Thông điệp Nguyễn Mạnh Tường: Phải đòi cho được quyền làm người cho chính mình và cho người khác…

Trả lời câu hỏi của Hoà Khánh ở Paris: “Luật sư có thể cho biết luật sư đã tham gia phong trào Việt Minh và sau đó tham gia kháng chiến như thế nào?”, Luật sưNguyễn Mạnh Tường nói:

“Thật ra tôi không hề tham gia Mặt Trận Việt Minh. Bao giờ tôi cũng là một người yêu nưóc, luôn luôn ưu tư đến việc giành lại độc lập cho đất nước. Tuy nhiên tôi tự xác định cho mình một vị trí là làm một người trí thức. Mà người trí thức, muốn độc lập, thì không nên tham chính. Do đó, tôi đã từng từ chối nhiều lời mời ra làm bộ trưởng của nhiều chính phủ. Người trí thức phải đứng về phía dân chứ không đứng về phía chính quyền. Người trí thức chỉ nên đứng ở lãnh vực thuần lý chính trị (politique speculative) nghiên cứu, thúc đảy các trào lưu.

Cách mạng tháng Tám là tôi rất vui mừng. Tôi muốn đóng góp vào việc xây dựng đất nước trong 2 lãnh vực sở trường của mình: luật học và nghiên cứu”.

(Hoà Khánh, Ba giờ với ls Nguyễn Mạnh Tường, phỏng vấn ghi âm viết lại đăng trên Giai phẩm Xuân Quê Mẹ số 105-106 tháng 1-1990).

Ngày 30 tháng 10 năm 1956, Luật sư Nguyễn Mạnh Tường với tư cách thành viên của Mặt trận Tổ quốc, đã đọc bài một bài diễn văn tại một cuộc họp trước đó của Mặt trận Tổ quốc tại Hà Nội, phân tích sâu sắc những sai lầm của Đảng và Nhà nước trong cải cách ruộng đất và đề ra phương hướng tránh mắc lại. Sau phát biểu này, ông bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp.

Ông mất ngày 13 tháng 6 năm 1997 tại Hà Nội, thọ 88 tuổi.

Trong khi có những kẻ sống trong chế độ miền Nam bênh vực VC còn hơn chúng nó bênh vực chúng nó bằng những luận điệu ngờ nghệch chê bai chế độ miền Nam là “những kẻ đầu cơ tích trữ, những đứa sống nhởn nhơ phè phỡn trên cơn thiếu thuốc men, bệnh tật của dân nghèo khó, những đứa buôn súng đạn, bán đứng sinh mạng của chính anh em đồng ngũ của mình… những kẻ bất tài nhưng có quyền thế thao túng chính trị, thao túng thị trường, thao túng trên cả sinh mạng lính…

Một xã hội như thế, nghĩ cho cùng vẫn còn hơn xã hội Cộng Sản nhưng nhất định không phải vì thế mà trở thành một niềm mơ ước của tất cả mọi người.

Và lớn tiếng, rộng họng ca tụng là “trăm hoa vẫn nở trên quê hương” sau khi bọn CSVN độc tài đảng trị đã thống trị và cai trị đất nước như một đoàn quân ngoại nhập  thì, từ năm 1956, “lưỡng khoa tiến sĩ” Nguyễn Mạnh Tường đã vạch rõ “Trăm Hoa Đua Nở” chỉ là một cái bẫy của bọn cầm quyền:

“Sự lừa dối mà cộng sản tung ra phong trào Trăm Hoa Đua Nở, không pải để giải phóng họ ra khỏi xiềng xích mà để lật mặt nạ của những kẻ ngây thơ tin rằng đã đến lúc có tự do ngôn luận đáp ứng những ước vọng dân chủ của mình. Không thể nào có chuyện một đảng cộng sản độc quyền chính trị lại có thể tự mình thích nghi được với những tự do, dân chủ…”

*

Theo tin trên net, nhà phê bình Thụy Khuê ở Pháp vừa đọc tiểu thuyết “Une voix dans la nuit” (Tiếng vọng trong đêm) của Tiến sĩ kiêm Luật sư Nguyễn Mạnh Tường, một trí thức đối kháng ở Viẹt Nam viết tiểu thuyết bằng tiếng Pháp xuất bản ở Pháp.

Tiểu thuyết “Tiếng vọng trong đêm” là một cuốn tiểu thuyết tự sự viết về mối tương quan giữa đảng Cộng Sản và trí thức ở Việt Nam với một giọng văn bình thản và không ngại nói ra những sự thật tồi tệ mà đảng CSVN đối với dân cũng như đối với trí thức qua vụ án Nhân Văn Giai Phẩm và giải tán 2 đảng Dân Chủ và Xã Hội. Cái hay của Nguyễn Mạnh Tường là không đào thoát “chiụ chơi” và chơi tới cùng dám sống chết với ngòi viết không ngại làm nhân chứng thời đại viết tới hơi thở cuối cùng tất cả những sự thật “chết người”. Đó là chủ nghĩa Cộng Sản chống lại con người, chống lại trí thức, một thứ chủ nghĩa biến con ngưòi thành súc vật, tước đoạt hết các quyền con người, quyền tự do.

Nhà phê bình Thụy Khuê đã giới thiệu “Tiếng vọng trong đêm” như sau:

Une voix dans la nuit, tác phẩm áp chót của Nguyễn Mạnh Tường, viết xong ngày 19-3-1993, ở tuối 84-85, cho tới nay là cuốn sách có hệ thống, khúc chiết và sâu xa nhất bao trùm toàn bộ hành trình thiết lập chế độ độc tài đảng trị ở Việt Nam.

Hiện nay, mọi người dường như đã “thích nghi” với chế độ kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Ngậm miệng là điều kiện cần và đủ để thành công mọi mặt, từ công ăn việc làm đến thăng quan tiến chức. Từ miếng giấy thông hành về nước, đến việc dạy học, viẹc mở và dự hội thảo ở Việt Nam.

Ngoại trừ những khuôn mặt can trường đã vào tù, tinh thần trí thức hướng dẫn xã hội và  dân tộc đến bình đẳng, tự do, dân chủ, đã bị dẹp tan, gần như diệt chủng, kể cả những “trí thức” đã đi du học, làm việc ở nước ngoài, đã được giải thưởng quốc tế, cũng lộn về để nhận ân sủng, phẩm hàm, nhà cửa.

Thông điệp Nguyễn Mạnh Tường để lại cho chúng ta, mạnh mẽ và dứt khoát: sống không chỉ có ăn mặc, có nhà cửa, có phẩm hàm, địa vị, mà còn phải có văn hóa, tư tưởng. Phải đòi cho được quyền làm người. Cho chính mình và cho người khác. Nếu không con người sẽ chẳng khác gì con vật”.

Trong khi đó thì ở hải ngoại có những kẻ tự xưng mình là trí thức lại quai mỏ ra ca tụng cái chế độ mà trước khi chết, luật sư Nguyễn Mạnh Tường đã dũng cảm cất lên tiếng nói đòi những người lãnh đạo chế độ CSVN phải trả lại QUYỀN LÀM NGƯỜI CHO DÂN TỘC VIỆT NAM.

Đáng giận thay! Mà cũng đáng tội nghiệp thay!

NGUYỄN THIẾU NHẪN

http://nguyenthieunhan.wordpress.com

3 comments on “Thông điệp Nguyễn Mạnh Tường: Phải đòi cho được quyền làm người cho chính mình và cho người khác…

  1. Hồi ký của một thiếu nữ Bắc Triều Tiên : 9 năm để thoát khỏi địa ngục

    Ngày 8 tháng Ba 2012, nhà xuất bản Pháp Michel Lafon vừa cho ra mắt cuốn tự thuật của một thiếu nữ Bắc Triều Tiên, kể về con đường khổ ải gần một thập kỷ dẫn cô thoát khỏi miền Bắc Triều Tiên. Cuốn tự thuật của cô Eunsun Kim, mang tên « Bắc Triều Tiên : Chín năm để thoát khỏi địa ngục ».
    Eunsun Kim cho biết :
    « Nhớ lại những người lang thang không nhà cửa, không có gì để sống ở miền Bắc, điều đó khiến tôi vô cùng phẫn nộ. Khi đó tôi chỉ là một đứa trẻ nhỏ, nhưng những hình ảnh đó mãi mãi in đậm trong trí não tôi. (…) Hiện nay còn hàng triệu người ở miền Bắc cũng sống tranh cảnh ngộ như tôi trước kia, họ cũng có những niềm hy vọng như tôi, cũng mong trốn thoát được như tôi. Tôi rất mong muốn làm được điều gì đó để giúp họ.”

    http://www.viet.rfi.fr/chau-a/20120318-hoi-ky-cua-mot-thieu-nu-bac-trieu-tien-9-nam-de-thoat-khoi-dia-nguc

  2. Hỡi những nhà CS đương thời ở Việt nam hãy học tập Miến điện để phát triển đất nước

    Bùi Tín (VOA) – Báo the Economist số ra tháng 2-2012 có bài bình luận khá sinh động và bổ ích về tình hình mới đây ở Miến Điện. Báo này thường có bài viết của một nhóm nhà bình luận chuyên sâu có mặt ở Rangoon Miến Điện và trong khu vực, chung sức tạo nên những bài viết có giá trị.
    Bài báo đặt vấn đề vì sao tình hình Miến Điện lại có thể thay đổi đột ngột sâu sắc đến vậy, làm cho một số nhà bình luận quốc tế ngỡ ngàng, làm cho một số trí thức trong cộng đồng người Miến Điện sống tỵ nạn ở phương Tây bán tín bán nghi.

    Trước đây, ai có thể nghĩ đến chuyện bà Aung San Suu Kyi bị tù, quản thúc, giam lỏng, không được ra nước ngoài thăm chồng con, kể cả khi chồng bà hấp hối, rồi tổ chức chính trị của bà là Tập họp quốc gia vì Dân chủ bị khủng bố, đặt ra ngoài vòng pháp luật, vậy mà bỗng nhiên nay bà được đi khắp nơi để vận động bầu cử cho mình và cho đảng của mình, và đảng của bà nay lại có đầy đủ quy chế hợp pháp như mọi chính đảng khác để ra ứng cử trong cuộc bầu cử bổ sung tháng 4-2012.
    Điều gì đã xảy ra để suốt 22 năm qua tên của bà không hề được nêu lên trên báo chí công khai, trừ khi để chỉ tên một kẻ tội phạm nguy hiểm cho nền an ninh quốc gia, một kẻ cầm đầu âm mưu lật đổ chính quyền, đang bị trừng phạt như một kẻ thù của nhân dân, nay bỗng nhiên xuất hiện trên trang nhất các báo lớn, trên đài phát thanh và truyền hình toàn quốc, với ảnh màu trang trọng, trong tư thế một nhà lãnh đạo chính trị hợp pháp đàng hoàng.
    Báo ‘the Economist’ giải thích cặn kẽ rằng sở dĩ có sự đổi thay kỳ thú như thế là do sự trùng hợp của nhiều nguyên nhân, nhiều cơ duyên hiếm có. Một số trí thức người Miến tỵ nạn ở Pháp cũng có ý kiến tương tự.
    Trước hết, về phía bà Aung San Suu Kyi và Tập họp quốc gia vì Dân chủ của bà đã tự tin giữ vững hàng ngũ, có uy tín lớn trong và ngoài nước, được xã hội và giới Phật giáo thật sự quý trọng suốt hơn nửa thế kỷ qua.
    Về phía các tướng cầm quyền, họ gặp những khó khăn chồng chất nan giải, dẫn đến bế tắc kinh tế xã hội, nhất thiết phải tìm cách thoát khỏi khủng hoàng nặng nề kéo dài. Kinh tế đình trệ. Nợ nước ngoài của nhà nước đã vượt qua 11 tỷ đôla; y tế và giáo dục xuống cấp nặng nề; chiến tranh với các bộ tộc Shan và Karen do Trung Quốc sách động vẫn dai dẳng. Cuộc phong tỏa của phương Tây kéo dài gần 20 năm ngày càng ngấm sâu. Họ buộc phải tìm ra con đường sống.
    Tình hình quốc tế thời gian qua mang lại nhiều tác động sâu sắc. Các ông tướng cầm quyền theo dõi sát tình hình Tunisia, Ai Cập, Libya …rất lo nếu có đông đảo dân chúng xuống đường như hồi năm 1988 hay năm 2007, sẽ rất dễ đụng độ với cảnh sát và quân đội, xô xát, bắn giết dễ xảy ra và leo thang, khó ngăn chặn những điều tệ hại như ở Ai Cập và Libya, dẫn đến sự can thiệp và trừng phạt của quốc tế, đưa đất nước đến nội chiến đẫm máu mờ mịt.
    Báo ’the Economist’ cho biết nhiều ông tướng thực sự lo âu khi được tin cha con Mubarak nếu bị bắt sống sẽ bị giải sang Tòa án Hình sự Quốc tế ICC ở La Haye, và rất sợ viễn cảnh như thế đối với bản thân. Cộng đồng Miến Điện ở Anh và Pháp cũng cho biết đã sưu tầm khá nhiều tài liệu về tài sản bất minh của một số tướng lĩnh đương quyền cũng như những cuộc bắn giết, tra tấn, hành hạ dân thường, trí thức, nhà báo, nhà tu hành, và đã công bố trước thế giới, đồng thời gửi cho Tòa án Hình sự Quốc tế.
    Các tướng lĩnh cầm quyền không đồng nhất. Có những nhóm rất xấu, tham ô, quân phiệt, mê tín dị đoan, kinh doanh đủ thứ, đã thành nhóm tài phiệt quân sự như tướng Than Shwe; ngược lại có những tướng sống giản dị, có lòng yêu nước, thương dân, thấm nhuần bản chất hòa bình vị tha của đạo Phật, tin ở kiếp luân hồi – sống là gửi, thác là về – như Tướng Thein Sein, đã từ bỏ quân phục, quân hàm, là tổng thống dân sự hiện tại. Họ thiên về cuộc sống nội tâm hơn là thụ hưởng vật chất. Tổng thống Thein Sein tỏ ra quả đoán và cương trực, đang cùng nhóm tin cẩn của ông chèo lái cuộc đổi mới đầy khó khăn, là một người như thế..
    Bà Aung San Suu Kyi đóng một vai trò đặc biệt hệ trọng trong sự chuyển biến kỳ thú của Miến Điện. Thời gian qua bà không phải chỉ là một nhà lãnh đạo gương mẫu, kiên cường, chịu đựng mọi hy sinh cá nhân vì dân, vì nước, bà còn là một nhà ngoại giao sắc sảo, luôn nụ cười lạc quan trên môi, am hiểu sâu sắc tâm lý của đối phương và luôn tìm ra giải pháp có lợi cho sự nghiệp đổi mới. Bà sống giản dị tại ngôi nhà nhỏ ven hồ, ăn chay trường.
    Sau khi bà được tự do ngày 11 tháng 10 năm 2010, bà đã tập trung trí tuệ và tâm huyết cho sự nghiệp đổi mới mà nội dung cốt lõi được bà và nhóm cố vấn của bà xác định là: hòa giải dân tộc, hòa bình vững chắc, chấm dứt chiến sự, sớm chấm dứt phong tỏa và trừng phạt của quốc tế, nâng cao uy tín của Miến Điện ở trong khu vực Đông Nam Á và trên thế giới, chuẩn bị tốt cho sự nghiệp khôi phục và phát triển đất nước với tốc độ khá, bù lại thời gian đã phí phạm do chia rẽ xung đột.
    Tranh thủ sự trợ giúp, tiếp sức của quốc tế là một hướng nỗ lực đạt kết quả cao của bà. Bà tin ở Liên Hợp Quốc, ở các tổ chức dân chủ, ở chính quyền các nước dân chủ, tin ở Hoa Kỳ, ở các nước Liên minh châu Âu và được các nước này tin cậy trở lại. Nhiều phái viên của bộ ngoại giao, ngành an ninh Hoa Kỳ đến gặp bà. Ngoại trưởng Hillary Clinton nhiều lần đến gặp bà trong thời gian dài để trao đổi mọi vấn đề cần thiết. Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama trên đường thăm Úc cũng gọi điện thoại từ trên máy bay Air Force One để nói chuyện trao đổi với bà.
    Từ đó, có tin thuật lại là khi Tổng thống Thein Sein và quan chức thân cận từng hỏi bà rằng theo bà nghĩ, sau khi phía Miến Điện đã thực hiện tự do báo chí rộng rãi, cho công đoàn tự do hoạt động, trả hơn 600 tù chính trị thì phía Hoa Kỳ có thật sự chấm dứt phong tỏa, viện trợ trở lại như trước không. Bà đã trả lời dứt khoát là những điều ấy đã và sẽ chắc chắn được thực hiện. Không những vậy bà còn bảo đảm rằng Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF và Ngân hàng Thế giới WB cùng một số tổ chức tài chính quốc tế cũng sắp viện trợ trở lại và cho vay với lãi xuất thấp.
    Theo tin trong nước, chính bà Aung San Suu Kyi đã chấp nhận để một số tướng lãnh ở lại cầm quyền nhưng phải từ bỏ quân phục và phải cai trị như một chính quyền dân sự, dựa vào hiến pháp, luật pháp chứ không dựa vào quân đội như cũ. Bà đã biết uyển chuyển từ bỏ yêu sách cũ là tất cả tướng lãnh phải ra đi, thậm chí phải bị truy tố về tội ác và tham nhũng. Theo tiết lộ, bà còn ngỏ ý bảo đảm tài sản riêng của các tướng lãnh cũ nói chung sẽ được tôn trọng, trừ những trường hợp phạm pháp rõ rệt phải trả lại công quỹ mà không phải qua truy tố. Điều này giải tỏa nỗi lo lắng và sự chống đối của một bộ phận tướng lãnh từng cầm quyền. Họ chỉ mong được hạ cánh an toàn.
    Cũng cần phải nói Miến Điện từng trải nghiệm một thời gian về một kiểu xã hội chủ nghĩa – kinh tế tập trung theo kế hoạch – rầt gần với Bắc Kinh và Moscow, dưới thời thủ tướng U Nu, nhưng đẫ bị thất bại nặng nề. Khái niệm ‘xã hội chủ nghĩa’ đã bị chính chế độ quân phiệt khai tử.
    Mặt khác sự trở lại lâu dài của Hoa Kỳ ở châu Á với những trục liên minh Hoa Kỳ – Indonesia, Hoa Kỳ – Philippines, Hoa Kỳ – Ấn Độ, Hoa Kỳ – Đài Loan, Hoa Kỳ – Úc…nhằm ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc đi cùng với tệ ngạo mạn nước lớn của Bắc Kinh ở vùng biển Đông Việt Nam cũng làm cho Miến Điện cảnh giác và lặng lẽ tự tách dần khỏi Bắc Kinh.
    Các tướng từng phụ trách các bộ giáo dục, y tế, khoa học kỹ thuật đều phát biểu là Trung Quốc không có trình độ để giúp phát triển khoa học – kỹ thuật, giáo dục, các công ty Trung Quốc tràn vào Miến Điện mấy năm qua gây tổn hại cho nền kinh tế và phá hại môi trường hơn là giúp cho sự phát triển. Họ chỉ lợi dụng Miến Điện để mở đường bành trướng xuống Ấn Độ Dương.
    Có thể nói cuộc gặp gỡ giữa tổng thống Thein Sein và bà Aung San Suu Kyi ở thủ đô Naypidaw tháng 8 năm 2011 thẳng thắn, chân thành đã tạo nên niềm tin giữa 2 nhà lãnh đạo quốc gia. Hai người không chỉ cùng tuổi Ất Dậu – sinh năm 1945 – còn chung một niềm tin triết lý và tôn giáo của đạo Phật, còn chung lòng nhân hậu yêu nước thương dân, bằng những sáng kiến và việc làm cụ thể có hiệu quả.
    Rồi đây Miến Điện sẽ có thể là quốc gia nổi lên trong cộng đồng các nước Đông Nam Á, vừa có hòa hợp dân tộc, vừa có hòa bình, phát triển, như một tấm gương chính trị đẹp đẽ của thời đại mới, của hòa hợp dân tộc, của hòa bình, dân chủ, tự do và phát triển cho toàn dân cùng hưởng.
    Gần đây quan hệ giữa Việt Nam và Miến Điện có nhiều nét phát triển về kinh tế, chính trị và cả về quân sự, qua sự thăm viếng của các nhà lãnh đạo, ngoại giao và quân sự. Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam thăm Miến Điện; tàu hải quân Miến ghé thăm cảng Đà Nẵng. Ngày 20-3 này tổng thống Thein Sein sang thăm Việt Nam.
    Năm ngoái khi Việt Nam là chủ tịch Đông Nam Á, ông Nguyễn Tấn Dũng đã yêu cầu Miến Điện thực hiện bàu cử dân chủ đa đảng và hòa hợp dân tộc. Nay phía Miến Điện đã thực hiện đúng yêu cầu ấy, nhưng mỉa mai thấy 2 điều đó vẫn còn là món nợ của đảng CS Việt Nam đối với nhân dân Việt Nam và cả với các nước Đông Nam Á. Gặp ông Thein Sein, ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ ăn nói ra sao đây?
    Xem ra phía Việt Nam đang ở thế rất khó xử, vì chưa sẵn sàng thay đổi hẳn hệ thống cầm quyền như Miến Điện, chưa chịu chuyển từ độc đoán sang dân chủ đa đảng trong luật pháp và trật tự, chưa chịu thông qua luật tự do báo chí, luật tự do công đoàn, chưa chịu công nhận quyền tư hữu tư nhân về ruộng đất của nông dân, chưa chịu thành thực hòa giải và hòa hợp dân tộc.
    Trông người lại nghĩ đến ta. Bao giờ ta sẽ bằng người.
    Để cả nước sống hòa thuận tử tế với nhau trong thương yêu tin cậy nhau, tỉnh ngộ sâu sắc sau một thời gian dài xung đột và chia rẽ. Miến Điện đang cho ta một kinh nghiệm, một hy vọng, một gợi ý và niềm tin. Xin chớ bỏ qua bài học hiếm và quý này

  3. TIẾC MỘT Thế hệ Lý tưởng hy sinh tất cả không tiêc gì như Thế hệ ĐẠI KHOA BẢNG và Trí thức Chân chính yêu Nước tuyệt đối …
    Tình yêu Nước bị lạm dụng khai thác cũng là TỘI PHẠM như Thi sĩ TẢN ĐÀ và Nhà báo Nguyễn Khắc Hiếu từng viết ….

    CHÂN DUNG người đồng hành cùng thế hệ với NGUYỄN MẠNH TƯỜNG : Triết gia TRẦN ĐỨC THẢO ….
    =============================

    Tháng Chín năm 1945, trên tờ Le Monde liên quan đến cuộc họp báo của Trần Đức Thảo, đã trích dẫn câu trả lời của Trần Đức Thảo dành cho câu hỏi của một nhà báo hỏi ông người Đông Dương sẽ làm gì khi đội quân viễn chinh tới, Trần Đức Thảo trả lời:

    “Bằng những phát súng A coups de fusils! ”

    Câu trả lời này đã khiến Trần Đức Thảo bị bắt và bị giam ở Nhà tù Prison de la Santé nơi Chí sĩ Phan Châu Trinh từng bị giam ngục ….từ đầu tháng Mười đến cuối tháng Chạp năm 1945 vì “tấn công vào sự ổn định của Nhà nước Pháp trong những lãnh thổ mà nước Pháp nắm quyền”

    Trong khi Trần Đức Thảo bị giam giữ, báo L’Humanité đã đăng một bài báo đòi trả tự do cho Trần Đức Thảo

    Cuối năm 1951, Trần Đức Thảo giã từ bút chiến với Triết gia Jean-Paul SARTRE trở về Việt Nam qua đường Ba Lê – Luân Đôn – Praha – Mạc Tư Khoa – Bắc Kinh, rồi về đến Tân Trào….
    Cuối năm 1956, chỉ vì 2 bài báo đăng trên Nhân Văn và Giai Phẩm Trần Đức Thảo đã bị khai trừ …

    Năm 1992 trở lại Pháp và qua đời trong âm thầm tại Ba Lê 1993 ….


    Trần Ðức Thảo, một kiếp người
    ====================

    NGUYÊN BẢN ĐỌC TẠI :

    http://amvc.free.fr/PHD/FilJour/TranDucThaoUneVie.htm

    Sinh thời Jean Paul Sartre coi ông là một trong số rất hiếm những người mácxít không chìm đắm trong tụng niệm, dám xông pha nơi biên ải của sự hiểu biết. Ðúng là Trần Ðức Thảo đã xông pha khi ông công bố Phénoménologie et matérialisme dialectique[1].
    Ông đã tìm cách thống nhất tính ý hướng (intentionnalité) của ý thức, tính tự do của con người với quá trình vận động của Lịch sử.
    Ông đã theo rõi những bước đi chập chững của sinh học cuối thập niên 1940, cố tìm nhịp cầu nối liền sự sống với tư duy.
    Ông đã choảng cả trọng khối của hiện thực vào quan điểm siêu việt (transcendance) của các bạn đồng song ở phố Ulm.
    Ðối với các nhà “mácxít” chính thống, ông làm loé sáng cái intentionnalité rất có vấn đề.
    Hai sự khước từ ấy, hai đòi hỏi ấy, là nội lực quán xuyến những tác phẩm của ông. Trong cõi hỗn mang của Lịch sử, ông đòi được trọn vẹn cả phần xác lẫn phần hồn. Một con người tự do. Ðã 40 năm nay.
    Ngày ấy, tương lai Trần Ðức Thảo tưởng chừng rộng mở và sáng chói. Rốt cuộc, nó tối om, như tiền đồ của chị Dậu trong Tắt đèn.

    Là người triệt để mácxít, ông không tin có thể phủi đời mà hiểu được con người. Sự thấu hiểu thế giới chỉ chớm nở, hưng phấn thông qua hành động. Ông muốn trả giá, trả nợ đời để được tư duy thân phân con người cho tới cùng :
    “Phần thứ nhì của Phénoménologie etmatérialisme dialectique (1951) do đó đã dẫn tôi tới một ngõ cụt, và lúc đó tôi đã hy vọng tìm ra giải pháp trong cách mạng Việt Nam. Cuối sách, khi nói tới “vận động hiện thực của lịch sử”, chính là bóng gió nói tới cách mạng Việt Nam[2]”.
    Trung thành với truyền thống sĩ phu, ông xếp bút nghiên, rời Pháp, về chiến khu Việt Nam. Con người tự do ấy đã tự biến mình thành chiến sĩ.
    Là nhà triết học, qua chiến đấu, ông sẽ khắc tự do của mình vào quá trình xây dựng nhân cách của nhân loại.
    Người ta kể lại rằng Trần Ðức Thảo ước mơ thuyết giảng chủ nghĩa Mác cho các nhà lãnh đạo Ðảng. Nếu đúng vậy, quả là bé cái lầm. Họ xếp ông vào một xó để dịch tác phẩm của tổng bí thư Trường Chinh ra tiếng Pháp,
    nhân tiện để dạy ông chủ nghĩa Mác hiện thực của guồng máy Ðảng.
    Chủ nhiệm Khoa sử Trường đại học tổng hợp, mà rồi Trần Ðức Thảo bị cấm giảng dạy, phải dịch thuật lặt vặt để sống, phải bán dần bán mòn những bộ từ điển để ăn.
    Họ chặt đứt mọi liên hệ của ông với thế giới, họ cô lập ông ngay giữa đồng bào của mình.
    Ông vẫn nghiên cứu với những phương tiện trong tầm tay.
    Vẫn một nỗi ám ảnh khôn nguôi : làm sao, một ngày kia, liên hợp được những cỗi rễ vật chất, sinh vật, lịch sử, xã hội của con người với ý thức tự do của nó.

    Lâu lâu, giữa hai đợt bom Mỹ, ta vẳng nghe tiếng nói của Trần Ðức Thảo. Ðâu đó một bài nghiên cứu đăng trên một tạp chí. Ta biết ông còn sống, còn tư duy. Thế là đủ !

    Chẳng có gì đáng tự hào, cũng chẳng có gì phải dằn vặt lương tâm. Còn biết bao việc khác, cấp bách, phải làm. Vả chăng, có điều luật văn minh nào kết tội sự thờ ơ trước một tư duy đang lâm nguy ?
    Rồi tới lúc họ bán tống bán tháo chủ nghĩa cộng sản. Bán, bán hết. Hải sản, dầu mỏ, hồng ngọc, gỗ quý… đàn ông, đàn bà, trẻ con, từng container, từng chuyến charter, Ðông Tây Nam Bắc, đủ mười phương tám hướng… bán luôn cả linh hồn của Ðảng.

    Ông chẳng bao giờ có gì để bán. Chỉ còn một điều để cho : sự đòi hỏi còn nguyên vẹn từ tuổi trẻ. Họ sử dụng ông một lần chót, để ông sang Paris gặp gỡ trí thức, bảo vệ cái lý tưởng mà họ đã hết tin tưởng.
    Biết đâu đấy. Lầm to, cái lầm tất yếu của mọi vương triều trong buổi suy tàn. Trên mảnh đất năm nào đã loé lên tư tưởng của mình, Trần Ðức Thảo đã tìm lại cỗi rễ của sự trưởng thành, hưng phấn của tuổi trẻ : “cái đà nội tâm của những năm chót thời tôi ở Pháp[3]” đã tái khởi động ngay từ những ngày đầu của Perestroika.
    Tình cờ, tôi được gặp ông, vài tháng trước khi ông chết. Ông sống đơn độc trong một căn phòng bé tí, rệu rạo. Dán lững thững bò khắp nơi, trên tường, trên trần. Ðôi mắt ông, đôi mắt sáng, thơ ngây như mắt trẻ con, không thấy chúng.

    Bạn bè bảo tôi rằng ông Thảo bây giờ lẩm cẩm rồi, sau bao nhiêu năm bị truy bức, tâm thần của ông đã bị nhị phân (schizophrénie). Song tôi đã gặp một con người minh mẫn.
    Biết ông đã từng tranh luận với Sartre, tôi hỏi ông nghĩ sao về tác phẩm Phê phán lý trí biện chứng[4]. Ông nói : “Sartre là nhà triết học duy nhất đã đặt ra những câu hỏi đáng đặt”. Tôi lại hỏi ông về trước tác của ông, và nói thực là tôi thấy chúng máy móc. Ông khoát tay như muốn gạt chúng đi, và đưa cho tôi tác phẩm cuối cùng, còn dưới dạng bản nháp.
    Ông nói đôi điều về cuộc sống của ông ở Paris. Mỗi ngày ông còn viết được một trang. Ông vẫn lạc quan, vẫn hy vọng, qua sự tiếp cận những khoa học mới, ông sẽ mở ra con đường mới.
    Ông chưa biết nhân loại mảnh mai lắm, ông chưa tưởng tượng được quá khứ có thể phủ dập tương lai. Bạn bè muốn giúp ông, ông thường từ khước. Ông quá sợ bị kết nạp vào các trường, các phái, các nhà thờ. Tôi hiểu ông đã lâm bệnh nặng. Căn bệnh của ông có một cái tên : Tự do. Ông muốn vận dụng nó để làm gì ? Hãy nghe ông nói, một lần chót :
    “… khi tự vấn mình, ý thức đòi hỏi
    cái Thiện trong hành động, cái Chân trong tri thức, và cái Mĩ trong sự hoàn thành các quá trình nghiệm sinh,,qua đó ý thức biến thế giới tự nhiên thành một nhân giới, xứng đáng với con người[5].”
    Cái Chân trong tri thức ! Ông đã sống nhầm thời đại. Thời đại này chỉ hiểu hiệu quả trước mắt.
    Cái Thiện trong hành động ! Ông đã chọn nhầm thế giới. Thế giới này chỉ tuân theo lợi nhuận.
    Cái Mĩ trong sự hoàn thành các quá trình nghiệm sinh ! Ông đã nhầm nhân loại. Nhân loại hôm nay chỉ ao ước cơm áo, giải trí và những hàng rào.
    Không khuất phục được ông lúc sống, họ tìm cách quản lý cái chết của ông. Họ gắn một huân chương hạng hai lên quan tài của ông, để quay phim. Muộn quá rồi.
    Ông đã ra đi, mang theo hoài bão, chỉ để lại một sự đòi hỏi, cho những cuộc đời thầm lặng.
    Người chiến sĩ, người cộng sản, nhà tư tưởng không hề bỏ cuộc ấy đã ra đi.

    Sống như ông đã phải sống, có lẽ chỉ có thể chết như ông đã chết.
    Tôi hồi tưởng đôi mắt ông, đôi mắt sáng, thơ ngây tựa mắt trẻ con.
    Và tôi tự nhủ, xét cho cùng, đời ông thật buồn mà thật đẹp, vì ông đã biết chết như chẳng mấy người biết sống, sống mà không hề biết bán mình.
    Trần Ðức Thảo là một nhà triết học chân chính.

    Trần Đạo
    30-4-1993

    (Kiến Văn Nguyễn Ngọc Giao chuyển ngữ)

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s