ, TRẦN HUỲNH DUY THỨC…
    như dân tộc SYRIA bắn chết hàng loại bằng xe tăng đại bác …gần 4000 chết dân tộc họ VẪN ANH HÙNG TIẾN LÊN …

    Thú thật tôi Nguyễn Hữu Viện 32 NĂM lưu vong VẪN GIỮ Quốc Tịch Việt …lấy làm TỦI BUỒN như TỔNG GIÁM MỤC Ngô Quang Kiệt khi ra ngoại quốc ! …cầm chiếu khán Việt Nam

    NẾU NGƯỜI HÀ NỘI Người Sài Gòn BIỂU TÌNH như dân tộc SY RIA ANH HÙNG bắn chết hàng loại bằng xe tăng đại bác …gần 4000 chết dân tộc họ VẪN ANH HÙNG TIẾN LÊN …

    XEM ĐÂY : 3 cha con MU-BÀ-RẮC trong chuồng cũi sắt ra tòa !!!

    THÌ CHẮC chế độ bán Nước hại Dân đã sụp đổ từ lâu rồi …

    TRÍCH
    Đành rằng vì không biết nên phải hỏi, nếu có sai thì các bậc thức giả, nhà cầm quyền có lẽ cũng chẳng trách đâu nhưng nỗi sợ nó ngấm vào máu, nó cuộn đắng trong tim nên mới để mãi đến bây giờ.

    “Điều duy nhất mà chúng ta phải sợ chính là bản thân nỗi sợ” (The only thing we have to fear is fear itself). F. D. Roosevelt
    HẾT TRÍCH

    “It is not power that corrupts but fear. Fear of losing power corrupts those who wield it and fear of the scourge of power corrupts those who are subject to it.”

    http://hanoiparis.com/construct.php?page=poeme&idfam=47&idpoeme=3289

    Không phải quyền lực làm cho ta tha hóa mà chính là nỗi khiếp sợ. Nỗi sợ đánh mất quyền lực làm tha hóa kẻ đang nắm trong tay quyền lực và nỗi khiếp sợ bị quyền lực trừng phạt làm tha hóa người đang nắm trong tay quyền lực.
    ( Aung San Suu Kyi – “Freedom From Fear” – Tự do khỏi nỗi khiếp sợ )


    Người Thiếu phụ Ngưỡng Quang như đóa Hoa Kim Cương cứng hơn Sắt thép
    ===========================

    Cảm tác nhân xem phim THE LADY …..

    Ái nữ của vị Anh hùng Dân tộc Miến Điện

    Cành Hoa Dạ Lan mảnh khảnh dịu hiền

    Người Mẹ thương con – Người vợ yêu chồng

    Nghe hung tin hồi hương chăm sóc Mẹ già

    Từ Anh Quốc Quê chồng rời mái ấm gia đình

    Trở về Quê Mẹ hầu mẫu thân đau yếu

    Tạm giã từ chồng con tưởng vài tuần trở lại

    Ai ngờ Định mệnh ra đi không có ngày về ! …

    *

    Biến cố 8888 (1) nhìn qua khung cửa hẹp Nhà thương cùng bên Mẹ

    Trong bệnh viện Thủ đô Ngưỡng Quang

    Chứng nhân Quân phiệt thẳng tay nã súng bắn vào đoàn biểu tình

    Hàng ngàn dân lành thiệt mạng thảm thương

    Người con hiếu thảo bên giường bệnh Mẹ đang hấp hối

    Người con theo gương Cha dấn thân đấu tranh Dân chủ

    Aung San Suu Kyi, Người đàn bà đẹp như Hoa Hồng mềm mại

    Nhưng cương nghị cứng hơn Sắt thép

    Noi theo tấm gương Thánh Gandhi

    Thành Biểu tượng Tự Do của Dân tộc Miến chống lại độc tài

    Sát cánh lãnh đạo Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ

    Aung San Suu Kyi hiện thân Cánh chim đầu đàn

    Quân phiệt trấn áp từ đe dọa tinh thần qua giam lỏng đến cầm tù

    Anh thư Dân chủ đã vượt qua mọi Nỗi sợ

    Đi bình thản tiến về hàng lính giăng ngang súng nạp đạn

    Các nòng súng đang nhắm vào khuôn mặt Nữ Anh hùng

    Những đôi mắt nhắm bắn các ngón tay sẵn sàng bấm cò …

    Anh thư Dân chủ vượt qua Nỗi sợ

    Bước tới bình thản tiến về hàng lính giăng ngang súng đạn …

    *

    Người con yêu quý của Dân tộc Miến trăn trở :

    Về Quê chồng trọn tình phu thê khi đau ốm

    Căn bệnh Ung thư hành hạ Người chồng

    Về Anh Quốc trọn tình phu thê hay phụ tìnhở lại Quê Cha ?

    Về Quê chồng chắc Quân phiệt mừng thầm sẽ không cho trở lại Quê Mẹ !

    Lòng cao thượng không nỡ đòi vợ trở về chăm sóc bệnh tình

    Lại còn khuyên vợ mình lấy Tình Nước đặt trên Tình nhà …

    Căn bệnh Thế kỷ cướp mất Người chồng cao quý

    Để lại hai đứa con nhỏ dại mồ côi

    Trong tù giam lỏng không được tiễn đưa chồng lần cuối .. ..

    Nơi Đất nước Tự do không có Chọn lựa đớn đau như vậy !

    Vùng đất độc tài chúng ta bị kết án ngay trong Lựa chọn ! !

    *

    Bi kịch gia đình Anh thư hòa tan vào thảm kịch Dân tộc Miến Điện

    Những năm tháng đau khổ lấy Hạnh phúc mình hiến dâng đời

    Những giây phút cam go Tình thương là động lực thôi thúc

    Những giây phút trăn trở nhưng rồi Bao dung tất thắng

    Ý chí bảo dưỡng Lửa thiêng cho đấu tranh vì Đại cuộc

    Mọi điều hun đúc Cánh Hoa Dạ Lan dịu hiền

    Thành đóa Hoa Kim Cương xén cắt ngọt cả Sắt thép

    Đôi Uyên-Ương Văn minh Đông-Tây đan quyện trong Miến Sử hiện đại

    Từ Cận cảnh gia đình chan hòa vào Toàn cảnh Miến Điện

    Định mệnh cá nhân đan bệnh vào Vận mệnh Dân tộc

    Hai Nửa Tâm hồn Miến-Anh hợp thành nhất thể hài hòa

    Đồng nhất thanh cao lãng mạn trữ tình bay trên Sử lịch Miến Điện….

    TỶ LƯƠNG DÂN
    Paris-La Défense, 30/11/2011

    1. Chính quyền quân phiệt của Ác tướng Than Shwe bảo thủ cứng rắn ra lệnh quân đội thẳng tay đàn áp không ngần ngại nã súng bắn vào đám đông người biểu tình khiến hàng ngàn người bị thiệt mạng vào ngày 8 tháng 8 năm 1988 cho nên sự kiện này được gọi là Biến cố 8888

  6. http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/01/oi-ieu-thua-voi-ong-ang-hung-vo.html

    ĐÔI ĐIỀU THƯA VỚI ÔNG ĐẶNG HÙNG VÕ
    Trương Nhân Tuấn.

    Cựu thứ trưởng Đặng Hùng Võ vừa lên tiếng về vụ Đoàn Văn Vươn trên báo Tuổi Trẻ hôm qua là một điều đáng mừng. Ý kiến của ông Võ dễ thuyết phục vì không dựa lên tình cảm mà dựa lên luật lệ nhà nước. Hy vọng các cơ quan hữu trách theo tinh thần của Thứ trưởng Đặng Hùng Võ để giải quyết thỏa đáng vấn đề này. Tuy vậy, các ý kiến của ông Võ, trên phương diện kỹ thuật, theo tôi vẫn có một vài lấn cấn, không phải do kiến thức, mà đến từ “cơ chế” của nhà nước. Tôi nghĩ rằng luật lệ áp dụng cho trường hợp “thu hồi đất” của ông Vươn có một số điều mâu thuẫn, nhất là các điểm về thể lệ giao đất, diện tích tối đa đất được giao, thời hạn được sử dụng đất, phương thức thâu hồi đất… Ngoài ra còn có những mâu thuẫn giữa tính công bằng của xã hội chủ nghĩa với quyền tư hữu của kinh tế thị trường, hoặc giữa « tư điền » là tập tục ngàn năm của dân tộc Việt với « sở hữu đất đai thuộc về toàn dân » của chủ nghĩa xã hội. Nếu đúng như tôi nghĩ, trường hợp cá biệt của Đoàn Văn Vươn, nếu chỉ dựa hoàn toàn trên pháp luật (mà pháp luật có điều không ổn) thì việc giải quyết chắc chắn sẽ gây nên những điều oan ức. Việc nổ súng đáng tiếc trong khi giải tỏa đất đã nói trước việc này. Hy vọng ông Võ (hay người có thẩm quyền khác) sẽ lên tiếng giải thích. Các thắc mắc của tôi gồm các điểm:

    1/ Phân loại khu vực đất:

    Thứ trưởng Đặng Hùng Võ nhận xét: “theo Luật đất đai năm 1993, cụ thể là theo nghị định 64 về việc giao đất sản xuất đối với đối tượng ở đây là giao đất sản xuất trồng cây hằng năm, nuôi trồng thủy sản, làm muối… “

    Tôi nghĩ khác. Khu vực gọi là “đất” mà ông Vươn sử dụng từ năm 1993 không thuộc vào bất kỳ một loại “đất” nào đã được qui định theo điều 11 bộ Luật đất đai năm 1993 hay điều 13 bộ Luật đất đai năm 2003.

    Thật vậy, trước khi « khu vực đất » này được giao cho ông Vươn thì nó không thể gọi là « đất » để « trồng cây hàng năm », cũng không thể gọi đơn thuần là « đầm » để « nuôi trồng thủy sản », và nó cũng không thể sử dụng vào việc « làm muối » như Thứ Trưởng Võ đã nói. Nếu chiếu theo Luật Hồng Đức thì khu vực này không thuộc diện « điền » (không thể trồng trọt hay làm muối – diêm điền), cũng không thuộc diện « thổ » (không thể định cư), và cũng không thuộc diện « trạch » (không thể nuôi cá).

    Đây là một khu vực đất đang bồi, thường xuyên ngập nước biển và hàng năm chịu nhiều thiên tai bão lụt. Theo luật của các (nước Tây phương) hay Luật về thổ trạch ở VN các thời kỳ trước, vì lý do an ninh, các vùng đất này không được nhà nước cấp cho dân, hay không khuyến khích cho dân khai hoang, vỡ hóa… nhằm định cư hay khai thác kinh tế.
    Vấn đề đặt ra, theo pháp luật, nhà nước có thể cấp cho ông Vươn khai thác « khu vực đất » đó hay không? Nhà nước có trách nhiệm gì nếu tai nạn do thiên tai (bão, lụt) đổ xuống?

    2/ Tính không hợp lý của việc thâu hồi đất trong bộ Luật về đất đai.

    Nhưng “khu vực đất” này vẫn được chính quyền địa phương Hải Phòng cấp cho ông Vươn khai thác, bất chấp những hiểm nguy có thể gây ra cho cá nhân và gia đình ông Vươn.

    Để biến khu vực “đất không thể sinh sống” thành một khu vực xếp vào hạng “điền trạch” (tức vừa định cư vừa nuôi thủy sản), ông Vươn đã sử dụng kiến thức kỹ sư của mình để làm các việc sau :
    a) Đắp một con đê dài 2 cây số để ngăn lũ lụt, (con đê này đem lại lợi ích cho nhiều gia đình lân cận, chứ không hẳn cho cá nhân ông Vươn)
    b) Trồng cây vẹt để giữ đất bồi đồng thời để che bão
    c) Đổ đất, cát, đá… làm nền
    Làm các công trình (a) và (b) ông Vươn đã biến một vùng bờ biển hiểm nguy thành một cái « trạch » (đầm nước) có an ninh. Công trình (c) biến một góc « trạch » thành « điền » (đất trồng trọt) và “thổ” (đất xây cất). Sau 17 năm gầy dựng, ông Vươn đã tạo ra một « khu vực điền – thổ – trạch » có diện tích là 40 ha. Điều đáng chú ý là khu vực này, theo lời dân sống ở đó, trước khi giao cho ông Vươn, “nhà nước không dám khai phá”.

    Nhà nước thâu hồi đất này dựa trên điều 6 Luật đất đai 2003, theo qui định khoản đ) « chuyển mục đích sử dụng đất » hay các điều qui định ở mục 4. Dĩ nhiên nhà nước có quyền, theo Hiến pháp và Luật, nhưng thử đặt giả thuyết : nếu « khu vực đất » đó không giao cho ông Vươn, tức vẫn còn là một vùng đầm lầy phủ sóng và luôn chịu gió bão, liệu nhà nước có qui hoạch hay lên kế hoạch sử dụng khu vực này hay không ?
    Nếu câu trả lời là “không” thì không có lý do gì nhà nước hôm nay lại thâu hồi khu vực đất ấy.

    Trong khi điều 12 qui định: Nhà nước có chính sách khuyến khích người sử dụng đất đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng thành tựu khoa học và công nghệ để “Khai hoang, phục hoá, lấn biển, đưa diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước hoang hoá vào sử dụng” (khoản 1)
    Ông Vươn đã tin tưởng vào điều luật đó, đã đem kiến thức khoa học, tiền vốn và công sức để làm các điều mà nhà nước khuyến khích.
    Vậy mà nhà nước đã có quyết định thâu hồi (trong khi thời hạn sử dụng chưa mãn).
    Người ta không thể vừa “khuyến khích” vừa “thâu hồi “. Ở đây “khuyến khích” có nghĩa là cho làm, “thâu hồi” có nghĩa là không cho làm. Mâu thuẫn ở đây khá rõ rệt. Việc này làm mất niềm tin của dân chúng vào nhà nước và luật của nhà nước?

    3/ Về diện tích sử dụng đất và thời hạn sử dụng:

    Thứ trưởng Võ nói rằng “thời hạn giao đất được Luật đất đai quy định là 20 năm.” … “Luật quy định hạn mức được giao đối với một hộ gia đình cá nhân không được vượt quá 2ha”.

    + Về diện tích đất được giao. Khu vực đất của ông Vươn tạo nên là do công sức của ông và gia đình trong việc đắp con đê dài 2km để ngăn lũ và trồng các hàng cây vẹt để giữ đất. Đất của ông Vươn tân tạo được tính từ con đê chận lũ.

    Đặt giả thuyết, nếu nhà nước lúc đầu đã qui định ông Vươn chỉ được giao 2 ha đất, thì chắc chắn ông Vươn sẽ không nhận. Vì nhận cũng không làm được gì! Muốn cải tạo đất thì phải làm con đê chận lũ và trồng vẹt giữ đất bồi. Tức là, hoặc ông Vươn tân tạo được 40 ha đất thổ trạch, hoặc không tạo ra khoảnh đất nào cả. Không ai bỏ công sức làm con đê, trồng rừng vẹt để nhận 2 ha, ngoại trừ việc nhà nước bỏ công để làm (như trường hợp Nguyễn Công Trứ ở huyện Tiền Hải, sẽ nói bên dưới).

    Ông Vươn đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vì thế thuộc diện người đang sử dụng đất ổn định (điều 4 phần 3), như vậy đã 17 năm qua.
    Qui định ông Vươn chỉ có 2 ha sử dụng là mâu thuẫn với thực tế. Thực tế ở đây là nhà nước hàm ý công nhận quyền sử dụng của ông Vươn trên toàn vùng đất mà ông này khai thác. Trong 17 năm nhà nước không phản đối, thì nhà nước đã chấp nhận thực tế đó.
    Nhà nước, qua cơ quan tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý. Nếu hôm nay nhà nước nói ngược lại, thì còn đâu là công lý?

    + Về thời hạn được sử dụng đất, theo tôi cũng không thể áp dụng trong trường hợp của ông Vươn. Bởi vì, trong 17 năm sử dụng, thời gian cải tạo khu vực đất không thể không chiết tính ra. Mặt khác, ông Vươn đã đầu tư rất nhiều công và của. Huê lợi thâu từ việc sử dụng đất vẫn chưa trả hết nợ.

    Khu vực sinh sống của ông Vươn đã được qui định theo điều 66, khoản 2,3 và 4, là « đất sử dụng ổn định lâu dài ». Mặt khác, điều 67 về thời hạn sử dụng đất, cho phép sử dụng đến 50 năm ở các loại cây trồng lâu dài. Trường hợp của ông Vươn thì luật không qui định, nhưng về tính hợp lý, cũng phải để cho ông Vươn sử dụng ít ra 50 năm. Với thời hiệu này ông Vươn mới có thể thâu được huê lợi tương xứng với công lao, của cải mà ông đã đổ xuống.

    Nhà nước không thể vịn vào bất kỳ lý cớ gì để thâu hồi đất này của ông Vươn, như đã nói ở phần 2. Vì nó không công bằng. Nếu đất đó để yên, không có ông Vươn ra sức cải tạo, thì không thể đưa vào sử dụng.

    + Ngày xưa, sẽ nói bên dưới, vua chúa có toàn quyền trên số phận của mỗi thần dân, nhưng cũng không có các hành vi bạo ngược trưng thâu đất tư điền một cách tự tiện. Huống chi ngày hôm nay, chế độ xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc là đem công bằng cho mọi người trong xã hội. Mà nguyên tắc của công bằng là, trước khi bảo vệ quyền sử dụng đất của mỗi người, thì phải tôn trọng đúng mức quyền sử dụng đất (thời hiệu sử dụng) của từng cá nhân.

    Như vậy còn đâu tính công bằng của XHCN do hiến pháp qui định mà nhà nước phải thực thi ?

    4/ Về “tư điền” và sở hữu toàn dân:

    + Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn, một tập tục ngàn năm của Việt Nam được lưu truyền từ đời này sang đời kia, đến trước thời xã hội chủ nghĩa :
    “Nếu có người tự đem sức lực của mình khai khẩn những nơi rừng rú bỏ hoang, khi đã thành điền phải khai rõ, liền cho phép coi như là “bản bức tư điền”. Chỉ nhà nước mới có quyền thu thóc tô, còn dân xã không được tranh ruộng tư ấy. Cái lệ ấy thành ra vĩnh viễn”.

    Tức đất hoang mà người dân bỏ công khai phá, như trường hợp ông Vươn, sẽ thuộc vào loại « bản bức tư điền », tức sẽ trở thành ruộng riêng của ông Vươn (và con cháu sau này của ông).

    Một trường hợp khai khẩn đất hoang ở nước ta, vào đầu thế kỷ 19, cần nhắc ở đây, là việc thành lập huyện Tiền Hải ở Nam Định của cụ Nguyễn Công Trứ. Huyện Tiền Hải trước kia vốn là một bãi đất bồi (bãi Tiền Châu), việc khai khẩn gọi là « doanh điền », do cụ Nguyễn Công Trứ hướng dẫn với sự ủng hộ của triều đình qua việc giúp đỡ tiền bạc và dụng cụ khai phá. Những người dân khai khẩn vùng đất mới bồi này, phần lớn được làm chủ các khoản đất do dọ tạo ra (gọi là tư điền) và có bổn phận đóng thuế cho nhà nước.

    + Dưới thời thực dân cũng thế, người dân nào khai khẩn đất hoang thì đất đó thuộc quyền sở hữu của người đó. Trong khi đó, chính quyền thực dân đã giúp đào kinh chằn chịt khắp nơi để cho dân xả nước phèn, biến một vùng đất phèn, đồng chua thành một kho lúa gạo to lớn của miền Nam hiện nay. Dưới thời Mỹ xâm lược, chế độ tay sai bán nước Mỹ-Diệm, họ cũng tổ chức các khu “doanh điền”, lập “đồn điền” ở Tây Nguyên, khuyến khích dân khai khẩn đất hoang, giúp tiền bạc, xây cất nhà cửa cho dân định cư. Tất cả đất khẩn hoang cũng như nhà cửa đều thuộc quyền sở hữu vĩnh viễn của người dân.

    + Trong khi dưới thời XHCN, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng lại do nhà nước quản lý.

    Trường hợp khai khẩn “khu vực đất” của ông Vươn thì không hề được sự giúp đỡ của nhà nước xã hội chủ nghĩa như trường hợp đất doanh điền ở Tiền Hải, đất khẩn hoang ở Nam bộ hay đất doanh điền, đồn điền ở Tây nguyên.

    Nếu thời trước các nhà nước phong kiến, thực dân hay tay sai bán nước Mỹ Ngụy không trưng thâu đất, mặc dầu việc khai khẩn là có sự trợ giúp của nhà nước về tài chánh và công cụ, thì hôm nay, nhà nước không hề giúp điều gì cho ông Vươn, thì tại sao lại thâu hồi ?

    Các qui định của xã hội chủ nghĩa có đi ngược lại đạo lý giống nòi hay không ?

    5/ Thủ tục thâu hồi đất, mâu thuẫn giữa XHCN và kinh tế thị trường:

    Như đã nói ở điều 2, việc khai khẩn của ông Vươn là một « công trình », gồm nhiều phần : con đê dài 2km, rừng vẹt, đầm nuôi cá, đất trồng trọt và đất xây dựng nhà cửa. Ngoài chi phí vật chất như tiền của, sức lao động, công trình này bao gồm hai thành quả: vật chất và trí tuệ.

    Ông Vươn là một kỹ sư. Nếu công trình này không có đóng góp của kiến thức khoa học và việc đầu tư suy nghĩ lâu dài thì khu đất này sẽ không bao giờ được thành tựu như thế. Nếu giao đất cho tay ngang, người này chưa chắc sẽ hình hung ra việc đóng cừ xây đê hay trồng cây vẹt để giữ đất, đó là chưa nói đến việc phải định hướng con đê như thế nào, trồng cây vẹt ra làm sao để khỏi bị sóng đập tan và giữ được đất. Tức công trình đó còn là một công trình của trí tuệ.

    Theo hiến pháp và luật định, đất đai sở hữu của toàn dân, do nhà nước quản lý. Nhưng vì có nền « kinh tế thị trường » và gia nhập WTO, do đó nhà nước VN phải tôn trọng các luật lệ do WTO qui định, (theo điều 3 khoản 2 bộ Luật đất đai 2003) trong đó có điều luật phải tôn trọng quyền sở hữu tài sản cũng như sở hữu trí tuệ của tư nhân.

    Nhà nước có thể thâu hồi đất mà bỏ qua quyền sở hữu trí tuệ cùng sở hữu tài sản của ông Vươn ? Không giải quyết ổn thỏa là tạo ra sự xung đột giữa hai bộ luật (luật quốc tế và luật quốc gia) mà theo lẽ VN phải đặt luật quốc tế lên trên.

    Mâu thuẫn ở đây là mâu thuẫn của nền “kinh tế thị trường” với định hướng “xã hội chủ nghĩa”.

    Nhưng sự mâu thuẫn này đã tạo ra tại VN một tầng lớp giàu mới do kinh doanh về đất đai. Con số này chiếm đến 40%. Như thế, việc này gián tiếp tạo cho VN một nền kinh tế què quặc, do việc tư bản nội địa không đầu tư vào kinh doanh hay sản xuất mà đầu tư vào một ngành không tạo ra công ăn việc làm hay của cải vật chất cho xã hội. Nó chỉ mở một môi trường tốt đẹp tại VN cho hàng hóa dỏm của TQ vào thống lĩnh thị trường.

    6/ Kết luận: Đôi điều với Thứ Trưởng Võ như thế. Theo tôi, về pháp luật, nếu có sự mâu thuẫn (như đã dẫn ra) thì ánh sáng công lý sẽ không bao giờ rọi dến các nơi tối tăm, ở các vùng sâu, xa, như ở xã Vinh Quang, huyện Tiên lãng, tỉnh Hải Phòng. Việc lên tiếng của ông Võ là một điều tốt, vì nó rất cần thiết cho việc xét xử ông Vươn. Nhưng ở những mâu thuẩn giữa đạo lý giống nòi với đạo lý xã hội chủ nghĩa hay giữa kinh tế XHCN và kinh tế thị trường thì cần điều chỉnh lại. Xã hội chủ nghĩa trên nền tảng Mác Lê đã đi vào quá khứ, do tính lỗi thời của nó. Nếu VN tiếp tục kéo dài, tầng lớp dân oan ngày càng lớn, các nỗi bất bình sẽ có ngày bùng nổ, trong khi lớp cường hào ác bá đỏ sẽ có môi trường tốt để hoành hành.

    Hy vọng nhiều người khác cũng sẽ lên tiếng như Thứ trưởng Võ. Đó cũng là việc công ích cho xã hội.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s