Trần Đức Việt – Thoát khỏi tư duy lý luận Mác – Lênin và tư duy lý luận Trung Quốc là điều cần thiết

Tôi đọc bài Thoát Trung Luận của ông Giáp Văn Dương với tinh thần đồng cảm sâu sắc. Và xin có lời bàn thêm…

Theo sách lịch sử chính thống của nhà nước Việt Nam thì vào đầu thế kỷ XX phong trào đấu tranh giành độc lập ở Việt Nam lâm vào tình trạng bế tắc về đường lối. Các lý luận theo tư duy phong kiến cùng với phong trào theo hướng này hoàn toàn thất bại. Con đường cứu nước kiểu dân chủ tư sản cũng thất bại, điển hình là cuộc khởi nghĩa của ông Nguyễn Thái Học bị dập tắt, các phong trào đấu tranh không tìm thấy đường ra. Chính lúc đó lãnh tụ của phong trào công nhân là Nguyễn Ái Quốc đã đem chủ nghĩa Mác-Lênin về Việt Nam. Sau này, khi trở thành Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với tên gọi Hồ Chí Minh, ông có nói: Chủ nghĩa Mác-Lênin như cẩm nang thần kỳ, mỗi khi cách mạng gặp khó khăn là lại giúp những người cách mạng tìm thấy lối thoát. Những thành công, thắng lợi của cách mạng Việt Nam đều được giải thích là do có Đảng lãnh đạo, do sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh Việt Nam.

Thử điểm lại chủ nghĩa Mác – Lênin đã nêu lên điểm gì mới so với các lý luận khác. Chủ nghĩa Mác – Lênin gồm 3 bộ phận cấu thành: triết học Mác-Lênin, Kinh tế chính trị Mác – Lênin và Chủ nghĩa xã hội khoa học.

Triết học Mác-Lênin thừa nhận vật chất có trước ý thức và quyết định ý thức (ngược lại với triết học Hê-ghen). Kinh tế chính trị Mác – Lênin giải thích sự giầu có của giai cấp tư sản là do bóc lột giai cấp công nhân. Để xóa bất công xã hội, chủ nghĩa Mác – Lênin tóm tắt trong một câu: xóa bỏ quyền tư hữu.Chủ nghĩa xã hội khoa học giải thích lịch sử bằng lý luận đấu tranh giai cấp, cho rằng giai cấp công nhân sẽ đào mồ chôn giai cấp tư sản. Vào thời của Mác, ông đưa ra một số luận điểm mà sau này Lênin bỏ đi. Ví dụ như Mác cho rằng chế độ cộng hòa đại nghị là hình thức nhà nước tốt nhất của dân chủ vô sản, Lênin đã xóa bỏ và kết luận: Nhà nước xô-viết công nông binh mới là hình thức nhà nước chuyên chính vô sản tốt nhất. Hoặc Mác cho rằng cách mạng vô sản chỉ thành công khi giai cấp công nhân chiếm đa số trong dân cư, khi phong trào công nhân cướp chính quyền cùng xảy ra ở nhiều nước, Lênin đã xóa bỏ và nêu lên luận điểm: Cách mạng vô sản sẽ thành công ở khâu yếu nhất trong dây chuyền tư bản chủ nghĩa thế giới, vào đầu thế kỷ XX nơi đó chính là nước Nga. Chủ nghĩa Mác-Lênin vào Trung Quốc bị biến dạng khá nhiều, nhưng nét cơ bản vẫn bảo tồn. Đó là việc xóa bỏ quyền tư hữu, xóa bỏ chế độ cộng hòa đại nghị, dùng chuyên chính vô sản tổ chức xã hội, tiến hành đấu tranh giai cấp quyết liệt. Lịch sử dân tộc Hán có nhiều cuộc đấu tranh nội bộ, đấu tranh cấp nhà nước (Trung Quốc thường chia làm nhiều nước nhỏ, chống lẫn nhau), đương nhiên là tích lũy nhiều kinh nghiệm đấu tranh cấp nhà nước. Lúc Mao Trạch Đông đưa ra “tư tưởng Mao Trạch Đông” (các nhà nghiên cứu phương Tây gọi là Maoism – chủ nghĩa Mao) thì những kinh nghiệm này được nghiên cứu, áp dụng vào hoàn cảnh mới. Hơn thế nữa, Mao muốn “tư tưởng” của mình là hình mẫu cho châu Á, nếu như chưa phải là cho toàn thế giới. Các nhà lãnh đạo Trung Quốc hiện nay đã hấp thu tất cả những gì trong “tư tưởng Mao Trạch Đông” có thể giúp ích cho họ bành trướng “tư duy Trung Quốc” ra toàn thế giới và điều này họ đang thực hiện với tiềm lực kinh tế ngày càng lớn.

Trở lại với Việt Nam, rất tiếc là các nhà lãnh đạo nhiều thời đã không có tư duy độc lập, không có những lý luận “đặc sắc Việt Nam”. Ngay trong thời kỳ thịnh trị nhất của phong kiến Việt Nam như triều đại Lý, Trần, Lê, tất cả đều giống như một bản sao của Trung Quốc. Sách vở toàn là Bắc sử, Kinh Dịch, Tứ thư, Ngũ kinh… Đến thời nhà Nguyễn, được tiếp xúc với văn minh phương Tây rồi mà vua Tự Đức vẫn “tự hào” là Việt Nam “đúng” với đạo Khổng – Mạnh hơn Trung Quốc(?). Lịch sử nhiều khi rất trái khoáy, hiện nay một số nhà lãnh đạo Việt Nam vẫn đang “tự hào” là Việt Nam mới đúng với chủ nghĩa Mác-Lênin, trong khi toàn thế giới đã vứt bỏ lý luận này. Hình như người Việt rất giỏi môn vơ lý luận người khác về làm của mình và khi lý luận này trở nên lạc hậu với cuộc sống thì người Việt vẫn “kiên định” với lý luận vơ được để “tự hào”, để “tiếp tục xây dựng truyền thống” và “phát triển trong hoàn cảnh mới”. Khi dạo qua các cửa hàng sách, tôi thấy vô số sách viết về Kinh Dịch, Tử vi đẩu số, Tử bình… được xuất bản, tập nọ nối tiếp tập kia. Cầm thử vài quyển lên xem mới thấy nản. Nhiều vấn đề trong sách đã bị người Trung Quốc vứt bỏ từ lâu, từ thời nhà Thanh, khi vua Càn Long tập hợp tư liệu xuất bản Tứ khố toàn thư mà bây giờ nhiều “nhà nghiên cứu” nước ta vẫn nêu lên như chân lý không thể bác bỏ. So sánh cách làm của Trung Quốc với Việt Nam thì càng rõ chúng ta lạc hậu đến mức nào. Trung Quốc có cả một nhóm các nhà khoa học tập trung nghiên cứu kho tàng văn hóa thần bí của họ, xuất bản thành sách. Việt Nam không có một tổ chức chính danh nào nghiên cứu vấn đề tương tự, đưa ra những kết luận có tính khoa học cao (Ngược lại, càng ngày các nhà khoa học Việt Nam càng trở nên mê tín). Đối với những vấn đề của xã hội hiện đại, Việt Nam không có một nghiên cứu cho ra hồn. Vẫn loanh quanh trong vũng lầy của chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa Mao, ẩn dưới nhãn mác “tư tưởng Hồ Chí Minh”. Trong một lần nói chuyện với các giáo sư, tiến sĩ, các “trí thức XHCN Việt Nam”, ông Nguyễn Phú Trọng, khi đó là Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương cho biết: Nhà nước đã bỏ ra 9 tỉ đồng đặt hàng cho các nhà khoa học xã hội nghiên cứu vấn đề của xã hội Việt Nam. Nhưng kết quả là gì? Cũng có tổng kết, cũng có giải thưởng nọ kia nhưng các bức xúc của xã hội vẫn còn nguyên đó. Chẳng hạn một đề tài về đổi mới ở Việt Nam các tác giả đưa ra mấy kịch bản sau: đổi mới thành công, nước ta thoát khỏi lạc hậu; đổi mới không thành công, nước ta rơi vào khủng hoảng gay gắt; nước ta bị nước ngoài lợi dụng vấn đề dân tộc ở Tây Nguyên để can thiệp và mất chủ quyền… Kịch bản là vậy nhưng phương pháp nào để có thể vừa đổi mới thành công, vừa giữ vững chủ quyền thì không khẳng định được. Có lẽ chẳng cần đến trình độ giáo sư tiến sĩ, chẳng cần nghiên cứu gì cũng có thể đưa ra mấy kịch bản kiểu trên.

Tại sao các nhà khoa học nước ta bế tắc như vậy nhỉ? Tôi nghĩ có thể là do hoàn cảnh xã hội không công nhận quyền tư hữu, dẫn đến không có cơ sở đề xây dựng tư duy độc lập, dù cố gắng thế nào thì cũng không vượt khỏi giới hạn của tư duy lý luận Mác-Lênin và tư duy Trung Quốc đè nặng lên xã hội Việt Nam mấy chục năm nay. Có lẽ các nhà khoa học xã hội Việt Nam cũng cần phải có một tiếng súng Đoàn Văn Vươn thức tỉnh họ.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s