Tản mạn: Phong cách giảng dạy

GS. Nguyễn Văn Tuấn

Có một nghịch lí trong đại học là ít ai muốn giảng dạy! Ngày xưa, lúc còn bên USyd, có thầy nói với tôi “đừng phí công giảng dạy, truyền bá mấy kiến thức sơ đẳng đó chẳng có ai ghi nhận công lao của mình đâu”. Có lẽ chính vì thế mà nhiều người mang hàm “professor” nhưng rất ít đứng lớp giảng bài; họ thích nói trong seminar. Nhưng tôi nghĩ giảng dạy cũng là một nghệ thuật chuyển tải thông tin từ cái đầu này sang cái đầu khác. Nhân dịp báo chí đang xôn xao về loạt bài giảng của một giảng viên kinh tế – ngân hàng, tôi có động cơ tản mạn đôi ba dòng về giảng dạy …

Cá nhân tôi có một nghịch lí: một mặt tôi không thích giảng dạy, nhưng mặt khác khi đã giảng thì lại rất hăng say. Lí do không thích thì nhiều, nhưng có lẽ chủ yếu là tốn nhiều thì giờ, nhất là thì giờ để soạn bài giảng. Lí do khác nữa là … mệt. Cứ mỗi lần giảng xong một bài tôi thấy người như rã rời. Nhưng điều trớ trêu là khi đã bắt đầu giảng thì lại chẳng thấy mệt, có khi nói suốt 2 giờ mà chẳng uống chút giọt nước nào mà vẫn thấy ok; lại có khi giảng một loạt 5 ngày liền từ sáng đến chiều, mà vẫn thấy … hào hứng.

Thỉnh thoảng tôi cũng giảng bài cho nghiên cứu sinh, nhưng rất ít. Chỉ khi nào về Việt Nam mới giảng nhiều trong các workshop. Nhưng cũng như phần lớn những người giảng dạy trong đại học, tôi không được huấn luyện về kĩ năng sư phạm. Những kĩ năng tôi học được phần lớn là do nghe thầy cô giảng, dự những buổi seminar, và tự mình rút kinh nghiệm. Nói chung là … tự học.

Quan điểm của tôi về giảng dạy chỉ đơn giản là truyền đạt thông tin. Từ dữ liệu (data hay fact) tôi phải có nhiệm vụ biến chúng thành thông tin (information). Do đó, tôi tự đặt mình vào vai trò của học viên hay người nghe. Tôi nghĩ trước một thông tin, học viên sẽ đặt 3 câu hỏi căn bản:

Dữ liệu và thông tin này có đáng tin không?
Thông tin có làm thay đổi quan điểm học viên?
Thông tin này có giúp ích gì cho học viên trong thực hành lâm sàng?

Thật ra, trong giảng dạy, vấn đề không phải là tin hay không tin (vì niềm tin mang màu sắc tôn giáo), mà là thuyết phục. Thuyết phục bằng cách “nói có sách, mách có chứng”, tức mỗi dữ liệu quan trọng phải có nguồn gốc. Nguồn gốc có thể là sách giáo khoa, nhưng thường là từ những bài báo khoa học gốc, hay nghiên cứu của chính giảng viên. Những câu chuyện bên lề hay giai thoại không thể xem là đáng tin được, cho dù những chuyện này có thể giúp làm cho bài giảng thêm phần thú vị và giúp chống … buồn ngủ. Trình bày nguồn gốc dữ liệu vẫn chưa đủ, mà cần phải trình bày cả bối cảnh của dữ liệu và ý nghĩa của chúng trong nội dung bài giảng. Nhưng để biết bối cảnh của dữ liệu, giảng viên phải am hiểu những khía cạnh đằng sau của dữ liệu hoặc của công trình nghiên cứu. Nếu chỉ đơn thuần đọc dữ liệu thì chưa thể nói là am hiểu được. Nhớ có lần tôi tham dự một symposium ở Sài Gòn mà diễn giả là một giáo sư có tiếng trong nước. Tôi giật mình khi nghe phía sau ghế mình 2 anh bác sĩ trẻ nói nhỏ với nhau rằng “Giảng bài như thầy thì bọn mình cũng làm được, chỉ việc lên google tải bài về là xong. Mấy số liệu này toàn là của người khác.” Điều này cho thấy học viên đòi hỏi giảng viên phải biết “câu chuyện” đằng sau những slide, phải có những gì của mình để nói, chứ không phải chỉ đơn thuần kể chuyện của người khác.

Nếu thông tin đáng tin cậy, câu hỏi kế tiếp mà học viên sẽ hỏi là: thông tin này có giúp học viên hình thành một quan điểm mới. Trước khi đến lớp học, có lẽ nhiều học viên đã có chút kiến thức nhưng chưa rõ ràng lắm, nhưng cũng có học viên thậm chí có quan điểm về một vấn đề mà họ quan tâm. Một bài giảng tích cực phải giúp cho học viên hoặc là xoá được “đám mây mù” kiến thức, hoặc là củng cố quan điểm của họ, hoặc là làm thay đổi nhận thức của họ về một vấn đề. Nhưng để đạt được mục tiêu này, tôi nghĩ bài giảng cần phải được bố cục sao cho học viên có thể so sánh hai quan điểm hay hai cách tiếp cận, và yêu cầu này đòi hỏi giảng viên phải tham khảo nhiều nguồn dữ liệu.

Câu hỏi học viên khi tham dự một buổi giảng là “thông tin này có thể giúp ích gì cho mình”. Do đó, một bài giảng có ích phải theo mô hình thông tin – lợi ích (information – benefit). Theo mô hình này, thông tin phải đem lại lợi ích thiết thực cho học viên. Lợi ích ở đây nên hiểu là giúp cho học viên trong thực hành hay trang bị một kiến thức mới.

Do đó, tôi nghĩ một bài giảng phải đạt được 3 tiêu chí : thuyết phục bằng dữ liệu khoa học, thông tin có ích, và thông tin giúp học viên có hành động. Để đạt được 3 tiêu chí đó đòi hỏi giảng viên phải chuẩn bị bài giảng cẩn thận. Giảng viên không chỉ am hiểu vấn đề mình nói, mà còn phải là một “diễn viên” trong câu chuyện của mình (hiểu theo nghĩa người trực tiếp sáng tạo / sản xuất ra thông tin). Do đó, chúng ta hay thấy các giảng viên trong các đại học ở nước ngoài thường giảng bài trong sách mà chính họ là tác giả, hoặc sử dụng dữ liệu nghiên cứu của chính họ. Dĩ nhiên, cũng có giảng viên sử dụng sách và dữ liệu của người khác, nhưng đó là giảng viên thuộc đẳng cấp khác.

Là “diễn viên” trong việc sáng tạo ra thông tin có lợi thế giúp cho giảng viên nắm vấn đề kĩ hơn và tự tin hơn. Cũng là một slide với dữ liệu, nhưng nếu đó là dữ liệu của mình thì giảng viên sẽ tự tin trong cách truyền đạt; còn nếu là dữ liệu của người khác thì giảng viên khó có thể truyền đạt đầy đủ ý nghĩa của dữ liệu. Giảng viên đọc dữ liệu của người khác thì đó chỉ là một thợ giảng. Đây chính là điều mà đại học khuyến khích, nếu không muốn nói là bắt buộc, giảng viên phải làm nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu sáng tạo ra thông tin mới và tạo nên tư cách để giảng viên có thể chuyển tải thông tin đến học viên.

Theo: Blog NVT

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s