Thông báo về việc gửi quà tết đến gia đình anh Đoàn Văn Vươn

Nguyễn Xuân Diện

Theo: Blog xuandienhannom

Thưa chư vị,

Tết đã đến rất gần! Trong khi gia đình Anh Đoàn Văn Vươn (3 hộ) đang phải chịu cảnh tù tội, tan nát. Hoàn cảnh của anh khiến rất nhiều người bày tỏ sự cảm thông, chia sẻ và mong muốn được góp chút tiền để gia đình anh ăn Tết Nhâm Thìn 2012. Sáu anh công an, bộ đội của huyện Tiên Lãng bị thương trong vụ cưỡng chế vì làm theo lệnh trên, cũng đang phải điều trị tại bệnh viện.

Theo gợi ý của KTS Trần Thanh Vân và nhiều độc giả, tôi – Nguyễn Xuân Diện quyết định công bố tài khoản để tiếp nhận quà tặng bằng tiền của mọi người, như sau:

Tên tài khoản: NGUYỄN XUÂN DIỆN

Số tài khoản: 0021001727479

Tại: Phòng giao dịch số 4, Ngân hàng Ngoại thương Hà Nội  (Vietcombank)

Chúng tôi chỉ nhận tiền, sau đó sẽ mua quà tặng phù hợp để mang đến tận nhà, tặng gia đình Anh Vươn, gia đình em trai và em rể anh Vươn (gồm 3 hộ). Ngoài quà tặng, sẽ tặng cả bằng tiền mặt.

Chúng tôi cũng sẽ đến thăm và tặng quà 6 chiến sĩ bị thương trong khi thi hành công vụ theo lệnh cấp trên, trong vụ cưỡng chế vừa qua tại Tiên Lãng.

Trân trọng đề nghị chư vị, khi gửi tiền ghi rõ tên và địa chỉ, cùng nội dung “Quà Tết tặng gia đình Anh Vươn” để tiện việc theo dõi. Nếu vì lý do tế nhị, xin thông báo tại email:

lamkhanghn@yahoo.com.vn.

* Quý vị nào muốn số tiền của mình dành biếu tặng riêng gia đình anh Vươn (3 hộ) xin hãy ghi rõ tại phần nội dung, khi gửi tiền.

Toàn bộ thông tin về số tiền và việc sử dụng sẽ được công bố tại NXD- Blog và trang tin Anh Ba Sàm.

Nguyễn Xuân Diện – Blog kính báo!

Nguồn: xuandienhannom.blogspot.com

.

9 comments on “Thông báo về việc gửi quà tết đến gia đình anh Đoàn Văn Vươn

    • Trong lực lượng công an có nhiều loại người khác nhau:
      – ác bá
      – Thực hiên công vụ máy móc do bị tuyên truyền và hạn chế nhận thức
      – Có nhận thức, có suy nghĩ khi thực hiên công vụ nhưng do hoàn cảnh họ vẫn phải thừa hành công vụ
      – có người tốt
      Trong đấu tranh cần tranh thủ, phải phân hóa đối tượng ko những thế còn phải cảm hóa thuyết phục đông đảo quần chúng nữa
      Tóm lại phát là trong cuộc đấu tranh cho dân chủ, chúng ta cũng rất cần thái độ bình tĩnh, rộng lượng và khôn ngoan.

    • Bố cháu @danviet…đừng nói thế, anh Diện cứ hô hào thế cho nó “lành” thôi! chính anh ta cũng đang bị CA dọa bắt mà? có điều nhận được 100, anh ấy sẽ đưa 99 cho gia đình nhà ông Vươn ông Quý, cho các “chiến sĩ” 1 phần để lấy chỗ đi lại thì ai làm gì được anh Diện. Suy cho cùng mấy chú lính trẻ cũng chỉ là bia đỡ đạn thôi mà…

  1. CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
    Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
    ————————

    ĐƠN KIẾN NGHỊ
    V/v làm trái luật đất đai và nghị định của chính phủ của UBND quận Hà Đông

    Kính gửi: Đồng chí Trương Tấn Sang Chủ tịch nước, Ông Đặng Hùng Võ kính mến, ủy ban tư pháp của quốc hội và các cơ quan báo chí

    Tên tôi là Nguyễn Văn Tuyến – Đại tá, Công tác tại Ban quân y Học Viện chính trị. Số 124 đường Ngô Quyền, quận Hà Đông, TP Hà Nội.
    Gia đình tôi đang khiếu nại Quyết định số 8273/QĐ – UBND ngày 21/12/2009 của UBND quận Hà Đông, thu hồi 230 m2 của gia đình tôi để chia cho người khác. Quyết định này là trái với Nghị đinh 84/Chính phủ và QĐ 835 của tỉnh Hà Tây. Ngày 24/08/2011 Chính quyền quận Hà Đông và phường Hà Cầu đã dùng quyền lực của chế độ và phần tử xấu cưỡng chế nhà đất của tôi, cướp không 365 m2 đất có 70 m2 nhà cấp 4, trong khi chưa có kết luận của UBND TP Hà Nội. Mong ông xem xét việc kiến nghị của gia đình để đảm bảo sự công bằng, đúng pháp luật, quyền lợi của gia đình được đảm bảo. Tôi xin trình bày như sau:
    Nguồn gốc đất hiện gia đình tôi đang sử dụng: là đất tư nhân QSD đất cá thể ở tại xứ Đồng Trồi –Nó không phải đất 5% hay đất công (đất HTX giao theo chính sách nhà nước). Khu Đồng Trồi này HTX NN và UBND xã Hà Cầu cùng thị xã Hà Đông đã xác nhận và có dấu Quốc huy. Quá trình sử dụng: Từ năm 1973 đến nay thửa đất này gia đình tôi vẫn sử dụng. Vì không có chỗ ở cho vợ con cuối năm 1992 vợ chồng tôi đã san đất làm vườn, chăn nuôi và có xây dựng nhà cấp 4 để ở, xây tường bao ranh giới xung quanh, từ đó đến nay gia đình tôi không thấy bất cứ cơ quan có thẩm quyền nào có ý kiến, việc sử dụng đất của gia đình, không tranh chấp với tập thể và cá nhân nào. Tôi được quân đội chia cho 50 m2 phải bán để bồi bổ mảnh đất này. Mảnh đất này đã che trở, sinh lợi để nuôi các con tôi thành cán bộ đảng viên.
    Năm 2008 UBND tỉnh Hà Tây cũ có quyết định số 835/QĐ – UBND ngày 09/04/2008 về việc thu hồi 90.466,4m² đất của HTX nông nghiệp Cầu Đơ để thực hiện đầu tư XD hạ tầng khu đất để giao đất dịch vụ cho các hộ dân bị thu hồi đất……………….Tại Quyết định thể hiện các vị trí: – Khu Bãi sậy : 19.896m²; – Khu Bồ Hỏa: 16.806m²; – Khu Đồng Dưa: 53.763m². Quyết định 835 ghi rõ chủ thể bị thu hồi đất là đất công của HTX NN Cầu Đơ. Nhà đất gia đình tôi sử dụng là đất cá thể, vợ tôi không phải là xã viên làm ruộng nên không thuộc đối tượng là HTX quản lý theo qui định. Và không có xứ đồng Trồi trong QĐ số 835/QĐ. Tôi đã nhiều lần ý kiến với các cơ quan. Tại buổi làm việc với Cán bộ Thanh tra thành phố Hà Nội tôi đã đề cập đến toàn bộ nôi dung nêu trên. Biên bản ngày 07/03/2009 kiểm đếm tài sản của gia đình tôi do cô Phan Bích Thủy và cô Vũ thị Ngọc Hà là cán bộ địa chính và tài nguyên môi trường của phường ghi rõ: Nhà của tôi là 70 m2 nhà cấp 4, tường vây quanh và cổng sắt. Tổng diện tích đất là 351m2 có ảnh kèm theo. Tôi đã kê khai tài sản này tại đơn vị Học viện Chính trị từ năm 2007-2008
    Tại khoản 2,3,4 Điều 49; khoản 1,2,3,6,7 Điều 50 Luật đất đai năm 2003; Điều 48 Nghị Định 181/2004/NĐ-CP; Điều 14,15 Nghị định 84/2007/NĐ-CP; Điểm h Khoản 1, Điều 8 Nghị định 88/2009/NĐ-CP của Thủ tướng Chính phủ; Điều 6 Quyết định 02/2010/QĐ-UBND ngày 18/01/2010 của UBND Thành Phố Hà Nội thì việc sử dụng đất của gia đình tôi tại khu vực này phù hợp với qui hoạch, đủ điều kiện để được cấp giấy CNQSDĐ mà nhà nước qui định. Nhà nước không thu hồi loại đất như gia đình nhà tôi đang sử dụng rất rõ ràng.
    Không biết chính sách nào được Đảng và Nhà nước qui định là lấy đất ở của người đang ở để làm đất thổ cư giao cho người khác sử dụng ? Ông Nguyễn trường Sơn PCT quận đã mài quyền lực của chế độ để trục lợi trái phép, gây rối loạn địa phương và tổn thất quyền lợi chính đáng cho gia đình tôi. Ông Sơn còn lập lờ giữa khái niệm mục đích sử dụng đất và quyền sở hữu đất đai hòng thôn tính trục lợi, cho “nhóm lợi ích”.
    Thưa Ông quận phường tranh chấp với gia đình tôi thì vô lý quá. Chính quyền hành sự kiểu lợi cho quan, thiệt cho dân mất dân chủ quá. Luật, nghị định và các quyết định của TP nêu trên vẫn còn hiệu lực. Ông đã biết cuối những năm 80 đầu những năm 90 đất nước khó khăn như thế nào! bộ đội chúng tôi đâu dám kêu ca gì! Năm 1992 tôi phải san đất làm nhà tạm để có chỗ ở cho vợ con. Đời lính của tôi đã 6 năm ở chiến trường Campuchia hơn 30 quân ngũ để góp phần dành lại chủ quyền cho đất nước, để rồi hôm nay sang lĩnh vực việc đời thường hôm nay được những người “cán bộ phường quận” thực hiện chính sách không đúng với những gì mà Đảng và Nhà nước qui định rõ ràng, cụ thể. Tôi rất tin tưởng vào Ông là người của dân, vì vậy tôi có ý kiến đến ông mong ông lưu ý một số kiến nghị của tôi như sau:
    – Đề nghị Ông yêu cầu các sở TN-MT, Tư pháp, Công an… xác minh làm rõ những vị trí khu đất thu hồi theo Quyết định số 835/QĐ ngày 09/4/2008 của UBND tỉnh Hà Tây. Đo đạc lại theo tỷ lệ 1/500 và nhà tôi có thuộc 245 hộ có đất nông nghiệp được giao mà HTX quản lý nay bị thu hồi không, trả lại quyền lợi chính đáng cho tôi, .
    – Tôi thấy cần phải đối thoại có các sở ban ngành cơ quan báo chí để khách quan và giải quyết sao cho hài hòa đúng luật. Nhà đất của tôi sớm được làm sổ đỏ. Tôi không muốn làm ảnh hưởng đến danh dự của Người bộ đội cụ Hồ, không muốn phải để Lãnh đạo Thành phố Hà Nội băn khoăn đối với việc của gia đình tôi và mong có sự sáng suốt. Nay đang giải quyết ở thành phố thì quận Hà Đông ra quyết định cưỡng chế nhà tôi. Tôi lùi nhưng “quan tham không chịu dừng”, chính quyền đã bất chấp kỷ cương phép nước làm liều.
    – Nhà cửa không có phải đi thuê cho vợ con thì sử thế nào. Tôi bức xúc vì làm mất lòng tin của lớp trẻ vào Đảng ta, làm bức xúc trong dư luận và đây là gây nên tự diễn biến hòa bình. Tôi thiết tha đề nghị các ông và các cơ quan báo chí vào cuộc. không giải quyết hậu quả thế nào tôi không chịu trách nhiệm. Đảng đâu rồi Bác đây rồi Mà nay đại tá một người chết thương
    Nhà đất của tôi không nằm trong diện thu hồi theo quyết định 835 vì: 1. Vị trí từ xưa đều gọi là đồng Trồi; 2.Dấu đỏ Quốc huy, chữ ký của cán bộ xã, thị xã là Đồng Trồi; 3.Thực tế diện tích dự án theo quyết định 835 dư ra trên 2000m2. 4. Nhà đất do ông cha để lại không vào HTXNN- đất cá thể. Nhà đất của tôi không ảnh hưởng gì đến dự án, không có tranh chấp. Diện tích thực tế của gia đình tôi là 356m2 và các công trình xây dựng từ hơn 20 năm nay. Nay Chính quyền Hà Đông làm liều dùng quyền lực Nhà nước trục lợi, thôn tính nhà đất của tôi để chia cho những người có quyền lực thì tôi chỉ có tự thiêu theo ông Quảng Đức.
    Tôi đi chiến đấu, theo Đảng, Bác Hồ ước mơ sẽ xây dựng một phòng khám từ thiện cho dân nghèo tại mảnh đất này vừa kiếm sống vừa làm việc thiện cho dân. Vì quyền lợi chính đáng của gia đình tôi và đây là phần xương máu của tôi bao năm nơi chiến trường, trong quân ngũ, đúng với đạo đức Bác Hồ, tôi rất mong Ông xem xét thật công minh, đảm bảo đúng pháp luật để gia đình tôi ổn định cuộc sống, bản thân tôi yên tâm công tác.
    Kính mong sự quan tâm xem xét của các Ông. Tôi xin chân thành cảm ơn./
    Hà Đông, ngày 15 tháng 01 năm 2012
    Người làm đơn

    Bs Nguyễn Văn Tuyến

  2. Gửi tới GĐ anh Vươn và những người bị CQCS hại một phần quà tết,cũng được coi như đã tự góp với mùa xuân thêm một bông hoa.

  3. http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/01/oi-ieu-thua-voi-ong-ang-hung-vo.html

    ĐÔI ĐIỀU THƯA VỚI ÔNG ĐẶNG HÙNG VÕ
    Trương Nhân Tuấn.

    Cựu thứ trưởng Đặng Hùng Võ vừa lên tiếng về vụ Đoàn Văn Vươn trên báo Tuổi Trẻ hôm qua là một điều đáng mừng. Ý kiến của ông Võ dễ thuyết phục vì không dựa lên tình cảm mà dựa lên luật lệ nhà nước. Hy vọng các cơ quan hữu trách theo tinh thần của Thứ trưởng Đặng Hùng Võ để giải quyết thỏa đáng vấn đề này. Tuy vậy, các ý kiến của ông Võ, trên phương diện kỹ thuật, theo tôi vẫn có một vài lấn cấn, không phải do kiến thức, mà đến từ “cơ chế” của nhà nước. Tôi nghĩ rằng luật lệ áp dụng cho trường hợp “thu hồi đất” của ông Vươn có một số điều mâu thuẫn, nhất là các điểm về thể lệ giao đất, diện tích tối đa đất được giao, thời hạn được sử dụng đất, phương thức thâu hồi đất… Ngoài ra còn có những mâu thuẫn giữa tính công bằng của xã hội chủ nghĩa với quyền tư hữu của kinh tế thị trường, hoặc giữa « tư điền » là tập tục ngàn năm của dân tộc Việt với « sở hữu đất đai thuộc về toàn dân » của chủ nghĩa xã hội. Nếu đúng như tôi nghĩ, trường hợp cá biệt của Đoàn Văn Vươn, nếu chỉ dựa hoàn toàn trên pháp luật (mà pháp luật có điều không ổn) thì việc giải quyết chắc chắn sẽ gây nên những điều oan ức. Việc nổ súng đáng tiếc trong khi giải tỏa đất đã nói trước việc này. Hy vọng ông Võ (hay người có thẩm quyền khác) sẽ lên tiếng giải thích. Các thắc mắc của tôi gồm các điểm:

    1/ Phân loại khu vực đất:

    Thứ trưởng Đặng Hùng Võ nhận xét: “theo Luật đất đai năm 1993, cụ thể là theo nghị định 64 về việc giao đất sản xuất đối với đối tượng ở đây là giao đất sản xuất trồng cây hằng năm, nuôi trồng thủy sản, làm muối… “

    Tôi nghĩ khác. Khu vực gọi là “đất” mà ông Vươn sử dụng từ năm 1993 không thuộc vào bất kỳ một loại “đất” nào đã được qui định theo điều 11 bộ Luật đất đai năm 1993 hay điều 13 bộ Luật đất đai năm 2003.

    Thật vậy, trước khi « khu vực đất » này được giao cho ông Vươn thì nó không thể gọi là « đất » để « trồng cây hàng năm », cũng không thể gọi đơn thuần là « đầm » để « nuôi trồng thủy sản », và nó cũng không thể sử dụng vào việc « làm muối » như Thứ Trưởng Võ đã nói. Nếu chiếu theo Luật Hồng Đức thì khu vực này không thuộc diện « điền » (không thể trồng trọt hay làm muối – diêm điền), cũng không thuộc diện « thổ » (không thể định cư), và cũng không thuộc diện « trạch » (không thể nuôi cá).

    Đây là một khu vực đất đang bồi, thường xuyên ngập nước biển và hàng năm chịu nhiều thiên tai bão lụt. Theo luật của các (nước Tây phương) hay Luật về thổ trạch ở VN các thời kỳ trước, vì lý do an ninh, các vùng đất này không được nhà nước cấp cho dân, hay không khuyến khích cho dân khai hoang, vỡ hóa… nhằm định cư hay khai thác kinh tế.
    Vấn đề đặt ra, theo pháp luật, nhà nước có thể cấp cho ông Vươn khai thác « khu vực đất » đó hay không? Nhà nước có trách nhiệm gì nếu tai nạn do thiên tai (bão, lụt) đổ xuống?

    2/ Tính không hợp lý của việc thâu hồi đất trong bộ Luật về đất đai.

    Nhưng “khu vực đất” này vẫn được chính quyền địa phương Hải Phòng cấp cho ông Vươn khai thác, bất chấp những hiểm nguy có thể gây ra cho cá nhân và gia đình ông Vươn.

    Để biến khu vực “đất không thể sinh sống” thành một khu vực xếp vào hạng “điền trạch” (tức vừa định cư vừa nuôi thủy sản), ông Vươn đã sử dụng kiến thức kỹ sư của mình để làm các việc sau :
    a) Đắp một con đê dài 2 cây số để ngăn lũ lụt, (con đê này đem lại lợi ích cho nhiều gia đình lân cận, chứ không hẳn cho cá nhân ông Vươn)
    b) Trồng cây vẹt để giữ đất bồi đồng thời để che bão
    c) Đổ đất, cát, đá… làm nền
    Làm các công trình (a) và (b) ông Vươn đã biến một vùng bờ biển hiểm nguy thành một cái « trạch » (đầm nước) có an ninh. Công trình (c) biến một góc « trạch » thành « điền » (đất trồng trọt) và “thổ” (đất xây cất). Sau 17 năm gầy dựng, ông Vươn đã tạo ra một « khu vực điền – thổ – trạch » có diện tích là 40 ha. Điều đáng chú ý là khu vực này, theo lời dân sống ở đó, trước khi giao cho ông Vươn, “nhà nước không dám khai phá”.

    Nhà nước thâu hồi đất này dựa trên điều 6 Luật đất đai 2003, theo qui định khoản đ) « chuyển mục đích sử dụng đất » hay các điều qui định ở mục 4. Dĩ nhiên nhà nước có quyền, theo Hiến pháp và Luật, nhưng thử đặt giả thuyết : nếu « khu vực đất » đó không giao cho ông Vươn, tức vẫn còn là một vùng đầm lầy phủ sóng và luôn chịu gió bão, liệu nhà nước có qui hoạch hay lên kế hoạch sử dụng khu vực này hay không ?
    Nếu câu trả lời là “không” thì không có lý do gì nhà nước hôm nay lại thâu hồi khu vực đất ấy.

    Trong khi điều 12 qui định: Nhà nước có chính sách khuyến khích người sử dụng đất đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng thành tựu khoa học và công nghệ để “Khai hoang, phục hoá, lấn biển, đưa diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước hoang hoá vào sử dụng” (khoản 1)
    Ông Vươn đã tin tưởng vào điều luật đó, đã đem kiến thức khoa học, tiền vốn và công sức để làm các điều mà nhà nước khuyến khích.
    Vậy mà nhà nước đã có quyết định thâu hồi (trong khi thời hạn sử dụng chưa mãn).
    Người ta không thể vừa “khuyến khích” vừa “thâu hồi “. Ở đây “khuyến khích” có nghĩa là cho làm, “thâu hồi” có nghĩa là không cho làm. Mâu thuẫn ở đây khá rõ rệt. Việc này làm mất niềm tin của dân chúng vào nhà nước và luật của nhà nước?

    3/ Về diện tích sử dụng đất và thời hạn sử dụng:

    Thứ trưởng Võ nói rằng “thời hạn giao đất được Luật đất đai quy định là 20 năm.” … “Luật quy định hạn mức được giao đối với một hộ gia đình cá nhân không được vượt quá 2ha”.

    + Về diện tích đất được giao. Khu vực đất của ông Vươn tạo nên là do công sức của ông và gia đình trong việc đắp con đê dài 2km để ngăn lũ và trồng các hàng cây vẹt để giữ đất. Đất của ông Vươn tân tạo được tính từ con đê chận lũ.

    Đặt giả thuyết, nếu nhà nước lúc đầu đã qui định ông Vươn chỉ được giao 2 ha đất, thì chắc chắn ông Vươn sẽ không nhận. Vì nhận cũng không làm được gì! Muốn cải tạo đất thì phải làm con đê chận lũ và trồng vẹt giữ đất bồi. Tức là, hoặc ông Vươn tân tạo được 40 ha đất thổ trạch, hoặc không tạo ra khoảnh đất nào cả. Không ai bỏ công sức làm con đê, trồng rừng vẹt để nhận 2 ha, ngoại trừ việc nhà nước bỏ công để làm (như trường hợp Nguyễn Công Trứ ở huyện Tiền Hải, sẽ nói bên dưới).

    Ông Vươn đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vì thế thuộc diện người đang sử dụng đất ổn định (điều 4 phần 3), như vậy đã 17 năm qua.
    Qui định ông Vươn chỉ có 2 ha sử dụng là mâu thuẫn với thực tế. Thực tế ở đây là nhà nước hàm ý công nhận quyền sử dụng của ông Vươn trên toàn vùng đất mà ông này khai thác. Trong 17 năm nhà nước không phản đối, thì nhà nước đã chấp nhận thực tế đó.
    Nhà nước, qua cơ quan tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý. Nếu hôm nay nhà nước nói ngược lại, thì còn đâu là công lý?

    + Về thời hạn được sử dụng đất, theo tôi cũng không thể áp dụng trong trường hợp của ông Vươn. Bởi vì, trong 17 năm sử dụng, thời gian cải tạo khu vực đất không thể không chiết tính ra. Mặt khác, ông Vươn đã đầu tư rất nhiều công và của. Huê lợi thâu từ việc sử dụng đất vẫn chưa trả hết nợ.

    Khu vực sinh sống của ông Vươn đã được qui định theo điều 66, khoản 2,3 và 4, là « đất sử dụng ổn định lâu dài ». Mặt khác, điều 67 về thời hạn sử dụng đất, cho phép sử dụng đến 50 năm ở các loại cây trồng lâu dài. Trường hợp của ông Vươn thì luật không qui định, nhưng về tính hợp lý, cũng phải để cho ông Vươn sử dụng ít ra 50 năm. Với thời hiệu này ông Vươn mới có thể thâu được huê lợi tương xứng với công lao, của cải mà ông đã đổ xuống.

    Nhà nước không thể vịn vào bất kỳ lý cớ gì để thâu hồi đất này của ông Vươn, như đã nói ở phần 2. Vì nó không công bằng. Nếu đất đó để yên, không có ông Vươn ra sức cải tạo, thì không thể đưa vào sử dụng.

    + Ngày xưa, sẽ nói bên dưới, vua chúa có toàn quyền trên số phận của mỗi thần dân, nhưng cũng không có các hành vi bạo ngược trưng thâu đất tư điền một cách tự tiện. Huống chi ngày hôm nay, chế độ xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc là đem công bằng cho mọi người trong xã hội. Mà nguyên tắc của công bằng là, trước khi bảo vệ quyền sử dụng đất của mỗi người, thì phải tôn trọng đúng mức quyền sử dụng đất (thời hiệu sử dụng) của từng cá nhân.

    Như vậy còn đâu tính công bằng của XHCN do hiến pháp qui định mà nhà nước phải thực thi ?

    4/ Về “tư điền” và sở hữu toàn dân:

    + Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn, một tập tục ngàn năm của Việt Nam được lưu truyền từ đời này sang đời kia, đến trước thời xã hội chủ nghĩa :
    “Nếu có người tự đem sức lực của mình khai khẩn những nơi rừng rú bỏ hoang, khi đã thành điền phải khai rõ, liền cho phép coi như là “bản bức tư điền”. Chỉ nhà nước mới có quyền thu thóc tô, còn dân xã không được tranh ruộng tư ấy. Cái lệ ấy thành ra vĩnh viễn”.

    Tức đất hoang mà người dân bỏ công khai phá, như trường hợp ông Vươn, sẽ thuộc vào loại « bản bức tư điền », tức sẽ trở thành ruộng riêng của ông Vươn (và con cháu sau này của ông).

    Một trường hợp khai khẩn đất hoang ở nước ta, vào đầu thế kỷ 19, cần nhắc ở đây, là việc thành lập huyện Tiền Hải ở Nam Định của cụ Nguyễn Công Trứ. Huyện Tiền Hải trước kia vốn là một bãi đất bồi (bãi Tiền Châu), việc khai khẩn gọi là « doanh điền », do cụ Nguyễn Công Trứ hướng dẫn với sự ủng hộ của triều đình qua việc giúp đỡ tiền bạc và dụng cụ khai phá. Những người dân khai khẩn vùng đất mới bồi này, phần lớn được làm chủ các khoản đất do dọ tạo ra (gọi là tư điền) và có bổn phận đóng thuế cho nhà nước.

    + Dưới thời thực dân cũng thế, người dân nào khai khẩn đất hoang thì đất đó thuộc quyền sở hữu của người đó. Trong khi đó, chính quyền thực dân đã giúp đào kinh chằn chịt khắp nơi để cho dân xả nước phèn, biến một vùng đất phèn, đồng chua thành một kho lúa gạo to lớn của miền Nam hiện nay. Dưới thời Mỹ xâm lược, chế độ tay sai bán nước Mỹ-Diệm, họ cũng tổ chức các khu “doanh điền”, lập “đồn điền” ở Tây Nguyên, khuyến khích dân khai khẩn đất hoang, giúp tiền bạc, xây cất nhà cửa cho dân định cư. Tất cả đất khẩn hoang cũng như nhà cửa đều thuộc quyền sở hữu vĩnh viễn của người dân.

    + Trong khi dưới thời XHCN, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng lại do nhà nước quản lý.

    Trường hợp khai khẩn “khu vực đất” của ông Vươn thì không hề được sự giúp đỡ của nhà nước xã hội chủ nghĩa như trường hợp đất doanh điền ở Tiền Hải, đất khẩn hoang ở Nam bộ hay đất doanh điền, đồn điền ở Tây nguyên.

    Nếu thời trước các nhà nước phong kiến, thực dân hay tay sai bán nước Mỹ Ngụy không trưng thâu đất, mặc dầu việc khai khẩn là có sự trợ giúp của nhà nước về tài chánh và công cụ, thì hôm nay, nhà nước không hề giúp điều gì cho ông Vươn, thì tại sao lại thâu hồi ?

    Các qui định của xã hội chủ nghĩa có đi ngược lại đạo lý giống nòi hay không ?

    5/ Thủ tục thâu hồi đất, mâu thuẫn giữa XHCN và kinh tế thị trường:

    Như đã nói ở điều 2, việc khai khẩn của ông Vươn là một « công trình », gồm nhiều phần : con đê dài 2km, rừng vẹt, đầm nuôi cá, đất trồng trọt và đất xây dựng nhà cửa. Ngoài chi phí vật chất như tiền của, sức lao động, công trình này bao gồm hai thành quả: vật chất và trí tuệ.

    Ông Vươn là một kỹ sư. Nếu công trình này không có đóng góp của kiến thức khoa học và việc đầu tư suy nghĩ lâu dài thì khu đất này sẽ không bao giờ được thành tựu như thế. Nếu giao đất cho tay ngang, người này chưa chắc sẽ hình hung ra việc đóng cừ xây đê hay trồng cây vẹt để giữ đất, đó là chưa nói đến việc phải định hướng con đê như thế nào, trồng cây vẹt ra làm sao để khỏi bị sóng đập tan và giữ được đất. Tức công trình đó còn là một công trình của trí tuệ.

    Theo hiến pháp và luật định, đất đai sở hữu của toàn dân, do nhà nước quản lý. Nhưng vì có nền « kinh tế thị trường » và gia nhập WTO, do đó nhà nước VN phải tôn trọng các luật lệ do WTO qui định, (theo điều 3 khoản 2 bộ Luật đất đai 2003) trong đó có điều luật phải tôn trọng quyền sở hữu tài sản cũng như sở hữu trí tuệ của tư nhân.

    Nhà nước có thể thâu hồi đất mà bỏ qua quyền sở hữu trí tuệ cùng sở hữu tài sản của ông Vươn ? Không giải quyết ổn thỏa là tạo ra sự xung đột giữa hai bộ luật (luật quốc tế và luật quốc gia) mà theo lẽ VN phải đặt luật quốc tế lên trên.

    Mâu thuẫn ở đây là mâu thuẫn của nền “kinh tế thị trường” với định hướng “xã hội chủ nghĩa”.

    Nhưng sự mâu thuẫn này đã tạo ra tại VN một tầng lớp giàu mới do kinh doanh về đất đai. Con số này chiếm đến 40%. Như thế, việc này gián tiếp tạo cho VN một nền kinh tế què quặc, do việc tư bản nội địa không đầu tư vào kinh doanh hay sản xuất mà đầu tư vào một ngành không tạo ra công ăn việc làm hay của cải vật chất cho xã hội. Nó chỉ mở một môi trường tốt đẹp tại VN cho hàng hóa dỏm của TQ vào thống lĩnh thị trường.

    6/ Kết luận: Đôi điều với Thứ Trưởng Võ như thế. Theo tôi, về pháp luật, nếu có sự mâu thuẫn (như đã dẫn ra) thì ánh sáng công lý sẽ không bao giờ rọi dến các nơi tối tăm, ở các vùng sâu, xa, như ở xã Vinh Quang, huyện Tiên lãng, tỉnh Hải Phòng. Việc lên tiếng của ông Võ là một điều tốt, vì nó rất cần thiết cho việc xét xử ông Vươn. Nhưng ở những mâu thuẩn giữa đạo lý giống nòi với đạo lý xã hội chủ nghĩa hay giữa kinh tế XHCN và kinh tế thị trường thì cần điều chỉnh lại. Xã hội chủ nghĩa trên nền tảng Mác Lê đã đi vào quá khứ, do tính lỗi thời của nó. Nếu VN tiếp tục kéo dài, tầng lớp dân oan ngày càng lớn, các nỗi bất bình sẽ có ngày bùng nổ, trong khi lớp cường hào ác bá đỏ sẽ có môi trường tốt để hoành hành.

    Hy vọng nhiều người khác cũng sẽ lên tiếng như Thứ trưởng Võ. Đó cũng là việc công ích cho xã hội.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s