Đã ’Chỉnh’ mà vẫn ’Đốn’

theo: báo tổ quốc

Trong xã hội dân chủ, những sai sót của chính phủ hoặc của các viên chức nhà nước thường được các đảng đối lập và báo chí săm soi làm cho ra lẽ. Tùy mức độ sai phạm, những cá nhân hay tập thể liên hệ có thể phải chịu hình thức kỷ luật nào đó hoặc bị đưa ra toà để xét xử. Đối với sự sai phạm của chính phủ, người dân sẽ đánh giá và quyết định số phận của chính phủ đó trong những cuộc bầu cử. Vì vậy hiếm khi một đảng cầm quyền rơi vào những sai lầm tai hại đến nỗi bị xoá sổ. Trong khi đó, dưới chế độ độc tài, do chủ trương bưng bít nên các báo cáo thành quả của chế độ luôn luôn được tô hồng, còn các sai sót luôn được giấu kín hoặc giảm thiểu. Khi buộc phải thừa nhận ở một mức độ nào đó về những hiện tượng tiêu cực của nhà cầm quyền thì có nghĩa là sự tiêu cực đó đã xẩy ra từ lâu rồi và đang có nguy cơ ăn thủng đến cốt lõi. Khi chính người lãnh đạo cao nhất của một đảng cầm quyền phải thừa nhận đảng của họ suy thoái trầm trọng và kêu gào toàn đảng phải chấn chỉnh, thì có nghĩa là mức độ băng hoại và sự ung thối của đảng đó đã đi đến chỗ tận cùng trên mọi mặt, mà sự bưng bít không thể che giấu được nữa. Thường thì đây là dấu hiệu hấp hối của một đảng chính trị trong tiến trình suy thoái, để đi đến chỗ kết thúc của các triều đại mà người ta đã từng chứng kiến trong lịch sử.

Cuối năm vừa qua, ông Nguyễn Phú Trọng và hội nghị Trung Ương đảng Kỳ 4 của đảng Cộng Sản Việt Nam đọc lại từ đầu truyện dài “Chỉnh đốn đảng để sống còn”, một mốc điểm mới trong tiến trình suy thoái vừa nêu ở trên.

Sở dĩ gọi là “truyện dài” vì đây không phải là điểm khởi đầu sự suy thoái trầm trọng của đảng CSVN được người lãnh đạo cao nhất đảng nêu lên cùng với lời hô hào phải quyết liệt chỉnh đốn. Từ chương một của 25 năm trước, cựu Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh bắt đầu than thở công khai: “nhà dột từ nóc”. Và từ đó, nhiều chương tiếp nối suốt hơn 20 năm qua. Nghị quyết của kỳ đại hội đảng nào cũng có những đoạn viết rất sống động về việc phải đẩy mạnh “xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh” (1); và đều coi đây là “nhiệm vụ trọng tâm của toàn đảng”. Song song với “nhiệm vụ trọng tâm” đó, đảng cũng liên tục tổ chức rầm rộ các đợt học tập “tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh”, mà các báo cáo kết quả đều đạt “thành công rực rỡ”. Thế nhưng đến nay ông Nguyễn Phú Trọng lại phải viết một chương mới với những lời lẽ báo động còn nguy kịch hơn nữa — chỉnh đốn đảng để tránh xụp đổ toàn bộ. Điều hiển nhiên tại điểm này là các chương cũ, bao gồm các lệnh lạc lẫn báo cáo về các chiến dịch chỉnh đốn trong quá khứ, kể cả các chiến dịch học tập đạo đức Hồ Chí Minh, đều chỉ được giới đảng viên nắm chức quyền xem như loại truyện dài đọc chơi, chẳng có hệ quả gì. Tình trạng hối lộ, tham nhũng, rút ruột, bán chức, đánh bạc bằng công quỹ,… gần như công khai và cùng khắp cả hệ thống cầm quyền là những bằng chứng mà chính lãnh đạo đảng cũng không chối cãi nữa.

Thế thì nguyên do nào khiến các thế hệ đảng viên nắm quyền có thể tự tin và xem thường các chiến dịch chỉnh đốn đảng đến thế? Họ đã đọc được những dấu hiệu gì?

Có lẽ dấu hiệu đầu tiên cho thấy các chiến dịch chỉnh đốn “không có răng” là hiện tượng chương nào cũng viết như chương trước. Điểm lại những báo cáo của các giới chức cao nhất tại các kỳ đại hội đảng CSVN, người ta gần như có thể thuộc lòng những câu, những chữ quen thuộc được lập đi lập lại, với vài tô điểm chút ít đó đây. Đối với các đảng viên nắm quyền, mỗi chiến dịch “mới như cũ” chỉ càng tô đậm sự hữu hiệu của các cách hóa giải mà họ đã rút ra được vào cuối mùa “diệt tham nhũng” trước. Chẳng hạn như ông Nguyễn Phú Trọng lại nhấn mạnh đến giải pháp “phê bình, tự phê” và coi đây là vấn đề mấu chốt. Nhưng cũng chính ông biết giải pháp đó đã bị vô hiệu hóa từ lâu. Ông nói: “Việc tự phê bình và phê bình còn tình trạng xuê xoa, nể nang, thậm chí biến cuộc họp tự phê bình và phê bình thành nơi vuốt ve, ca tụng lẫn nhau hoặc lợi dụng để đấu đá ’hạ bệ’ nhau”.

Dấu hiệu thứ hai là thái độ che đậy của chính lãnh đạo đảng. Chẳng hạn như cụm từ chung chung ngắn gọn “một số vấn đề tiêu cực” được dùng để nói tới cả cơn thủy triều tham nhũng mông mênh đang dâng lên đến tận nóc của toàn cơ chế đảng. Giới đảng viên đang nắm quyền thấy rõ lãnh đạo đảng không dám vạch trần tệ nạn tham nhũng quá xa vì như thế sẽ làm thiệt hại trầm trọng đến uy tín và vai trò lãnh đạo của đảng, nghĩa là sẽ làm lung lay chính bệ ngồi của giới lãnh đạo cao nhất. Đó là chưa kể các thiệt hại cho các đường dây, mạng lưới kinh tài của từng người lãnh đạo chóp bu. Chính vì vậy mà chiến dịch vạch trần tham nhũng chưa khởi sự ông Trọng đã long trọng nêu lời cảnh cáo coi chừng “diễn biến hòa bình”, nghĩa là “phải coi chừng đám phản động lợi dụng các dữ kiện về mức độ tham nhũng cực kỳ trầm trọng trong gan ruột đảng ta”. An toàn nhất vẫn là… giấu nhẹm như cũ. Tóm tắt lại, hầu hết giới đảng viên bên dưới đang nắm quyền đều tin vào định luật: Chẳng sợ, vì nếu chết là chết hết, kể cả lãnh đạo! Và vì thế thế hệ lãnh đạo nào cũng chỉ làm cho có trong lúc còn ngồi cai trị và chỉ tuyên bố cực mạnh khi đã qua chức “cựu” hay “nguyên”. Quá lắm thì cũng chỉ hy sinh vài con dê nhỏ tế thần công luận.

Dấu hiệu thứ ba là không có bác sĩ. Thật vậy, xin hãy nhìn thử Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã “kê toa” những loại thuốc gì tại Đại Hội IV vừa qua. Xem ra ông Trọng chỉ áp dụng đúng công thức của các đời trước, đó là báo nguy và báo động mà không đưa ra giải pháp nào cụ thể. Khi làm Tổng Bí thư vào đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, ông Đỗ Mười đã có những bài viết lê thê rất hồ hởi:“Không ngừng xây dựng, đổi mới và chỉnh đốn Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới” (2) nhưng chắc để dành công việc cụ thể cho cấp khác khai triểnĐến thời ông Lê Khả Phiêu, ông phát động “Cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng”trong toàn Đảng nhưng ai làm? Qua hai nhiệm kỳ của Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, toa thuốc vẫn trống trong lúc căn bệnh trở nên cấp thiết và trầm trọng hơn. Nghị quyết đại hội đảng lần thứ X nêu rõ: “Tình trạng tham nhũng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là rất nghiêm trọng. Nạn tham nhũng kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị và trong nhiều tổ chức kinh tế là một nguy cơ lớn đe doạ sự sống còn của chế độ ta”… và tới đó là hết. Chỉ có một hiện tượng mới cách đây khoảng 5 năm, khi ông Nguyễn Tấn Dũng lên làm thủ tướng, ông dõng dạc tuyên bố quyết tâm chống tham nhũng và sẽ từ chức nếu không giải quyết được. Nhưng lúc đó cũng không thấy ông Dũng đưa ra toa thuốc gì cụ thể. Rốt cuộc ông Nguyễn Tấn Dũng tiếp tục nhiệm kỳ thứ hai bên cạnh các báo động về nạn tham nhũng đã tới mức có thể làm xụp đổ chế độ. Nếu người dân còn thấy thì giới đảng viên đang nắm quyền còn biết rõ hơn nữa: toa thuốc trị tham nhũng từ xưa đến nay… vẫn trống trơn!

Dấu hiệu thứ tư là các chiến dịch chống tham nhũng không nhắm vào mục tiêu diệt tệ nạn này nhưng lại là vũ khí để các phe phái ở thượng tầng thanh toán lẫn nhau hoặc chia lại bản đồ quyền hành. Đây là hiện tượng không chỉ mới xảy ra trong hai thập niên vừa. Suốt từ thập niên 50, đảng CSVN đã có khá nhiều phong trào “chấn chỉnh” để thanh trừng lẫn nhau. Vụ tướng Nguyễn Kiên Giang và một loạt tướng tá bị tống giam, cái chết của thượng tướng Hoàng Văn Thái, Lê Trọng Tấn, vụ Đại tướng Võ Nguyên Giáp bị hạ tầng làm…. nhiệm vụ cai đẻ; hoặc gần đây hơn, lời của ông Đỗ Mười nói về ông Lê Khả Phiêu: “Nó lật tôi thì tôi lật nó!”, v.v… Khi biết được chủ đích đó, các đảng viên nắm quyền chỉ cần xem gió đang chuyển theo hướng nào và đầu quân sớm sủa vào đúng chỗ thì mọi sự lại… bình ổn. Và ai cũng biết: tham nhũng là chuyện nhỏ!

Nhà thờ Họ của Nguyễn Tấn Dũng tại Rạch Giá (hình: Dân Lên Tiếng)

Dấu hiệu thứ năm là câu hỏi “Ai đủ sạch để đứng đầu diệt tham nhũng?” Khi ông Nguyễn Phú Trọng nhai lại câu lãnh đạo phải “tự giác, gương mẫu làm trước” như những đời trước, lại làm nhiều người đặt lại các thắc mắc từ nhiều năm trước, đó là liệu rằng ông Lê Khả Phiêu có làm gương công khai nguồn tiền ở đâu để ông làm căn nhà đầy ắp những vật dụng quý hiếm, cùng với cả một vườn rau sạch và hệ thống tưới nước trên sân thượng của ông không? Hay ông Nguyễn Tấn Dũng có dám công khai về dãy nhà thờ tổ nguy nga và các đường dây làm ăn của con gái, con trai, mẹ, em, họ hàng và tập thể đàn em của ông không? Tương tự, những ông chóp bu khác, kể cả ông Nguyễn Phú Trọng, liệu có cái gương đủ sạch để làm gương không? Tập thể đảng viên nắm quyền dư biết ở thượng tầng “nhân không tài” (*) như lá mùa thu.

Cả 5 dấu hiệu trên đều chỉ là kiến thức thông thường đối với các tầng lớp đảng viên đang nắm quyền, dù chỉ ở cấp xã, huyện, quận. Tuy nhiên, theo sau mỗi bài diễn văn khởi động một chiến dịch chống tham nhũng mới, lại có một loạt bài bản ca tụng cho đúng truyền thống. Trong những ngày qua, đặc biệt phải kể đến nhận định của tướng Lê Văn Cương như là một tiêu biểu cho thành phần trí thức theo đảng. Trong bài viết ‘Báo hiệu Đảng ta đã chuyển mình’ (3), Thiếu tướng Tiến sĩ Lê Văn Cương, nguyên viện trưởng Viện Chiến Lược và Khoa Học của Bộ công an, bác bỏ quan điểm cho rằng nguyên nhân làm cho Đảng cộng sản suy thoái là không có đảng đối lập. Ông tướng công an này dẫn chứng là “ở các giai đoạn lịch sử của nhiều quốc gia ‘chỉ do một đảng duy nhất lãnh đạo’ nhưng ‘vẫn phát triển nhanh, bền vững, ổn định’ như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore và Malaysia.”Qua nhận định này, người ta thấy ông Lê Văn Cương hoặc là chỉ có kiến thức “ba rọi” hoặc có thể sự hiểu biết của ông khá hơn, nhưng chỉ dám viết ra một nửa sự thực. Điều quan trọng nhất mà ông Cương không viết ra là, vào giai đoạn độc tài, những quốc gia vừa kể tuy do một đảng lãnh đạo, nhưng tất cả những quyền căn bản của người dân vẫn được tôn trọng. Dù bị giới hạn, nhưng họ vẫn có đảng đối lập, có tự do báo chí, có quyền lập hội, biểu tình, có các hoạt động xã hội dân sự, v.v… Song song với những quyền cơ bản đó thì các cơ chế dân chủ lần hồi được kiện toàn, xã hội dân sự vẫn phát triển. Chính nhờ những nền tảng đó mà khi chuyển tiếp qua nền dân chủ đa đảng, những quốc gia vừa kể không trải qua giai đoạn hỗn loạn. Tức là hoàn toàn trái ngược với điều vẫn được giới lãnh đạo đảng đưa ra để hù doạ: “đa đảng là loạn”.

Một khuynh hướng nhận định khác cho rằng những biện pháp cứu đảng được ông Nguyễn Phú Trọng đưa ra chỉ mang tính nửa vời. Tiêu biểu về khuynh hướng này có thể kể đến nhận định của giáo sư Tương Lai. Giáo sư Tương Lai cho rằng “Qua lời của Tổng Bí thư hình như vẫn còn một giải pháp nào đó khả dĩ có thể tạo nên một khuôn mặt mới cho Đảng trước các xu thế không thể ngược lại của thế giới. Tuy nhiên vấn đề quan trọng nhất là thực thi dân chủ lại không được ông nói tới”.

Nhưng càng thảo luận về các báo nguy của ông Trọng, người ta càng dễ bị hút về điểm then chốt mà Cựu Trưởng Ban Tổ Chức Đảng kiêm Cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An đã chỉ ra, đó là “lỗi cơ chế, lỗi hệ thống”. Chính cơ chế và hệ thống này phát sinh và bảo vệ sự tồn tại của các tệ trạng, cũng như cột chặt các tệ trạng vào sinh mạng của đảng. Nếu diệt các tệ trạng chính là cắt lìa từng bộ phận của đảng lên đến thượng tầng cho đến khi không còn gì để cắt nữa. Chính vì thế mà đảng không muốn và không thể tự chữa mình. Rõ ràng những người từng cố gắng chống tham nhũng thực sự đều bị vùi dập không thương tiếc, như Tướng Trần Văn Thanh – nguyên Chánh thanh tra Bộ công an ở Đà Nẵng, Thiếu tướng Phạm Xuân Quắc – nguyên Cục trưởng Cục Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội ở Hà Nội, hoặc phóng viên Nguyễn Việt Chiến của báo Thanh Niên, và mới đây là Phóng viên Hoàng Khương của Báo Tuổi Trẻ, v.v.

Với tình trạng bế tắc này, có lẽ đã đến lúc ông Nguyễn Phú Trọng và toàn Bộ chính trị đảng CSVN phải thừa nhận và đối diện những tiến trình lịch sử mà không ai cưỡng lại được, kể cả tiến trình hủ hóa và tan biến của các thế lực quyền hành tuyệt đối.

— –

Ghi chú:

(1) Đề mục “chỉnh đốn đảng” trong nghị quyết các đại hội:

– Nghị quyết đại hội VII (24 – 27.6.1991) Mục 7: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức ngang tầm nhiệm vụ.”

– Nghị quyết đại hội VIII (28.6 – 1.7.1996) Mục 6 và 7: 6. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng; 7. Đổi mới công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng.

– Nghị quyết Đại Hội đảng IX (19-22.4.2001): “Xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng”

– Nghị quyết đại hội đảng X (18 – 25.4.2006): “Tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức lối sống, nâng cao tính tiền phong gương mẫu, phẩm chất và năng lực của đội ngũ cán bộ, Đảng viên”

– Nghị quyết đại hội đảng XI (12 – 19.1.2011) Điều 8: “Xây dựng Đảng trong sạch vững mạnh”

(2) Xuất bản bộ sách Đỗ Mười – Những bài nói và viết chọn lọc. (http://daibieunhandan.vn/ONA_BDT/NewsPrint.aspx?newsId=7019)

(3) Báo Quân Đội Nhân Dân ngày 30.12.2011

* “Nhân không tài” = “Người không tiền”

10 comments on “Đã ’Chỉnh’ mà vẫn ’Đốn’

  1. Cái “Đốn” ở đây là nạn tham nhũng từ tất cả những người có quyền có chức, kể cả công chức không có quyền từ xã, huyện, tỉnh , trung ương, các bộ, ban ngành đều đa số có tham nhũng, lãng phí, nên ngân sách trả lương đã ốm rồi chưa nói đến tham nhũng thất thoát còn bằng máy lầnsố phải trả lương cho lực lượng này thì gay go lắm . Xin mọi người hãy làm một phép tính cụ thể mà xem và so sanh với các nước xem tỷ lệ công chức trên người dân là bao nhiêu để thấy rằng một sự lãng phí đến chừng nào mà nền kinh tế chẳng teo tóp và sụp đổ. Còn CB và Đảng viên cũng là con người đều có nhu cầu ăn ở sinh hoạt hưởng thụ, nhưng ở đây cái gốc tạo nên là cơ chế hay nói khác là thể chế tạo nên sự loạn xạ này

  2. Lòng tham con người không thể kêu gọi bằng một sự hô hào gương mẫu nhân văn mà phải được điều chỉnh bằng luật pháp nghiêm minh và mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật không kể người vi phạm là ai có thế lực như thế nào mới hy vọng có một trật tự bền vững vĩ quyền lợi quốc gia dân tộc trong đó có mỗi người dân chúng ta

  3. http://www.nguoi-viet.com/absolutenm2/templates/?a=143530&z=7
    Tin hay không tin.
    Ngô Nhân Dụng

    Sau vụ anh Ðoàn Văn Vươn ở xã Vinh Quang huyện Tiên Lãng bị cướp đất rồi bị bắt, nhiều người Việt trong nước đã đặt câu hỏi trên các mạng lưới: “Liệu vụ này có bị chìm xuồng không?” Rồi tự trả lời, “Chúng tôi chả còn biết tin vào đâu nữa!” Một độc giả khác trấn an: “Hãy tin vào đảng vào trung ương…” Nhưng có người phản bác ngay: “Các bác vẫn còn cái trung ương để tin. Em thì chẳng. Dứt khoát như thế cho nó nhanh. Còn tin vào đâu?”

    Một cách cụ thể, một vị độc giả trên mạng đề nghị: “Hãy làm một cuộc trưng cầu dân ý bằng cách cho mọi người bỏ phiếu với hai khả năng (chọn lựa): Tin – Không tin.” Và vị này đoán kết quả sẽ “có đến 90 % người dân không tin vào vai trò lãnh đạo của đảng nữa.” Một vị khác đồng ý: “Tôi nghĩ… việc mất lòng tin của dân là nhãn tiền.”

    Thực sự bây giờ mà đặt câu hỏi dân Việt Nam còn tin hay không tin đảng cộng sản thì hơi phí thời giờ. Ðó là một vấn đề chẳng cần nêu ra làm gì nữa, câu trả lời ai cũng biết rồi. Có thể đặt ngay một câu hỏi là “Ðảng cộng sản có còn tin vào đảng nữa hay không?” Và có thể trả lời ngay là KHÔNG. Cũng trả lời “Dứt khoát như thế cho nó nhanh!”

    Hãy thử tự đặt mình vào địa vị các đảng viên và lãnh tụ cao cấp của đảng mà tự hỏi: “Nếu TIN thì TIN vào cái gì? Có cái gì để TIN hay không?” Hỏi rồi, nhìn quanh nhìn quẩn, thực tình, chẳng thấy có cái gì để tin hết! Chính họ cũng không thấy có gì để tin vào đảng của họ nữa, “Nói dứt khoát như thế cho nó nhanh!”

    Trước hết, đảng viên cộng sản còn ai tin vào mục đích sau cùng của các đảng cộng sản là làm cách mạng vô sản toàn thế giới hay không? Các đảng viên cộng sản bây giờ còn tin rằng kinh tế tư bản đang rẫy chết, sắp sụp đổ như ông tổ Karl Marx đã tiên đoán trước đây hơn 150 năm hay không? Các đảng viên cộng sản bây giờ còn ai muốn nghiên cứu học tập những lý thuyết viển vông như Duy Vật Biện Chứng hay Duy Vật Lịch Sử nữa hay không?

    Những giáo điều căn bản của đảng cộng sản, họ không tin, thì họ tin vào cái gì? Ngay cả những lãnh tụ cao cấp nhất trong đảng cũng chỉ chăm chắm lo làm giầu, lo củng cố địa vị cho con cháu; có ai bây giờ còn tự xưng mình là một “chiến sĩ vô sản?”

    Cơn khủng hoảng niềm tin trong nội bộ đảng Cộng Sản Việt Nam đã bắt đầu ngay từ khi họ chiếm được miền Nam Việt Nam. Những đảng viên người miền Bắc thấy rõ người dân trong Nam từng có mức sống cao hơn và có nhiều quyền tự do hơn trước khi “được Ðảng giải phóng.” Những chính sách kinh tế thất bại gây ra nạn đói, cho thấy chủ trương và tài cán của các lãnh tụ là số không. Các cuộc chiến tranh với Khờ Me Ðỏ và Trung Cộng cho thấy cái gọi là chủ nghĩa quốc tế vô sản là hoàn toàn dối trá, bịp bợm. Cảnh sụp đổ của Liên Xô và khối cộng sản ở Âu Châu đã mở mắt tất cả những đảng viên vẫn còn mơ hồ. Khi đảng cộng sản quyết định “đổi mới” thì người ta đã thấy chẳng qua chỉ là trở về với những phương pháp cũ, trước bị đảng cộng sản thay đổi! Nếu còn ai tin tưởng vào đảng cộng sản thì niềm tin đó cũng chấm dứt khi người ta nhìn thấy cảnh các cán bộ từ trên xuống dưới chạy đua trên con đường biến thành tư bản đỏ. Không phải tất cả các đảng viên cộng sản đều hy vọng thành tư bản đỏ, vì chỉ có một thiểu số giành được quyền làm giầu. Những người còn lại phải bám vào đảng để sống.

    Riêng đám lãnh tụ đầu đảng bây giờ chỉ còn lo củng cố địa vị mà làm giầu. Họ tìm cách học tập rồi chắp vá những mánh khóe của các chế độ độc tài khác trên thế giới, cố làm sao bảo vệ quyền hành, và bảo đảm đám con cháu sẽ còn được hưởng thụ như họ càng lâu càng tốt. Tất cả là một mạng lưới kết hợp chặt chẽ với nhau để giữ quyền và đục khoét. Ở cấp xã, cấp huyện thì tiêu biểu là xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng. Ở cấp cao hơn thì tiêu biểu là bọn những tập đoàn PMU 18, Xa lộ Ðông Tây ở Sài Gòn, Vinashin. Tất cả đều nhắm mục đích vơ vét thật nhanh, vì biết ngày sụp đổ không còn xa nữa. Leo lên ngồi được vào một cái ghế rất tốn kém, thời gian kiếm chác không biết được bao lâu, cho nên phải nhất trí vơ vét thật nhanh! Như một người dân đã viết trên mạng: Họ đầu tư thì họ phải cố thu hồi!

    Tóm lại, bây giờ, đảng cộng sản cũng không còn tin vào chính nó nữa. Những bài diễn văn vẫn đề cao những chủ nghĩa lạc hậu, vẫn hô to các khẩu hiệu rỗng tuếch; chính họ cũng không còn tin lời họ nói nữa. Ngay việc họ vẫn tự gọi tên đảng của họ là đảng cộng sản đã là một điều dối trá trơ trẽn rồi. Người dân coi họ chỉ là một bè lũ Mafia.

    Nhưng một hậu quả thê thảm sau hơn nửa thế kỷ cộng sản cai trị, là họ cũng phá vỡ hết cả niềm tin của mọi người dân Việt Nam. Ðảng cộng sản ngay từ đầu đã chủ trương phá các tôn giáo, vì sợ lòng trung thành với đảng bị chia sẻ. Họ hủy bỏ trật tự của các gia đình, là nơi vẫn chứa đựng các giá trị nhân bản như tình thương yêu giữa cha mẹ và con cái, niềm tin vào phúc đức tổ tiên, truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Họ biến công việc giáo dục thành một khí cụ tuyên truyền, xóa sạch tinh thần “tôn sư trọng đạo” mà các tiền nhân từ Chu Văn An đến Nguyễn Ðình Chiểu đã xây dựng trong hàng ngàn năm. Họ bỏ mặc các giáo chức sống nghèo khổ, phải lo kiếm ăn nhiều hơn là lo giáo dục; làm mất uy tín của các thầy giáo, cô giáo, mà từ đời xưa vẫn được coi là lớp người làm gương mẫu cho thanh thiếu niên Việt Nam. Họ coi cả hệ thống tư pháp là một dụng cụ cai trị, không người dân nào tin tưởng vào luật pháp nữa. Trật tự xã hội chỉ dựa trên nỗi sợ hãi trước guồng máy công an.

    Hậu quả của các chính sách cộng sản là tạo nên một xã hội bơ vơ không còn ai tin vào các giá trị tinh thần. Trước đây 30 năm, tập truyện Thằng Người Có Ðuôi của nhà văn Thế Giang đã cho thấy những thứ tội ác diễn ra lạnh lùng, ngay cả cảnh người lớn đối xử ác độc với trẻ em. Trước đây 25 năm Nguyễn Huy Thiệp đã mô tả tình trạng con giết cha, vợ bỏ chồng, anh em, bạn bè lợi dụng lẫn nhau; trong một xã hội hoàn toàn không có các tiêu chuẩn luân lý. Nhưng trong văn chương của Nguyễn Huy Thiệp cũng như Thế Giang độc giả còn thấy bóng dáng của lòng từ bi, của những khát vọng hướng về Cái Thiện. Ngày nay, đọc tiểu thuyết Xe Lên Xe Xuống của Nguyễn Bình Phương chúng ta thấy ông cực tả tình trạng trống rỗng tinh thần ở một mức độ kinh hoàng hơn nữa. Cái Thiện hoàn toàn vắng mặt. Các nhân vật trong Xe Lên Xe Xuống không quan tâm đến một giá trị luân lý nào cả. Ðộng cơ của họ khi cư xử với nhau, khi đối phó với hoàn cảnh bên ngoài, đều là do lòng tham và nỗi sợ. Họ chỉ đi tìm tiền bạc, quyền hành, và nhục dục. Họ nhìn người khác đều chỉ thấy đó là những vật có thể dùng để thỏa mãn các mục đích này. Hình ảnh duy nhất còn mang lại niềm tin trong toàn cảnh tiểu thuyết này là tình anh em ruột thịt, qua những ký ức về thời thơ ấu của nhân vật chính, khi hai anh em đối xử với nhau như những con người, không vụ lợi.

    Có thể đó là một điều mà Nguyễn Bình Phương nêu lên như mầm mống để nuôi hy vọng cho một nước Việt Nam tốt đẹp hơn. Cuốn tiểu thuyết đặt trong bối cảnh cuộc chiến tranh Việt Hoa tàn khốc những năm 1979, và 1984, cuối cùng, chứa đựng một nỗi khát khao: Phải sống lại tình anh em máu mủ, như thời chúng ta còn là những đứa trẻ thơ.

    Bởi vì các chế độ chính trị sau cùng đều tàn lụi cả. Các chủ nghĩa, các lý thuyết đều chỉ có giá trị nhất thời. Những người giầu có nhất, quyền lực cao nhất, sau cùng cũng sẽ bị lãng quên. Quyền hành, danh vọng, tiền bạc, khi chết không ai mang theo được. Nhưng tình tự dân tộc, tình thương yêu giữa người Việt Nam với nhau giống như tình anh em ruột thịt, vẫn tồn tại. Mọi người Việt Nam dù ở trong nước hay ở nước ngoài đều chia sẻ những nỗi nhục nhằn cay đắng của các nhân vật trong Xe Lên Xe Xuống, trong cơn hoạn nạn đất nước bị xâm lăng. Tất cả đều xúc động khi đọc tin tức về gia đình ông Ðoàn Văn Vươn. Tình đồng bào đó vượt lên trên mọi bức tường chia rẽ chúng ta, dù là tường lửa.

    Bây giờ chẳng cần đặt ra câu hỏi người dân còn tin chính quyền cộng sản hay không nữa. Nhưng chúng ta có thể tin vào tình thương yêu giữa đồng bào với nhau. Mối quan tâm lớn là chính chúng ta phải xây dựng lại niềm tin giữa người Việt Nam với người Việt Nam. Bắt đầu bằng tấm lòng thành thật, bằng lời nói đúng sự thật, và thái độ sẵn sàng tin tưởng vào những người cùng thành tâm thiện chí. Chỉ có sự thật xây dựng được niềm tin.

  4. Em khoái “ô chống đạn”, sao người ta không thiết kế ra loại vũ khí nhỏ gọn nằm trong lòng bàn tay để thử chất độc vậy? Giống như ngà voi hay gì đó để mấy ông ham ăn nhậu biết được trong rượu có thuốc kích dục hay chất nổ (xe) không đó?

    https://chauxuannguyen.wordpress.com/2012/01/28/nh%E1%BB%AFng-vu-khi-khi%E1%BA%BFn-c%E1%BA%A3-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi-kinh-ng%E1%BA%A1c/#respond

  5. Chúng ta hảy nghe những danh nhân , nhửng cựu đảng viên cao cấp của đảng cộng sản khắp nơi trên thế giới nhận xét về cộng sản để hiểu rằng đảng cộng sản VN có chỉnh đốn được hay không hay phải tan rã .

    Cựu Tổng bí thư đảng CS Liên xô Mr. Gorbachev nói :
    “ Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng Cộng Sản
    Hôm nay tôi đau buồn mà nói rằng:
    Đảng Cộng Sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá .”
    Bà Thủ tướng Đức Angela Merkel nói:
    Cộng Sản đã làm cho người dân trở thành gian dối
    Bí thư đảng CS Nam Tư Milovan Djilas nói :
    20 tuổi mà không theo Cộng Sản, là không có trái tim
    40 tuổi mà không từ bỏ Cộng Sản, là không có cái đầu
    Cố Tổng thống Nga Boris Yeltsin nói :
    Cộng Sản không thể nào sửa chửa, mà cần phải đào thải nó
    Cựu Tổng thống Nga Putin nói :
    Kẻ nào tin những gì Cộng Sản nói, là không có cái đầu
    Kẻ nào làm theo lời của Cộng Sản, là không có trái tim
    Nhà văn Nga Alexandre Soljenitsym nói:
    “Khi thấy thằng Cộng Sản nói láo, ta phải đứng lên nói nó nói láo. Nếu không có can đảm nói nó nói láo, ta phải đứng lên ra đi, không ở lại nghe nó nói láo. Nếu không can đảm bỏ đi, mà phải ngồi lại nghe, ta sẽ không nói lại, những lời nó nói láo với người khác.”
    Đức Dalai Lama lãnh tụ tinh thần Phật giáo Tây Tạng nói :
    “Cộng Sản là loài cỏ dại, mọc trên hoang tàn của chiến tranh, là loài trùng độc, sinh sôi, nẩy nở, trên rác rưởi của cuộc đời.”

  6. Chẳng còn chỉnh gì nữa.Chỉ có cách ”đốn”bỏ thôi.Bản chất CS là không bao giờ nhận sai.Chúng tự nhận là” lập trường vững mạnh”hoặc ”tin tưởng mãnh liệt vào sự lãnh đạo của Đảng”.Thực chất là độc tài và cuồng tín,duy ý chí.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s