Vụ Tiên Lãng: Toàn cảnh về pháp lý

Luật sư Phan Anh Cường

Theo: DanLuan

Sự kiện nổ súng chống lại lực lượng cưỡng chế ở khu đầm nuôi trồng thủy sản xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng ngày 05/01/2012 đang thu hút sự quan tâm đặc biệt của dư luận. Đáng tiếc là trên công luận đang có những quan điểm chưa chuẩn xác về mặt pháp lý của một số luật gia, nhà báo. Với bài viết này, Luật gia – nhà báo Phan Anh Cường (Hải Phòng) sẽ phân tích 6 vấn đề về pháp lý hiện nay cần làm rõ…

1- Các quyết định giao đất cho Đoàn Văn Vươn có trái luật?

Ngày 04/10/1993 UBND huyện Tiên Lãng ra Quyết định 447/QĐ-UB giao 21 ha đất bãi bồi ven biển thuộc địa bàn hành chính xã Vinh Quang cho ông Đoàn Văn Vươn – công dân xã Bắc Hưng để sử dụng vào mục đích nuôi trồng và khai thác thủy sản có thời hạn 14 năm. Ngày 9/4/1997, tại Quyết định số 220/QĐ-UB, UBND huyện lại giao bổ sung 19,3 ha tiếp giáp diện tích cũ về phía biển. Thời hạn sử dụng cũng là 14 năm nhưng tính từ ngày 04/10/1993.

Trước hết, cần khẳng định, khu vực đầm vùng xã Vinh Quang, vào những năm 1993-1994 không phải là đất nông nghiệp để giao cho nông dân sử dụng ổn định lâu dài (20 năm). GS Đặng Hùng Võ đã có nhận định không chính xác về vấn đề này. Quan điểm hiện nay của UBND huyện Tiên Lãng về vấn đề này là phù hợp luật pháp. Tại thời điểm trên, khu vực này thuộc nhóm đất mới bồi, chưa sử dụng.

Điều 29 Luật Đất đai 1987:

1- Ở những nơi còn đất chưa sử dụng thì Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh có thể giao loại đất này cho các tổ chức hoặc các hộ thành viên của hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, tiểu, thủ công nghiệp, ngư nghiệp, nghề muối, nông trường, lâm trường, trạm, trại nông nghiệp, lâm nghiệp, công nhân, viên chức và nhân dân để sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp.

2-Đối với đất trống, đồi núi trọc, rừng nghèo kiệt thì được giao theo chính sách giao đất, giao rừng để trồng trọt và chăn nuôi; đất giao cho mỗi tổ chức và cá nhân là căn cứ vào khả năng sử dụng, không hạn chế về diện tích.

3-Khi giao đất nói ở khoản 1 và khoản 2 của Điều này phải xác định rõ mục đích và thời hạn sử dụng để người sử dụng đất yên tâm sản xuất, có thu hoạch thoả đáng so với công sức đã đầu tư đối với từng loại cây trồng và vật nuôi.

4- Đất được giao nói trong Điều này không tính vào mức đất làm kinh tế gia đình hoặc mức đất giao cho nông dân cá thể quy định tại Điều 27 và Điều 28 của Luật này.

Theo Luật Đất đai 1993 thì khu vực này thuộc nhóm đất mới bồi (Điều 50 Luật Đất đai 1993: “Việc quản lý, sử dụng đất mới bồi ven biển do Chính phủ quy định.”), đất chưa sử dụng (Điều 72 Luật Đất đai 1993). Như vậy, Luật 1987, Luật 1993 và tương tự như vậy là Luật 2003 cũng đều cho phép điều chỉnh nhóm đất này theo các quy định riêng của Chính phủ. Đến lượt mình, tại Nghị định 64/1993 và các nghị định sửa đổi, bổ sung sau đó như Nghị định 85/1999 và Nghị định 04/2000, Chính phủ ủy quyền cho UBND cấp tỉnh. Cụ thể, khoản 3 Điều 5 Nghị định 64/1993 quy định: “3. Đối với đất trống, đồi núi trọc, đất khai hoang, lấn biển thì hạn mức của hộ, cá nhân sử dụng do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định, căn cứ vào quỹ đất của địa phương và khả năng sản xuất của họ, đảm bảo thực hiện chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để sử dụng các loại đất này vào mục đích sản xuất nông nghiệp.

Như vậy, ông Đoàn Văn Vươn được giao 40,3 ha đất, dù có vượt mức hạn điền chung (2 năm), dù không theo thời hạn chung (20 năm) là không có gì trái luật.

2- Cách tính thời hạn như thế nào?

UBND huyện Tiên Lãng tính thời hạn sử dụng đất căn cứ vào quyết định giao đất. Cụ thể, cả với 21 ha và cả với 19,3 ha, thời hạn là 14 năm tính từ 04/10/1993, tức hết hạn từ ngày 04/10/2007.

Chúng tôi đồng tình với GS Đặng Hùng Võ về việc lấy mốc bắt đầu tính thời hạn phải tuân theo Điều 4 Nghị định 64/1993 chứ không thể theo thời hạn ghi trong các quyết định giao đất. Với diện tích 21 ha phải lấy mốc từ 15/10/1993 là ngày Luật đất đai 1993 có hiệu lực; Với 19,3 ha phải lấy mốc từ ngày có quyết định giao đất là 9/4/1997.

Tuy nhiên, điều cần lưu ý là ông Đoàn Văn Vươn có hộ khẩu thường trú tại xã Bắc Hưng cùng huyện Tiên Lãng, đã được giao đủ diện tích trong hạn điền để sử dụng ổn định lâu dài (20 năm) theo Nghị định 64/1993 tại xã Bắc Hưng. Phần diện tích này cho đến nay chưa hề bị thu hồi. Theo Điều 5 Nghị định 64/1993 thì mức hạn điền đất nông nghiệp tại các tỉnh như Hải Phòng chỉ có tối đa là 2 ha. Do vậy, toàn bộ 40,3 ha đất mà ông Vươn được giao tại xã Vinh Quang phải được xem là đất vượt hạn mức. Mà đất vượt hạn mức thì thời hạn sử dụng theo khoản 2 Điều 67 Luật Đất đai 2003 quy định chỉ có 10 năm: “2. Thời hạn sử dụng đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức do được giao trước ngày 01 tháng 01 năm 1999 bằng một phần hai thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này, sau đó phải chuyển sang thuê đất;”

Như vậy, theo chúng tôi, thời hạn sử dụng 21 ha đất là 10 năm, tính từ ngày 15/10/1993, tức đến ngày 15/10/2003 là hết. Thời hạn sử dụng 19,3 ha cũng là 10 năm, tính từ ngày 9/4/1997, tức đến 9/4/2007 là hết.

Chú ý: GS Đặng Hùng Võ có viện dẫn đến Quyết định 773/1994-TTg ngày 21/12/1994 của Thủ tướng về “Chương trình khai thác, sử dụng đất hoang hoá, bãi bồi ven sông, ven biển và mặt nước ở các vùng đồng bằng” để khẳng định cần áp dụng cho trường hợp của ông Đoàn Văn Vươn mức hạn điền theo Điều 13 là từ 2 đến 10 ha. Theo chúng tôi, đòi hỏi này của GS Võ khá khiên cưỡng vì ngay tên gọi của Quyết định trên đã thể hiện rằng việc giao đất ở đây chỉ thực hiện theo các dự án trong khuôn khổ một Chương trình quốc gia. Các dự án phải được lập, trình, thẩm định, phê duyệt trước khi đưa ra triển khai. Dự án nuôi trồng thủy sản của Tổng đội Thanh niên xung phong Hải Phòng tại khu vực kế bên khu đầm của ông Vươn là một dự án nằm trong Chương trình này nhưng đã bị đổ bể.

3- Điểm nút sự bất đồng quan điểm

Sau nhiều năm “đánh vật” với biển cả, Đoàn Văn Vươn cùng các chủ đầm khác đã biến khu vực bãi bồi ven biển xã Vinh Quang từ đất thuộc nhóm chưa sử dụng trở thành đất nông nghiệp nuôi trồng thủy sản. Do vậy, UBND huyện Tiên Lãng vẫn muốn mang các quy định đối với nhóm đất chưa sử dụng để điều chỉnh đối với khu đầm vùng Vinh Quang là không phù hợp pháp luật. Đây là điểm nút sự bất đồng quan điểm giữa UBND huyện Tiên Lãng với các chủ đầm.

+ UBND huyện quan niệm rằng: Huyện giao đất cho các hộ có thời hạn; khi hết hạn thì huyện có quyền thu hồi và không bồi thường. UBND huyện muốn thu hồi lại toàn bộ diện tích đã giao, sau đó giao cho UBND xã Vinh Quang quản lý. UBND xã Vinh Quang sẽ trực tiếp giao hoặc tổ chức đấu thầu theo các quy định mới: Mỗi hộ được thầu từ 1 hoặc 2 ha, tối đa là 5 ha và thời hạn tối đa là 5 năm. Các chủ đầm cũ dù được ưu tiên trong đấu thầu, tức là được lựa chọn vị trí trong khu đầm cũ của mình nhưng diện tích tối đa là 5 ha, thời hạn tối đa là 5 năm. Ngay từ ngày 01/12/2004 UBND huyện đã có bản Kế hoạch số 58/2004 về quy định nói trên. Đặc biệt, ngày 17/10/2008 UBND huyện ban hành Quyết định số 3756/QĐ- UB “Về việc ban hành quy định về quản lý sử dụng đất, mặt nước, bãi bồi ven sông, ven biển sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện Tiên Lãng” với những quy định trái luật rõ ràng hơn.

+ Các chủ đầm thì muốn tiếp tục được sử dụng toàn bộ diện tích hiện nay với thời hạn 20 năm như quy định trong Luật Đất đai 2003.

Quan niệm của UBND huyện là bất hợp lý khi không tính đến công sức đầu tư, khai hoang, lấn biển của các chủ đầm để biến khu vực này từ hoang hóa trở thành đất nuôi trồng thủy sản. Đã là đất nuôi trồng thủy sản thì khu vực này phải được quản lý theo các quy định của Luật Đất đai 2003 về đất nông nghiệp nuôi trồng thủy sản chứ không thể theo các quy định riêng của thành phố hay của huyện, của xã.

Cụ thể, theo khoản 2 Điều 67 Luật Đất đai 2003 như trên đã dẫn: “Thời hạn sử dụng đối với diện tích đất nông nghiệp vượt hạn mức do được giao trước ngày 01 tháng 01 năm 1999 bằng một phần hai thời hạn quy định tại khoản 1 Điều này, sau đó phải chuyển sang thuê đất;” Tức là lẽ ra anh Vươn được chuyển sang hình thức THUÊ ĐẤT từ năm 2003 với 21 ha và từ năm 2007 với 19,3 ha. Mấu chốt của vụ này nằm tại khoản 1 Điều 67 Luật Đất đai 2003:

Khi hết thời hạn, người sử dụng đất được Nhà nước tiếp tục giao đất, cho thuê đất nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng, chấp hành đúng pháp luật về đất đai trong quá trình sử dụng và việc sử dụng đất đó phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt;

Nếu UBND huyện muốn bảo vệ quyết định thu hồi thì phải chứng minh việc anh Vươn đã vi phạm pháp luật và tại đây việc nuôi trồng thủy sản không còn phù hợp với quy hoạch được duyệt. Nếu anh Vươn, ông Luân cùng các hộ nuôi trồng thủy sản tại đây muốn giữ đầm thì cũng cần trưng ra các chứng cứ rằng mình không vi phạm pháp luật đất đai.

4- Lỗ hổng lớn trong giải quyết khiếu nại

Từ nhận thức về pháp luật không đúng của các cán bộ UBND huyện nên mâu thuẫn, khiếu kiện kéo dài suốt từ năm 2004 đến nay không giải quyết được. Xin đừng đổ trách nhiệm cho người dân. Đoàn Văn Vươn, Vũ Văn Luân và đa số các chủ đầm đều là những sĩ quan quân đội trở về. Riêng Đoàn Văn Vươn là kĩ sư nông nghiệp. Họ không có ý chống đối chính quyền. Họ đã kiên trì theo đuổi các biện pháp đấu tranh ôn hòa, hợp pháp. Cụ thể, Đoàn Văn Vươn đã liên tục viết hàng loạt đơn gửi tất cả các cấp suốt năm 2004 đến sát ngày bị bắt. Đành rằng UBND huyện đã có tổ chức đối thoại 8 lần. Thế nhưng, tại các cuộc đối thoại, cán bộ huyện chỉ muốn áp đặt, bắt buộc người dân thực hiện cái sai; phải bàn giao không điều kiện toàn bộ đầm vùng. Để rồi, nếu muốn thì người dân lại phải làm đơn xin tham gia đấu thầu với các quy định mới của chính quyền. Đoàn Văn Vươn đã phải cậy nhờ tới tòa án. Tiếc rằng, Tòa án huyện cũng không am hiểu pháp luật khi cho ra bản án bảo vệ quyết định sai trái của UBND huyện. Cậy đến TAND TP thì thẩm phán lại vi phạm tố tụng hành chính khi lập ra cái biên bản hòa giải không có giá trị pháp lý mà chỉ có giá trị làm cho người dân bị nhầm lẫn, rút đơn kháng cáo. Và, việc xét xử phúc thẩm bị đình chỉ, cũng có nghĩa là bản án sơ thẩm có hiệu lực…

Trong quá trình gian nan khiếu kiện suốt 6 năm qua, tại sao chúng ta không thấy bóng dáng của cơ quan quản lý chuyên ngành về đất đai cấp trên? Đó là Sở TN-MT và cao hơn nữa là Bộ TN-MT, cho dù đơn từ của Đoàn Văn Vươn gửi đến đó không ít.

5- Dấu hiệu anh bao che cho em

Điều đáng buồn cho các chủ đầm bắt đầu từ khi ông Lê Thanh Liêm (em ruột chủ tịch huyện) ngồi vào ghế lãnh đạo xã Vinh Quang. Khi Dự án nuôi trồng thủy sản công nghiệp của Tổng đội Thanh niên xung phong (TNXP) thất bại, năm 1999 họ rút đi, để lại diện tích mênh mông. Trong số này có cả 80.000 m2 đất mà Tổng đội TNXP tự ý chiếm dụng của ông Nguyễn Văn Phao, dù ông Phao liên tục có đơn nhưng không cơ quan nào giải quyết. Sau khi Tổng đội TNXP “bỏ của chạy lấy người”, ông chủ tịch xã Lê Thanh Liêm tự ý giao khu đất này cho “cánh hẩu” của mình là ông Bổng- nguyên cán bộ địa chính xã và ông Nhuận- một người có hộ khẩu ngoài xã Vinh Quang. Đặc biệt hơn, ông Liêm còn tự ý giao một diện tích lớn cho một đại gia- chủ một doanh nghiệp ngành vật liệu xây dựng ở nội thành Hải Phòng. Đó là ông Tạ Quyết Thắng, Tổng giám đốc Cty TNHH Sơn Trường, địa chỉ tại Khu 6 phường Quán Toan, quận Hồng Bàng.

Điều đáng nói là khu vực bãi bồi này hoàn toàn không phải là đất công ích 5% thuộc quyền quản lý của UBND xã theo Luật Đất đai. Như trên đã phân tích, khu vực này, vào những năm 1993-1994 thuộc nhóm đất mới bồi nên nó chịu sự quản lý theo các quy định riêng của UBND cấp tỉnh. Đến nay, khu vực này phải được quản lý theo các quy định của Luật Đất đai 2003 về đất nông nghiệp nuôi trồng thủy sản chứ không thể theo các quy định riêng của địa phương. Thế nhưng, ông anh Lê Văn Hiền- chủ tịch huyện đã công khai ý định thu hồi đầm vùng của các hộ để rồi giao cho ông em trực tiếp quản lý, trực tiếp giao cho ai thì giao như một ông vua ở Vinh Quang. Ngày 17/10/2008, UBND huyện ban hành Quyết định số 3756/QĐ-UB “V/v ban hành quy định về quản lý sử dụng đất mặt nước, bãi bồi ven sông, ven biển sử dụng vào mục đích nuôi trồng thủy sản trên địa bàn huyện Tiên Lãng”. Theo Điều 6 của Bản quy định trên, “Đối với khu vực bãi bồi ven biển diện tích đất, mặt nước cho mỗi hộ gia đình, cá nhân thuê không quá 05 (năm) héc ta”. Trong khi đó, Luật Đất đai 2003 và các văn bản dưới luật không hề có quy định về hạn mức cho thuê đất (chỉ có quy định về hạn mức giao đất). Điều 7 của bản Quy định này giới hạn “thời hạn cho thuê đất tối đa không quá 5 năm”. Trong khi đó, Điều 67 Luật Đất đai 2003 thì thời hạn này là 20 năm.

Chúng ta hãy xem lại “Biên bản tạo điều kiện để các đương sự thỏa thuận với nhau v/v giải quyết vụ án” do ông Ngô Văn Anh – thẩm phán TAND TP Hải Phòng lập ngày 9/4/2010. Tại đây, “ông vua” Lê Thanh Liêm đã bật mí: “Trong quá trình hoàn thiện về quản lý, xã đã trực tiếp giao hơn 200 héc ta, quan điểm là để các hộ yên tâm sản xuất kể cả những hộ không có hộ khẩu thường trú tại xã. Các quy định về hạn điền, mức thu tài chính đều theo quy định của Nhà nước, quy định của xã là thời hạn không quá 5 năm…

Rõ ràng 200 ha đầm vùng này không phải là quỹ đất công ích 5% mà xã được quyền quản lý. Vậy tại sao Chủ tịch xã Lê Thanh Liêm lại được “trực tiếp” và lại được “giao” chứ không phải cho thuê?

6- Cần tách bạch 3 sự kiện “cưỡng chế”, “trấn áp tội phạm” và “phá nhà”

Trong ngày 5/1/2012 tại khu đầm của Đoàn Văn Vươn xảy ra 3 sự kiện. Xét từ tính chất sự kiện lẫn thời gian xảy ra chúng ta dễ dàng phát hiện có 3 sự kiện độc lập diễn ra:

+ Sự kiện “cưỡng chế”:

Quyết định thu hồi đất số 461 ngày 7/4/2009, như trên đã phân tích, rõ ràng là trái pháp luật nên Quyết định cưỡng chế số 3308/QĐ-UB ngày 24/11/2011 để thi hành quyết định thu hồi đất cũng là trái pháp luật. Từ đó kéo theo việc tổ chức thực hiện quyết định cưỡng chế vào sáng 5/1/2012 cũng không thể phù hợp pháp luật.

+ Sự kiện trấn áp tội phạm:

Sau khi Đoàn Văn Quý (em trai Vươn) nổ súng làm 6 cán bộ công an + huyện đội Tiên Lãng bị thương thì bắt đầu sự kiện mới: Sự kiện trấn áp tội phạm của Công an Thành phố Hải Phòng. Sự kiện này chấm dứt vào lúc 12 giờ ngày 5/1/2012 khi Công an TP đã làm chủ được tình hình tại ngôi nhà của Đoàn Văn Quý nhưng chủ nhà đã bỏ trốn trước đó.

+ Sự kiện “phá nhà”:

Sự kiện này diễn ra vào chiều 5/1/2012 và sáng 06/1/2012 bằng máy ủi, máy xúc khi đoàn công tác của huyện và của công an TP đã rút hết. Do vậy việc ông Lê Văn Hiền- Chủ tịch UBND huyện trả lời tại cuộc họp báo ngày 12/1/2012 rằng “Vì đây là nơi ẩn nấp của tội phạm nên Tổ công tác của huyện áp dụng các biện pháp phá” là không chính xác. Ngày 17/1/2012 ông Đỗ Trung Thoại – PCT UBND TP Hải Phòng đổ vấy sang “nhân dân bức xúc…” cũng là không đúng sự thật.

Thực tế thì ngay từ khi Đoàn công tác của huyện, của Công an Thành phố rút đi thì UBND xã đã cho lực lượng công an xã đóng chốt 24/24 tại trụ sở cũ của Tổng đội thanh niên xung phong- ngay tại vị trí trên con đường độc đạo vào khu đầm của Đoàn Văn Vươn. Điểm chốt giữ của công an xã vẫn tồn tại từ ngày 05/01/2012 đến nay. Không một người lạ mặt nào có thể vào khu đầm này.

Do vậy, việc phá nhà thuộc trách nhiệm cá nhân ông Lê Văn Hiền- Chủ tịch UBND huyện cùng người em ruột của ông là Lê Thanh Liêm- Chủ tịch UBND xã Vinh Quang.

Luật gia PHAN ANH CƯỜNG (Hải Phòng)

2 comments on “Vụ Tiên Lãng: Toàn cảnh về pháp lý

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s