Vụ cưỡng chế Đoàn Văn Vươn, câu chuyện người đi săn biết ăn thịt chó


J.B Nguyễn Hữu Vinh

Theo: NVCL

“Vâng, ở đây đúng là nhà nước đúng là một ông chủ “gặt chỗ không gieo, thu nơi không phát” một cách bất chính bằng chính sách đất đai không minh bạch và công bằng với công cụ là đám quan chức địa phương lộng hành cát cứ.”

Những khía cạnh về luật pháp trong vụ việc này, đã có khá nhiều bài viết phân tích cụ thể, chi tiết từ việc đất đai cho thuê sai, thu hồi cũng sai. Từ việc cưỡng chế sai đến việc đàn áp người dân cũng mất đạo đức. Tất cả đều được công luận chú ý và lên án.

 Vụ án ông Đoàn Văn Vươn chống lại việc cưỡng chế của UBND Huyện Tiên Lãng, Hải Phòng bằng mìn và súng đã làm nóng dư luận cả nước mấy ngày qua. Có thể nói ít có vụ án nào mà báo chí “lề phải” và “lề trái’ đồng loạt lên án một cách mạnh mẽ như vậy.


Chiếm cướp đất của anh Đoàn Văn Vươn sáng 5/1/2012

Trên báo chí Nhà nước, vài tờ báo “chính thống” quan trọng mang “phương diện Quốc gia” như Đài Truyền Hình Việt Nam, Công an Nhân dân…  vẫn cố tình bất chấp các quy định luật pháp và đạo đức để kết tội nạn nhân Đoàn Văn Vươn và gia đình một cách tàn nhẫn.

Điều này cũng dễ hiểu khi chức năng của nó hình như chỉ đi bênh vực những việc làm trái đạo lý, bất chấp luật pháp. Điển hình như những vụ Tòa Khâm sứ, Thái Hà, những vấn đề cướp chiếm đất khắp nơi tạo thành dân oan, vụ Cù Huy Hà Vũ, những người biểu tình yêu nước chống Trung Quốc… đã bị bóp méo và nói ngược với sự thật bằng những lời vu cáo, bịa đặt. Ngược lại những vụ như Hoàng Thùy Linh bị tung phim sex cùng với con trai một cán bộ công an lên mạng, thì nhà đài đã tổ chức một buồi truyền hình đưa nhân vật chính trong đoạn phim đó lên khóc nỉ non, ỉ ôi rằng “em không có tội”. Giải thích điều này, một người giải đáp: “Có gì là lạ đâu, mới đây, trên mạng internet đã có nhiều bài viết về việc Truyền hìn quốc gia vẫn đưa một phóng viên có tiền sự ăn cắp lên giáo dục đạo đức, văn hóa đó thôi. Chỉ điều đó là đủ hiểu”.


Đài Truyền hình VN chia tay nhân vật chính của đoạn phim sex: “Em không có tội”

Điều này cũng dễ hiểu khi chức năng của nó hình như chỉ đi bênh vực những việc làm trái đạo lý, bất chấp luật pháp. Điển hình như những vụ Tòa Khâm sứ, Thái Hà, những vấn đề cướp chiếm đất khắp nơi tạo thành dân oan, vụ Cù Huy Hà Vũ, những người biểu tình yêu nước chống Trung Quốc… đã bị bóp méo và nói ngược với sự thật bằng những lời vu cáo, bịa đặt. Ngược lại những vụ như Hoàng Thùy Linh bị tung phim sex cùng với con trai một cán bộ công an lên mạng, thì nhà đài đã tổ chức một buồi truyền hình đưa nhân vật chính trong đoạn phim đó lên khóc nỉ non, ỉ ôi rằng “em không có tội”. Giải thích điều này, một người giải đáp: “Có gì là lạ đâu, mới đây, trên mạng internet đã có nhiều bài viết về việc Truyền hìn quốc gia vẫn đưa một phóng viên có tiền sự ăn cắp lên giáo dục đạo đức, văn hóa đó thôi. Chỉ điều đó là đủ hiểu”.

Còn lại những tờ báo khác đều đồng loạt nêu lên những điểm trái luật pháp, đạo đức và lương tâm con người trong vụ việc. Nhiều nhân sĩ, trí thức, luật sư, cựu quan chức đã lên tiếng về một vụ việc nói lên một hiện tượng trong xã hội: Quyền sở hữu và tư hữu về đất đai, đồng thời với hiện tượng người dân bị đẩy đến bước đường cùng.

Trở lại vụ việc Đoàn Văn Vươn, vì đâu nên nỗi? Vì sao một người được nhân dân yêu mến, được xã hội đánh giá cao trong những việc làm ích nước lợi dân lại bị đẩy vào cuối chân tường?

Cách đây hai mươn năm, Đoàn Văn Vươn bỏ tấm bằng kỹ sư đến vùng ven biển đầy bão gió xã Vinh Quang để quai đê lấn biển. Từ nhà anh đến vùng này, khoảng cách là chừng 12 km. Giữa trùng dương bão tố, anh đem không chỉ sức mình mà cả sức lực anh em trong nhà, vạy mượn nợ nần để làm công việc dã tràng xe cát. Kể đến công sức, mồ hôi nước mắt anh bỏ ra ở đây, không một ai không xót xa và thán phục.


Cơ ngơi của anh Đoàn Văn Vươn sau mấy chục năm lấn biển

Năm 1993, Đoàn Văn Vươn lấy vợ người xã Vinh Quang, thuộc họ đạo Thái Bình, giáo xứ Súy Nẻo, rồi từ đó anh cùng gia đình ở luôn chỗ này để lấn biển lấy đất mưu sinh. Con gái anh mới 8 tuổi học lớp 2 đã phải mất mạng vì ao, đầm anh đào đắp lấn biển. Đứa cháu anh đến chơi không may cũng ngã vào ao đầm và chết ở đó. Như vậy, ở mảnh đầm anh đã bỏ công ra để hôm nay nhà cầm quyền quyết định “thu hồi” còn có cả xương máu, tính mạng của con cái, người thân của anh.

Thế rồi, Trời không phụ lòng anh, mảnh đất hình thành, ao đầm đẹp đẽ, công nợ bắt đầu đổ lên đầu anh do vay mượn đầu tư hòng có thu nhập thành quả. Thành quả chưa đến, thì nhà cầm quyền ra lệnh “thu hồi”.

Nhớ đến việc này, tôi chợt nhớ câu nói của chị vợ ông Phùng Gia Lộc ở Thanh Hóa cách đây gần 30 năm trước: “Có biết thế này, đái tòe tòe vào, chứ tội gì lôi về. Cha đời! Bữa trước thì tuyên bố vớt được nấy ăn nấy, người ta mới hụp lặn xuống nước lụt mà khở (gở) từng bông lúa. Nay lại giở trò giảm tỷ lệ!”. Anh Vươn không chỉ giảm tỷ lệ mà từ biển, anh tạo thành đất đầm ao, rồi nhà nước “thu hồi”.

Vâng, ở đây đúng là nhà nước đúng là một ông chủ “gặt chỗ không gieo, thu nơi không phát” một cách bất chính bằng chính sách đất đai không minh bạch và công bằng với công cụ là đám quan chức địa phương lộng hành cát cứ.

Những khía cạnh về luật pháp trong vụ việc này, đã có khá nhiều bài viết phân tích cụ thể, chi tiết từ việc đất đai cho thuê sai, thu hồi cũng sai. Từ việc cưỡng chế sai đến việc đàn áp người dân cũng mất đạo đức. Tất cả đều được công luận chú ý và lên án.

Vợ ông Vươn, chị Thương cho chúng tôi biết: “Khi đoàn cưỡng chế xuống đầm, thì anh Vươn không có mặt ở đó mà đang đi khiếu nại rồi bị bắt ở Viện Kiểm sát. Còn hai chị em là em và em dâu, cháu và anh trai em cùng một đứa con đang đi học thì đang đứng trên đê với mọi người. Khi không bắt được mấy anh em, thì họ đến bắt hai chị em em và anh trai ông Vươn tên là Đoàn Văn Thịnh. Họ khóa tay lại bằng còng số 8 đưa ra thành phố, vừa đi và bị đánh đập đau lắm”.

Thế rồi căn nhà ở ngoài diện tích cưỡng chế cũng đã bị san phẳng bằng cả sự hận thù ghê gớm, những viên gạch ám khói, những đống tro tàn cho thấy đã bị đốt hoặc nổ trước khi san bằng. Lý giải về điều này, theo chủ tịch huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền thì bởi căn nhà đó có chứa những người chống đối. Thật lạ đời cho cách giải thích của người đứng đầu một huyện trong một “nhà nước pháp quyền”. Cũng may mà những anh em nhà ông Vươn không tranh thủ thời gian bỏ trốn đó chạy lên Hà Nội trốn vào Lăng Hồ Chí Minh hoặc Hội trường Ba Đình. Nếu có chạy lên trốn đó, thì ông Lê Văn Hiền có dám cho san phẳng như vậy không nhỉ?


Trước…


Cưỡng chế..

Đốt, cháy, phá

Và sau cưỡng chế
Những thông tin trên mạng internet đã cho thấy ở vụ việc này, không hiện diện luật pháp, thiếu đạo đức và càng không có công lý.

Chuyện ông Đoàn Văn Vươn bị áp bức ra sao, những động cơ và hành động đó như thế nào, nhiều người đã nói đến, báo chí đã nói nhiều. Ở đây tôi muốn tìm hiểu một khía cạnh về hoàn cảnh và sự trớ trêu của ông Vươn.

Trong bài viết trước ” Đoàn Văn Vươn cần được xét xử “tội ngu” trước tội giết người(!)“, chúng tôi chưa rõ thân thế của anh Đoàn Văn Vươn, trên báo chí nhà nước đã ca ngợi anh là “một cựu quân nhân, kỹ sư nông lâm, sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng”. Chúng tôi thấy vậy là anh Vươn có thể tiến xa trên con đường quan chức, con đường phục vụ đảng và nhà nước trong những việc như UBND Xã Vinh Quang và Huyện Tiên Lãng vừa làm với anh và gia đình.

Thế nhưng, qua nói chuyện với vợ anh, chị Thương, chúng tôi mới biết mình đã nhầm, anh là người Công giáo.

Qua trao đổ với chúng tôi, Linh mục Gioan Baotixita Ngô Văn Chuẩn, chính xứ Súy Nẻo cho biết: “Ông Vươn đã lặn lội ra đầm cách đây vài chục năm, thỉnh thoảng những ngày lễ trọng ông có về và gặp cha xứ, còn bình thường ông bận rộn với việc đầm phá và đưa cả gia đình ra đó ở. Ở đó thuộc họ đạo Thái Bình. Nói chung, gia đình ông có có 5 anh em trai và hai chị em gái, mấy anh em nhà ông Vươn đều là những người tốt, chăm chỉ, tích cực nhiệt tình và được bà con nhân dân quý mến”.

Gia đình anh được báo chí tuyên dương là có truyền thống cách mạng kể cũng không sai. Bố anh, ông Đoàn Văn Thiểu, đã từng cả đời “theo đảng đến cùng”, cống hiến cho đảng tất cả với chức Bí thư Đảng ủy xã và đã chết cách đây 6 năm sau khi về hưu.

Ông chú rể của ông Đoàn Văn Vươn (chồng bà cô ruột) là ông Đoàn Xuân Lễnh, hiện là quan chức của nhà nước đang nắm giữ một tổ chức cô hồn, mạo danh là “Ủy ban Đoàn kết Công giáo Hải Phòng” với chức danh Phó Chủ tịch. Cái chức vụ này không phải ai cũng có thể làm, một người công giáo chân chính ít khi đảm đương đến chức đó. Ông còn là Hội thẩm nhân dân Tòa án Nhân dân Hải Phòng. Như vậy, thế hệ trước của gia đình anh đã có những đóng góp lớn cho nhà nước này trong cả các mặt về đảng và về đạo.

Nếu như trong một gia đình như vậy, anh Vươn cứ theo gương bố anh leo lên chức Bí thư Đảng ủy hoặc cao hơn, anh hoàn toàn có thể leo lên được với tấm bằng kỹ sư về nông thôn lúc bấy giờ, thì hôm nay có lẽ anh là người cầm súng đi cưỡng chế chứ không phải là nạn nhân.

Nhưng, có lẽ cuộc đời bố anh theo đảng đã để lại cho anh em anh một bài học nào đó, nên tất cả 7 anh em nhà anh không ai là đảng viên. Có lẽ vì vậy mà anh đã biết trước và chọn cho mình một lối đi tưởng như an toàn là tự lực cánh sinh, dùng sức người đọ với thiên nhiên mưu tìm cuộc sống.

Nhưng sự đời nhiều khi cây muốn lặng nhưng gió chẳng đừng, cứ tưởng rằng cả đời ông bố cống hiến thì đảng và nhà nước sẽ còn nể mặt con cái, để anh và gia đình yên ổn bán sức cho thiên nhiên mưu sống. Nào ngờ khi “vật chất quyết định ý thức” (Mác – Lênin) thì tất cả những đóng góp công lao của ông bố, ông anh, ông chú… đều chẳng có ý nghĩa gì nếu anh không nằm trong bộ máy quyền lực. Những công lao, đóng góp kia chỉ dành cho những kẻ trong bộ máy phạm tội tày đình muốn thoát khỏi sự trừng phạt pháp luật thì được nại đến mà thôi.

Riêng về vụ án này, ông Đoàn Xuân Lễnh sẽ làm gì với vai trò Phó Chủ tịch UBĐK Công giáo Hải Phòng và Hội thẩm nhân dân TAND Hải Phòng khi cháu ông bị bất công đến thế? Mới đây, ông còn tuyên bố rằng: “Tình cảm của cấp ủy Đảng, chính quyền, các ban, ngành, đoàn thể thành phố và các địa phương dành cho các vị chức sắc và bà con giáo dân thể hiện tinh thần khối đại đoàn kết toàn dân tộc…”. Vậy với vụ việc ngay của cháu ông là một giáo dân, có phải đó là cách thể hiện tình cảm ấy hay không?

Ông có suy nghĩ gì khi ông đã làm cho đảng mấy chục năm nay với vai trò của ông trong cái gọi là Ủy Ban đoàn kết Công giáo bù nhìn? Hay ông cũng chỉ vì miếng cơm manh áo mà chấp nhận tiếp tục phục vụ đảng và nhà nước trong sự nghiệp quốc doanh hóa giáo hội Công giáo? Xem ra, cái lý thuyết “Người đi săn phải biết ăn thịt chó” đã có nhiều ví dụ điển hình trong thực tế, và giờ đây, không chỉ ăn thịt chó mà còn cả thịt chó con.

Rồi còn cái gọi là “Ủy ban Đoàn kết Công giáo” kia? Hàng năm sinh ra những kỳ họp hành, tổng kết tốn biết bao tiền dân mà mục đích chỉ nhằm lấy công sức của những người như Đoàn Văn Vươn làm tấm gương để “động viên giáo dân” làm giàu, học tập đạo đức Hồ Chí Minh rồi thuổng luôn thành quả của họ để báo cáo thành của mình?

Cho đến hôm nay, khi tất cả mọi thông tin về vụ án đã được các báo chí và Blog đăng đầy đủ trên mạng internet với sự phẫn nộ ghê gớm, thì cái tờ báo mạo danh “Người Công giáo Việt Nam” hay tờ “Công giáo và dân tộc” vẫn im lìm như chẳng hề có chuyện gì xảy ra, vẫn yên bình như việc hàng năm lĩnh tiền dân đều đặn để phục vụ bộ máy của đảng cộng sản. Hay họ quyết tâm xứng đáng với xú danh cao quý mà người giáo dân đã đặt cho họ: “Người Công giáo Việt gian” và “Công giáo và dâm tặc”?

Vụ việc ông Đoàn Văn Vươn đã xảy ra cả chục ngày nay, nhưng sức nóng vẫn còn lan tỏa sâu rộng và được mọi người quan tâm. Gia đình anh được sự động viên từ khắp nơi bằng những cú điện thoại hỏi thăm và an ủi, chia sẻ. Trên các diễn đàn, dù có người không đồng ý với cách dùng bạo lực, nhưng họ hết sức cảm thông với ông Vươn và gia đình bởi những cường hào ác bá mới trong xã hội ngày nay mà người dân đang là nạn nhân.

Vụ việc Đoàn Văn Vươn đã là một hiện tượng trong xã hội: Hiện tượng nông dân vùng lên.

Và bài học lớn nhất ở đây, là bài học về việc đặt lòng tin không đúng chỗ.

Hà Nội, ngày 14/1/2012

J.B Nguyễn Hữu Vinh

2 comments on “Vụ cưỡng chế Đoàn Văn Vươn, câu chuyện người đi săn biết ăn thịt chó

  1. “anh em nhà ngu”hay cùn gọi là”anh em nhà ngu”lần này thì đi toi đời,định châu chấu đá xe,dám chống lại huyện quan àh,ngồi được chỗ đó ngươi ta đầu tư gấp ngàn lần mấy cái đầm vài chuc heta con con nhà anh đó.tính làm giầu vưon ra biển à,rùi lai định vào tù kiếm chỗ kết bè phái ngu àh,có mà vươn xuống lỗ chôn.”ngối sau nải chuối xem gà khoả thân”

  2. http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/01/oi-ieu-thua-voi-ong-ang-hung-vo.html

    ĐÔI ĐIỀU THƯA VỚI ÔNG ĐẶNG HÙNG VÕ
    Trương Nhân Tuấn.

    Cựu thứ trưởng Đặng Hùng Võ vừa lên tiếng về vụ Đoàn Văn Vươn trên báo Tuổi Trẻ hôm qua là một điều đáng mừng. Ý kiến của ông Võ dễ thuyết phục vì không dựa lên tình cảm mà dựa lên luật lệ nhà nước. Hy vọng các cơ quan hữu trách theo tinh thần của Thứ trưởng Đặng Hùng Võ để giải quyết thỏa đáng vấn đề này. Tuy vậy, các ý kiến của ông Võ, trên phương diện kỹ thuật, theo tôi vẫn có một vài lấn cấn, không phải do kiến thức, mà đến từ “cơ chế” của nhà nước. Tôi nghĩ rằng luật lệ áp dụng cho trường hợp “thu hồi đất” của ông Vươn có một số điều mâu thuẫn, nhất là các điểm về thể lệ giao đất, diện tích tối đa đất được giao, thời hạn được sử dụng đất, phương thức thâu hồi đất… Ngoài ra còn có những mâu thuẫn giữa tính công bằng của xã hội chủ nghĩa với quyền tư hữu của kinh tế thị trường, hoặc giữa « tư điền » là tập tục ngàn năm của dân tộc Việt với « sở hữu đất đai thuộc về toàn dân » của chủ nghĩa xã hội. Nếu đúng như tôi nghĩ, trường hợp cá biệt của Đoàn Văn Vươn, nếu chỉ dựa hoàn toàn trên pháp luật (mà pháp luật có điều không ổn) thì việc giải quyết chắc chắn sẽ gây nên những điều oan ức. Việc nổ súng đáng tiếc trong khi giải tỏa đất đã nói trước việc này. Hy vọng ông Võ (hay người có thẩm quyền khác) sẽ lên tiếng giải thích. Các thắc mắc của tôi gồm các điểm:

    1/ Phân loại khu vực đất:

    Thứ trưởng Đặng Hùng Võ nhận xét: “theo Luật đất đai năm 1993, cụ thể là theo nghị định 64 về việc giao đất sản xuất đối với đối tượng ở đây là giao đất sản xuất trồng cây hằng năm, nuôi trồng thủy sản, làm muối… “

    Tôi nghĩ khác. Khu vực gọi là “đất” mà ông Vươn sử dụng từ năm 1993 không thuộc vào bất kỳ một loại “đất” nào đã được qui định theo điều 11 bộ Luật đất đai năm 1993 hay điều 13 bộ Luật đất đai năm 2003.

    Thật vậy, trước khi « khu vực đất » này được giao cho ông Vươn thì nó không thể gọi là « đất » để « trồng cây hàng năm », cũng không thể gọi đơn thuần là « đầm » để « nuôi trồng thủy sản », và nó cũng không thể sử dụng vào việc « làm muối » như Thứ Trưởng Võ đã nói. Nếu chiếu theo Luật Hồng Đức thì khu vực này không thuộc diện « điền » (không thể trồng trọt hay làm muối – diêm điền), cũng không thuộc diện « thổ » (không thể định cư), và cũng không thuộc diện « trạch » (không thể nuôi cá).

    Đây là một khu vực đất đang bồi, thường xuyên ngập nước biển và hàng năm chịu nhiều thiên tai bão lụt. Theo luật của các (nước Tây phương) hay Luật về thổ trạch ở VN các thời kỳ trước, vì lý do an ninh, các vùng đất này không được nhà nước cấp cho dân, hay không khuyến khích cho dân khai hoang, vỡ hóa… nhằm định cư hay khai thác kinh tế.
    Vấn đề đặt ra, theo pháp luật, nhà nước có thể cấp cho ông Vươn khai thác « khu vực đất » đó hay không? Nhà nước có trách nhiệm gì nếu tai nạn do thiên tai (bão, lụt) đổ xuống?

    2/ Tính không hợp lý của việc thâu hồi đất trong bộ Luật về đất đai.

    Nhưng “khu vực đất” này vẫn được chính quyền địa phương Hải Phòng cấp cho ông Vươn khai thác, bất chấp những hiểm nguy có thể gây ra cho cá nhân và gia đình ông Vươn.

    Để biến khu vực “đất không thể sinh sống” thành một khu vực xếp vào hạng “điền trạch” (tức vừa định cư vừa nuôi thủy sản), ông Vươn đã sử dụng kiến thức kỹ sư của mình để làm các việc sau :
    a) Đắp một con đê dài 2 cây số để ngăn lũ lụt, (con đê này đem lại lợi ích cho nhiều gia đình lân cận, chứ không hẳn cho cá nhân ông Vươn)
    b) Trồng cây vẹt để giữ đất bồi đồng thời để che bão
    c) Đổ đất, cát, đá… làm nền
    Làm các công trình (a) và (b) ông Vươn đã biến một vùng bờ biển hiểm nguy thành một cái « trạch » (đầm nước) có an ninh. Công trình (c) biến một góc « trạch » thành « điền » (đất trồng trọt) và “thổ” (đất xây cất). Sau 17 năm gầy dựng, ông Vươn đã tạo ra một « khu vực điền – thổ – trạch » có diện tích là 40 ha. Điều đáng chú ý là khu vực này, theo lời dân sống ở đó, trước khi giao cho ông Vươn, “nhà nước không dám khai phá”.

    Nhà nước thâu hồi đất này dựa trên điều 6 Luật đất đai 2003, theo qui định khoản đ) « chuyển mục đích sử dụng đất » hay các điều qui định ở mục 4. Dĩ nhiên nhà nước có quyền, theo Hiến pháp và Luật, nhưng thử đặt giả thuyết : nếu « khu vực đất » đó không giao cho ông Vươn, tức vẫn còn là một vùng đầm lầy phủ sóng và luôn chịu gió bão, liệu nhà nước có qui hoạch hay lên kế hoạch sử dụng khu vực này hay không ?
    Nếu câu trả lời là “không” thì không có lý do gì nhà nước hôm nay lại thâu hồi khu vực đất ấy.

    Trong khi điều 12 qui định: Nhà nước có chính sách khuyến khích người sử dụng đất đầu tư lao động, vật tư, tiền vốn và áp dụng thành tựu khoa học và công nghệ để “Khai hoang, phục hoá, lấn biển, đưa diện tích đất trống, đồi núi trọc, đất có mặt nước hoang hoá vào sử dụng” (khoản 1)
    Ông Vươn đã tin tưởng vào điều luật đó, đã đem kiến thức khoa học, tiền vốn và công sức để làm các điều mà nhà nước khuyến khích.
    Vậy mà nhà nước đã có quyết định thâu hồi (trong khi thời hạn sử dụng chưa mãn).
    Người ta không thể vừa “khuyến khích” vừa “thâu hồi “. Ở đây “khuyến khích” có nghĩa là cho làm, “thâu hồi” có nghĩa là không cho làm. Mâu thuẫn ở đây khá rõ rệt. Việc này làm mất niềm tin của dân chúng vào nhà nước và luật của nhà nước?

    3/ Về diện tích sử dụng đất và thời hạn sử dụng:

    Thứ trưởng Võ nói rằng “thời hạn giao đất được Luật đất đai quy định là 20 năm.” … “Luật quy định hạn mức được giao đối với một hộ gia đình cá nhân không được vượt quá 2ha”.

    + Về diện tích đất được giao. Khu vực đất của ông Vươn tạo nên là do công sức của ông và gia đình trong việc đắp con đê dài 2km để ngăn lũ và trồng các hàng cây vẹt để giữ đất. Đất của ông Vươn tân tạo được tính từ con đê chận lũ.

    Đặt giả thuyết, nếu nhà nước lúc đầu đã qui định ông Vươn chỉ được giao 2 ha đất, thì chắc chắn ông Vươn sẽ không nhận. Vì nhận cũng không làm được gì! Muốn cải tạo đất thì phải làm con đê chận lũ và trồng vẹt giữ đất bồi. Tức là, hoặc ông Vươn tân tạo được 40 ha đất thổ trạch, hoặc không tạo ra khoảnh đất nào cả. Không ai bỏ công sức làm con đê, trồng rừng vẹt để nhận 2 ha, ngoại trừ việc nhà nước bỏ công để làm (như trường hợp Nguyễn Công Trứ ở huyện Tiền Hải, sẽ nói bên dưới).

    Ông Vươn đã được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu vì thế thuộc diện người đang sử dụng đất ổn định (điều 4 phần 3), như vậy đã 17 năm qua.
    Qui định ông Vươn chỉ có 2 ha sử dụng là mâu thuẫn với thực tế. Thực tế ở đây là nhà nước hàm ý công nhận quyền sử dụng của ông Vươn trên toàn vùng đất mà ông này khai thác. Trong 17 năm nhà nước không phản đối, thì nhà nước đã chấp nhận thực tế đó.
    Nhà nước, qua cơ quan tư pháp, có nhiệm vụ bảo vệ công lý. Nếu hôm nay nhà nước nói ngược lại, thì còn đâu là công lý?

    + Về thời hạn được sử dụng đất, theo tôi cũng không thể áp dụng trong trường hợp của ông Vươn. Bởi vì, trong 17 năm sử dụng, thời gian cải tạo khu vực đất không thể không chiết tính ra. Mặt khác, ông Vươn đã đầu tư rất nhiều công và của. Huê lợi thâu từ việc sử dụng đất vẫn chưa trả hết nợ.

    Khu vực sinh sống của ông Vươn đã được qui định theo điều 66, khoản 2,3 và 4, là « đất sử dụng ổn định lâu dài ». Mặt khác, điều 67 về thời hạn sử dụng đất, cho phép sử dụng đến 50 năm ở các loại cây trồng lâu dài. Trường hợp của ông Vươn thì luật không qui định, nhưng về tính hợp lý, cũng phải để cho ông Vươn sử dụng ít ra 50 năm. Với thời hiệu này ông Vươn mới có thể thâu được huê lợi tương xứng với công lao, của cải mà ông đã đổ xuống.

    Nhà nước không thể vịn vào bất kỳ lý cớ gì để thâu hồi đất này của ông Vươn, như đã nói ở phần 2. Vì nó không công bằng. Nếu đất đó để yên, không có ông Vươn ra sức cải tạo, thì không thể đưa vào sử dụng.

    + Ngày xưa, sẽ nói bên dưới, vua chúa có toàn quyền trên số phận của mỗi thần dân, nhưng cũng không có các hành vi bạo ngược trưng thâu đất tư điền một cách tự tiện. Huống chi ngày hôm nay, chế độ xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc là đem công bằng cho mọi người trong xã hội. Mà nguyên tắc của công bằng là, trước khi bảo vệ quyền sử dụng đất của mỗi người, thì phải tôn trọng đúng mức quyền sử dụng đất (thời hiệu sử dụng) của từng cá nhân.

    Như vậy còn đâu tính công bằng của XHCN do hiến pháp qui định mà nhà nước phải thực thi ?

    4/ Về “tư điền” và sở hữu toàn dân:

    + Theo Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn, một tập tục ngàn năm của Việt Nam được lưu truyền từ đời này sang đời kia, đến trước thời xã hội chủ nghĩa :
    “Nếu có người tự đem sức lực của mình khai khẩn những nơi rừng rú bỏ hoang, khi đã thành điền phải khai rõ, liền cho phép coi như là “bản bức tư điền”. Chỉ nhà nước mới có quyền thu thóc tô, còn dân xã không được tranh ruộng tư ấy. Cái lệ ấy thành ra vĩnh viễn”.

    Tức đất hoang mà người dân bỏ công khai phá, như trường hợp ông Vươn, sẽ thuộc vào loại « bản bức tư điền », tức sẽ trở thành ruộng riêng của ông Vươn (và con cháu sau này của ông).

    Một trường hợp khai khẩn đất hoang ở nước ta, vào đầu thế kỷ 19, cần nhắc ở đây, là việc thành lập huyện Tiền Hải ở Nam Định của cụ Nguyễn Công Trứ. Huyện Tiền Hải trước kia vốn là một bãi đất bồi (bãi Tiền Châu), việc khai khẩn gọi là « doanh điền », do cụ Nguyễn Công Trứ hướng dẫn với sự ủng hộ của triều đình qua việc giúp đỡ tiền bạc và dụng cụ khai phá. Những người dân khai khẩn vùng đất mới bồi này, phần lớn được làm chủ các khoản đất do dọ tạo ra (gọi là tư điền) và có bổn phận đóng thuế cho nhà nước.

    + Dưới thời thực dân cũng thế, người dân nào khai khẩn đất hoang thì đất đó thuộc quyền sở hữu của người đó. Trong khi đó, chính quyền thực dân đã giúp đào kinh chằn chịt khắp nơi để cho dân xả nước phèn, biến một vùng đất phèn, đồng chua thành một kho lúa gạo to lớn của miền Nam hiện nay. Dưới thời Mỹ xâm lược, chế độ tay sai bán nước Mỹ-Diệm, họ cũng tổ chức các khu “doanh điền”, lập “đồn điền” ở Tây Nguyên, khuyến khích dân khai khẩn đất hoang, giúp tiền bạc, xây cất nhà cửa cho dân định cư. Tất cả đất khẩn hoang cũng như nhà cửa đều thuộc quyền sở hữu vĩnh viễn của người dân.

    + Trong khi dưới thời XHCN, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhưng lại do nhà nước quản lý.

    Trường hợp khai khẩn “khu vực đất” của ông Vươn thì không hề được sự giúp đỡ của nhà nước xã hội chủ nghĩa như trường hợp đất doanh điền ở Tiền Hải, đất khẩn hoang ở Nam bộ hay đất doanh điền, đồn điền ở Tây nguyên.

    Nếu thời trước các nhà nước phong kiến, thực dân hay tay sai bán nước Mỹ Ngụy không trưng thâu đất, mặc dầu việc khai khẩn là có sự trợ giúp của nhà nước về tài chánh và công cụ, thì hôm nay, nhà nước không hề giúp điều gì cho ông Vươn, thì tại sao lại thâu hồi ?

    Các qui định của xã hội chủ nghĩa có đi ngược lại đạo lý giống nòi hay không ?

    5/ Thủ tục thâu hồi đất, mâu thuẫn giữa XHCN và kinh tế thị trường:

    Như đã nói ở điều 2, việc khai khẩn của ông Vươn là một « công trình », gồm nhiều phần : con đê dài 2km, rừng vẹt, đầm nuôi cá, đất trồng trọt và đất xây dựng nhà cửa. Ngoài chi phí vật chất như tiền của, sức lao động, công trình này bao gồm hai thành quả: vật chất và trí tuệ.

    Ông Vươn là một kỹ sư. Nếu công trình này không có đóng góp của kiến thức khoa học và việc đầu tư suy nghĩ lâu dài thì khu đất này sẽ không bao giờ được thành tựu như thế. Nếu giao đất cho tay ngang, người này chưa chắc sẽ hình hung ra việc đóng cừ xây đê hay trồng cây vẹt để giữ đất, đó là chưa nói đến việc phải định hướng con đê như thế nào, trồng cây vẹt ra làm sao để khỏi bị sóng đập tan và giữ được đất. Tức công trình đó còn là một công trình của trí tuệ.

    Theo hiến pháp và luật định, đất đai sở hữu của toàn dân, do nhà nước quản lý. Nhưng vì có nền « kinh tế thị trường » và gia nhập WTO, do đó nhà nước VN phải tôn trọng các luật lệ do WTO qui định, (theo điều 3 khoản 2 bộ Luật đất đai 2003) trong đó có điều luật phải tôn trọng quyền sở hữu tài sản cũng như sở hữu trí tuệ của tư nhân.

    Nhà nước có thể thâu hồi đất mà bỏ qua quyền sở hữu trí tuệ cùng sở hữu tài sản của ông Vươn ? Không giải quyết ổn thỏa là tạo ra sự xung đột giữa hai bộ luật (luật quốc tế và luật quốc gia) mà theo lẽ VN phải đặt luật quốc tế lên trên.

    Mâu thuẫn ở đây là mâu thuẫn của nền “kinh tế thị trường” với định hướng “xã hội chủ nghĩa”.

    Nhưng sự mâu thuẫn này đã tạo ra tại VN một tầng lớp giàu mới do kinh doanh về đất đai. Con số này chiếm đến 40%. Như thế, việc này gián tiếp tạo cho VN một nền kinh tế què quặc, do việc tư bản nội địa không đầu tư vào kinh doanh hay sản xuất mà đầu tư vào một ngành không tạo ra công ăn việc làm hay của cải vật chất cho xã hội. Nó chỉ mở một môi trường tốt đẹp tại VN cho hàng hóa dỏm của TQ vào thống lĩnh thị trường.

    6/ Kết luận: Đôi điều với Thứ Trưởng Võ như thế. Theo tôi, về pháp luật, nếu có sự mâu thuẫn (như đã dẫn ra) thì ánh sáng công lý sẽ không bao giờ rọi dến các nơi tối tăm, ở các vùng sâu, xa, như ở xã Vinh Quang, huyện Tiên lãng, tỉnh Hải Phòng. Việc lên tiếng của ông Võ là một điều tốt, vì nó rất cần thiết cho việc xét xử ông Vươn. Nhưng ở những mâu thuẩn giữa đạo lý giống nòi với đạo lý xã hội chủ nghĩa hay giữa kinh tế XHCN và kinh tế thị trường thì cần điều chỉnh lại. Xã hội chủ nghĩa trên nền tảng Mác Lê đã đi vào quá khứ, do tính lỗi thời của nó. Nếu VN tiếp tục kéo dài, tầng lớp dân oan ngày càng lớn, các nỗi bất bình sẽ có ngày bùng nổ, trong khi lớp cường hào ác bá đỏ sẽ có môi trường tốt để hoành hành.

    Hy vọng nhiều người khác cũng sẽ lên tiếng như Thứ trưởng Võ. Đó cũng là việc công ích cho xã hội.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s