Những phản ánh về Việt Nam

Ông Pierre Brocheux

Phạm Anh Tuấn TTHN dịch

(Phỏng Vấn Pierre Brocheux)

Ông có thể cho chúng tôi biết về cội nguồn của ông?

Tôi sinh ra ở Việt Nam. Mẹ tôi là người Việt Nam, nhưng cha cô là một công dân Pháp. Tôi tìm thấy giấy chứng nhận ‘quốc tịch’ của ông, đó là cách gọi thời đó, số 18, năm 1906, nói là , ông là người Việt Nam thứ 18 có được quốc tịch Pháp, mặc dù ông không bao giờ đến Pháp.  Ông làm việc cho một công ty Pháp tại Việt Nam, lưu giữ những cuốn sách. Khác với những gì nhiều người nghĩ, có được quốc tịch Pháp không cần thiết là một cộng tác viên (cho Pháp). Nếu một người có thể nói và viết ngôn ngữ một cách chính xác, sống trong phong cách Pháp, và giáo dục trẻ em bằng tiếng Pháp – là những điều kiện cần có. Ông tôi thoả mãn được các điều kiện này. Ông uống rượu Bordeaux, nhưng ăn thức ăn Việt Nam. Bạn phải nhớ rằng Việt Nam được chia thành ba phần: An Nam, Bắc Bộ và Nam Kỳ. Gia đình của mẹ tôi từ Nam Kỳ – phần đất đầu tiên của Việt Nam bị chinh phục bởi người Pháp. Đó là một xã hội mở, khu vực thương mại mạnh nhất. Nó đã là một vùng biên giới cho người Việt Nam: họ chỉ đến đó vào thế kỷ thứ mười bẩy và mười tám. Trước đó, là dân Campuchia, nhiều người Trung Quốc sống ở đồng bằng sông Cửu Long, những người bị xua đuổi bởi các triều đại Mãn Châu.

Giai cấp tư sản Việt Nam rất cởi mở với các ảnh hưởng từ văn hóa Pháp hoặc Trung Quốc. Mẹ tôi đã học đọc bằng tiếng Pháp cũng như tiếng mẹ đẻ của bà. Bà đã làm việc từ khi còn nhỏ, cho một công ty xuất nhập khẩu Pháp, Liên minh Commerciale Indochinoise et Africaine. Bà làm trong bộ phận mỹ phẩm, và cha tôi làm việc trong bộ phận thực phẩm, đó là nơi mà họ gặp. Cha mẹ bà đã hứa gã bà với một chủ đất giàu có, nhưng bà không muốn một cuộc hôn nhân sắp xếp. Bà nói với họ rằng bà đã gặp một người Pháp, con trai của một thương gia từ Normandy. Có một tranh chấp rất lớn, bởi vì cha mẹ bà không biết gia đình của bố tôi – họ nói: “Ta không thể tin tưởng anh ta, có lẽ anh là một kẻ lừa đảo, một tù nhân vượt ngục!” Nhưng mẹ tôi rất cả quyết, và họ kết hôn vào năm 1929. Tôi đã được sinh ra hai năm sau đó, đứa con duy nhất của họ.

Làm thế nào sự hiện diện của Pháp tại Việt Nam được thành lập?

Cuộc chinh phục đã diễn ra trong giai đoạn giữa 1858 và 1897. Các nhóm lợi ích khác nhau gây áp lực để mở rộng vào Đông Dương. Những thúc giục sớm nhất đến từ các Giáo Hội truyền giáo. Đối với Giáo Hội Công giáo, chủ nghĩa thực dân là quan trọng, vì nó cung cấp một sự đáp lại những khó khăn nghiêm trọng đi kèm với công việc của mình ở châu Âu, một đường dẫn đến đền bù mới, bù đắp cho sự suy giảm từ từ của nền văn hóa Kitô giáo ở Pháp đã xảy ra kể từ trước cuộc cách mạng (Pháp). Truyền giáo đã đóng một vai trò không thể thay thế như cung cấp thông tin và tư vấn. Nhờ tiếp xúc hàng ngày của họ với dân bản địa, họ là những người châu Âu duy nhất có thể cung cấp thông tin đầu tay về những xã hội ở đó. Thuộc đại Pháp ở vùng Viễn Đông cũng được gắn liền với sự nổi lên của hải quân, nếu không thì việc mở rộng toàn cầu của thương mại Pháp và nhà nước Pháp sẽ không thể thực hiện. Việc tái sinh quyền lực hàng hải Pháp đòi hỏi một mạng lưới toàn cầu cho các căn cứ (hải quân), và các cảng Đông Dương nằm quá tốt ở giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương.

Chúng ta không nên xem việc tạo ra các quyền bảo hộ như công việc của vốn tài chính trong ý nghĩa Hobsonian hoặc Lênin, của các nhóm độc quyền lớn tìm kiếm để phân chia bán đảo (Đông Dương) giữa bọn họ. Tại Pháp, các nhóm này hầu như không có mặt trong những năm 1880, khi các thuộc địa Đông Dương đạt đến đỉnh cao – mặc dù họ hoạt động rất mạnh ở Nga và Thổ Nhĩ Kỳ sau năm 1900. Tuy nhiên, các yếu tố kinh tế là trung tâm. Chủ nghĩa tư bản Pháp đã bị suy thoái kéo dài trong cuối thế kỷ XIX, và đạt điểm thấp trong những năm 1880. Giữa 1875 và 1905, GNP của quốc gia (Pháp) tăng chỉ có 10%, so với% 113 của Đức và 60% của Vương quốc Anh. Việc xuất khẩu vốn đã trở nên quan trọng hơn bao giờ hết như là một cách nâng cao và điều hòa tỷ lệ lợi nhuận. Thuộc địa được xem như vị trí then chốt cho việc đầu tư vốn dư thừa.

Hòa lẫn cuộc khủng hoảng này là sự suy yếu của nền ngọai thương của Pháp. Các nhà lãnh đạo Pháp đã nhìn thấy việc tạo ra các thị trường người tiêu dùng như là một đáp ứng có hiệu quả, theo thời gian, toàn bộ ngành công nghiệp Pháp và nông nghiệp hình thành mối quan hệ mạnh mẽ với các thuộc địa. Cũng có một khía cạnh chính trị: chủ nghĩa đế quốc được coi là nguồn ổn định không thể thiếu của một quốc gia bị xé nát bởi năm cuộc cách mạng từ năm 1830 và 1870. ‘Một quốc gia không thuộc địa’, Ernest Renan đã cảnh báo ‘là bị ràng buộc không thể hủy bỏ với chủ nghĩa xã hội, với cuộc chiến giữa người giàu và người nghèo.’ Jules Ferry quy định rằng an toàn xã hội trong thời đại công nghiệp là ‘một câu hỏi của các cửa hàng’.

Có sức đề kháng đáng kể nào cho thực dân Pháp? Dưới những hình thức nào?

Trong giai đoạn cuối của cuộc chinh phục, bắt đầu vào năm 1885, Pháp đã phải vật lộn với một cuộc khởi nghĩa quốc gia chính cống, phong trào Cần Vương. Nhìn chung, cuộc đối đầu hạn chế ở chiến tranh du kích địa phương, nhưng các nhà lãnh đạo của Cần Vương liên tục cố gắng để tiến xa hơn giai đoạn này và tăng lên trên các thiết lập tỉnh lỵ. Một phần lãnh đạo thôn xã chỉ đạo các cuộc nổi dậy và gán cuộc nỗi dậy của mình truyền thống yêu nước. Các binh sĩ của phong trào là những người nông dân: một số lãnh đạo đến từ những danh nhân hay nông dân giàu có, những người khác đến từ xã hội nông thôn. Nhưng chính giới văn nhân trí thức cung cấp các cuộc nổi dậy với phần lớn các nhà lãnh đạo. Trong Việt Nam cổ đại, giới văn nhân là các nhà quản lý thực sự của xã hội nông thôn: chức năng xã hội và ảnh hưởng của họ thật to lớn.

Tuy nhiên, mặc dù rất phổ biến, phong trào Cần không phải là một phong trào quốc gia hiện đại được trang bị với khả năng chuyển đổi xã hội và hiện đại hóa. Lý tưởng chính của các quan kháng chiến là bảo vệ trật tự Nho giáo chống lại người man rợ phương Tây. Tuy nhiên, tập hợp cuối cùng của triều đình chống lại sự bảo hộ của Pháp, với mục đích bảo vệ chế độ quân chủ và hệ thống phân cấp của Nho giáo Việt Nam, tước mất sức đề kháng của kháng chiến quân đến bất kỳ dự án chính trị nào đáng tin cậy. Nó cũng làm suy yếu và có thể phá vỡ liên kết của hoàng gia của quốc gia. Trong con mắt của các tầng lớp có học thức, chế độ quân chủ Nho giáo đã vĩnh viễn mất uy tín, và một vi phạm mở ra giữa nó và lòng yêu nước phổ biến mà sẽ không bao giờ đóng lại. Không chỉ các triều đại bị mất nhiệm vụ thiên liêng của nó, nhưng sự bảo trì của nó trên ngai vàng của người nước ngoài làm bất kỳ việc tiếp tục nào của nhiệm vụ này không thể hiện được. Lòng yêu nước bắt buộc tìm con đường khác.

Làm thế nào chủ nghĩa dân tộc hiện đại phát triển tại Việt Nam?

Phải công nhận rằng những tác động xã hội của chủ nghĩa đế quốc Pháp là mâu thuẫn: cả hai cách mạng và bảo thủ. Thực dân làm mất ổn định nông thôn và tạo ra sự tăng trưởng đô thị và phát triển công nghiệp, tạo ra các tình huống thuận lợi cho việc cấy ghép các phong trào chính trị hiện đại. Đồng thời, chế độ thực dân kiểm tra sự tăng trưởng của họ bằng cách duy trì quyền lực tiền-hiện-đại. Nó buộc các thành phần truyền thống của dân tộc Việt Nam vào ngõ cụt và lên án các dòng ‘cải cách’ của nó là thất bại. Điều này đặt sân khấu cho các phong trào cấp tiến trong tương lai. Chúng ta phải tránh quyết định luận, tuy nhiên: không có gì đã diễn ra trước. Các phong trào cực đoan không phải là những người duy nhất truyền bá tư tưởng quốc gia hiện đại. Sử sách gần đây cho thấy tầm quan trọng của các hình thức hòa bình của các đảng phái dân tộc, xu hướng cải cách từ từ, và các hợp tác mâu thuẫn, chân thành khác nhau, của họ với sức mạnh thực dân.

Sau khi phải chịu đựng nỗi đau sỉ nhục quốc gia, giới tinh hoa Việt Nam nhanh chóng phát triển một nền văn hóa chính trị hiện đại. Một số từ ngữ đã trở mạnh lên với ý nghĩa mới: ví dụ, từ dân, từ ý nghĩa là ‘con của một nước có chủ quyền’, chuyển thành ý nghĩa ‘công dân’. Các từ của các nhà dân tộc chủ nghĩa hiện đại – ‘patriotism’ (ái quốc), ‘nation’ (quốc dân), ‘revolution’ (cách mạng)- thâm nhập vào ngôn ngữ. Các tầng lớp có học bắt đầu chuyển lòng trung thành của họ từ tính hợp pháp của nhà vua sang của dân tộc. Pháp dần dần thiết lập Quốc ngữ – cách phiên âm tiếng Việt sang các ký tự Latin phát triển bởi các nhà truyền giáo Dòng Tên người Pháp và Bồ Đào Nha trong thế kỷ 17 – như là hệ thống chữ viết của dân tộc Việt Nam. Chính quyền thực dân xem Quốc ngữ là một ngôn ngữ trung gian cho phép người Việt Nam làm quen với tiếng Pháp, nhưng nó đã trở thành một công cụ của chính trị và văn học Việt Nam hiện đại.

Hai trường phái tư tưởng xuất hiện trong chủ nghĩa dân tộc Việt Nam vào đầu thế kỷ XX. Phan Bội Châu (1867-1940) hình dung ra một liên minh giữa các phong trào chủ nghĩa dân tộc của vùng Viễn Đông và tìm kiếm hỗ trợ bên ngoài trong cuộc đấu tranh chống Pháp. Tham vọng của ông là xây dựng một tổ chức cách mạng ở nước ngoài, bao gồm những người trẻ, những người sẽ được đào tạo chính trị và quân sự tại Nhật Bản. Phong trào này sẽ lây lan giữa các tầng lớp trí thức Việt Nam, thâm nhập vào các đơn vị chiến đấu, tập hợp lại những gì còn lại của phong trào Cần Vương, và chuẩn bị một cuộc nổi dậy nhằm giải phóng (đất nước). Phan Bội Châu tự lưu đày đến Nhật Bản vào năm 1905, nơi ông thiết lập quan hệ với Sun Yat-sen và với chính phủ Trung Quốc.

Cùng lúc đó một phương pháp cải cách được triển khai để chống lại dự án của mình (Phan Bội Châu). Phan Châu Trinh (1872-1926) đã tìm cách để khuyến khích tiến bộ và dân chủ trong xã hội thuộc địa, phổ biến kiến thức thông qua sự hình thành của trường học hiện đại và đặt áp lực lên chính quyền thuộc địa, với sự giúp đỡ của báo chí, thu hút quần chúng tham gia chính trị. Nó cũng cần thiết, theo quan điểm của ông, liên minh các lực lượng ngoài nước – ngược với chủ trương của Phan Bội Châu – với các lực lượng tự do giữa bọn thực dân, đặc biệt là với các lực lượng dân chủ ở Pháp. Nói cách khác, nó là cần thiết để liều (lĩnh) đánh cái logic của chương trình hiện đại hóa trong quá trình thuộc địa, và trên tiềm năng phi thực dân hóa của nó.

Cả hai ông Phan Bội Châu và Phan Châu Trinh kêu gọi giới trí thức; (vì) họ được thuyết phục rằng những lợi ích thực sự của các văn nhân và danh nhân nông thôn trùng hợp với của người dân. Cuộc xung đột giữa các chiến lược này đã không được giải quyết lần chót tới những năm 1930. Trong một thời gian dài, cách tiếp cận hiện đại hoá, chủ nghĩa dân tộc dân chủ dường như được tin cậy nhất. Nguyễn Tất Thành – Hồ Chí Minh – có quan điểm rấg gần quan điểm của Phan Châu Trinh khi ông rời nước đi Marseilles vào năm 1911. Cải cách thuộc địa đạt đỉnh cao sau Chiến tranh Thế giới I. Hơn 90.000 người Việt Nam đã được tuyển chọn để phục vụ cho chiến tranh của Pháp, 50.000 binh lính và 40.000 lao động. Sự hợp tác của các quan và giai cấp tư sản mới ở Việt Nam không thể thiếu được. Vào đầu những năm 1920, Đông Dương là thuộc địa duy nhất của Pháp trong đó giới ưu tú (do Pháp đào tạo) đã có tiếng nói chính trị – phải thừa nhận là một cản trở bởi nhiều giới hạn về sức mạnh của nó.

Tuy nhiên, chủ nghĩa dân tộc cải cách ở Đông Dương cuối cùng được xác định là các lực lượng bảo thủ. Điều này là do không thiếu tương xứng của giai cấp tư sản Việt Nam và sự thất bại của chính phủ Pháp khi không tôn trọng lời hứa hẹn cải cách mà họ đã tuyên bố ngay sau chiến tranh. Tham vọng của Pháp chỉ đơn giản là chuyển đổi các tầng lớp thượng lưu mới của Việt Nam làm khách hàng của chính quyền thuộc địa. Chủ nghĩa hợp hiến đã không cố gắng vận động quần chúng; nó tự hạn chế qua việc phát huy lợi ích của các tầng lớp giàu có ở miền nam. Các khả năng cho một chính sách tiến hóa phi thực dân lùi dần từ những năm 1920, vì Đông Dương đã chứng kiến tính cực đoan của thế hệ trí thức trẻ và sự xuất hiện của các phong trào xã hội hiện đại.

Đây có phải là thời điểm mà Đảng Cộng sản được thành lập?

Cộng sản đã nổi lên từ Tập đoàn An Nam yêu nước, được thành lập vào năm 1911 bởi Phan Châu Trinh. Hồ Chí Minh tách ra khỏi nhóm này trong khi ông ở Pháp, ông tham gia sfio và sau đó trở thành một trong những chiến binh thuộc địa đầu tiên của Đảng Cộng sản Pháp. Ông Hồ đã đến Moscow vào năm 1923 để liên lạc với Liên Xô và chuẩn bị trở về Việt Nam. Tại Pháp, chủ nghĩa cộng sản chiếm cứ trong số các công nhân Việt Nam, thủy thủ, sinh viên, chiến sĩ, thu nhận hàng trăm tân binh và những kẻ ủng hộ. Một cực thứ hai của cộng sản Việt Nam triển khai cùng một lúc ở Canton, trong bối cảnh của cuộc cách mạng Trung Quốc. Canton ở tỉnh Quảng Đông, là một nơi trú ẩn cho những người lưu vong Việt Nam từ đầu thế kỷ. Quốc Dân Đảng đã sử dụng thành phố như là một cơ sở để chuẩn bị quân đội của họ để nổi dậy ở miền bắc, với sự giúp đỡ của các cố vấn Liên Xô. Ông Hồ đến đó vào cuối năm 1924 như là một đại diện Quốc tế cộng sản và thành lập (Hội) Thanh Niên – Hội Việt Nam cách mạng thanh niên – tuyển dụng thành viên của nó từ một làn sóng di cư người Việt sang Quảng Đông. Đây là nhóm cách mạng đầu tiên làm việc trên toàn Đông Dương.

Cộng sản cho phép các đội ngũ trí thức thoát ra khỏi sự cô lập xã hội của họ và lãnh đạo các phong trào xã hội mới. Trước khi thống nhất trong một đảng duy nhất, có đã ba nhóm cộng sản, không ai trong số họ được công nhận của Quốc tế cộng sản. Tuy nhỏ, với một vài ngàn thành viên, nhưng họ đã hiện diện ở khắp mọi nơi, trong tất cả các phần của dân số. Họ là nông dân, các công nhân nhà máy, họ có mặt ở trường học, với học sinh. Ông Hồ đã thống nhất các đại diện của cả ba nhóm tại một hội nghị ở Hồng Kông vào tháng 2 năm 1930. Cùng tháng đó, một cuộc nổi dậy bắt đầu để chống lại sự cai trị của Pháp.

Cuộc nổi dậy này dẫn đầu bởi những người Cộng sản?

Có các nhóm quốc gia, tương đương với Quốc Dân Đảng của Trung Quốc. Họ tự gọi mình là Việt Nam Quốc Dân Đảng (vnqdd), Đảng Dân chủ Quốc gia của Việt Nam, và lấy cảm hứng từ Ba nguyên lý của nhân dân của Sun Yat-sen. Các đảng quốc gia bắt đầu một cuộc nổi dậy vào tháng 2 năm 1930, và ngay sau đó, một đơn vị đồn trú của quân đội thuộc địa tại Yên Bái trên biên giới Trung Quốc nổi lên với họ. Cuộc nổi loạn của các binh sĩ bị dẹp tắt trong vòng vài giờ, cuộc khởi nghĩa của VNQDD đã bị nghiền nát hoàn toàn trong mười lăm ngày. Tất cả các nhà lãnh đạo của Quốc Dân Đảng Việt Nam đã bị chém đầu.

Sau đó, bất ngờ, một giai đoạn thứ hai của cuộc nổi dậy bắt đầu, lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản. Cộng sản đã huy động hàng chục ngàn người từ các vùng nông thôn ở các tỉnh phía Bắc, đồng bằng sông Cửu Long và trung tâm. Các lãnh đạo đảng đã rất ngạc nhiên bởi mức độ của phong trào; đã có hàng trăm cuộc đình công và hơn 400 cuộc biểu tình của nông dân vào năm 1930. Nó lên đến đỉnh điểm ở Việt Nam cái gọi là ‘Xô Viết Nghệ Tĩnh’. Các nhà chức trách làng đã bị miễn nhiệm hoặc ám sát; thuế muối, rượu và thuốc phiện đã được bãi bỏ. Cộng sản có ý định tịch thu đất từ chủ sở hữu bất động sản và phân chia, nhưng dường như điều này không bao giờ được đưa vào thực hiện.

Bắt đầu từ tháng 9 năm 1930, các phong trào này phải đối mặt với cuộc phản công tàn nhẫn của Pháp. Họ đưa bộ binh thuộc địa tới, đội lính lê dương (Pháp), và không quân đã bắn chết hàng trăm người biểu tình bằng súng tự động. Họ ném bom một ngôi làng từ trên không. Chuyện này vẫn còn nhớ tại Việt Nam. Đảng đã tổ chức làn sóng nông dân nhiều hơn họ chỉ đạo; nó không có khả năng quản lý sự rút lui của các phong trào phổ biến. Đến cuối năm 1931, cuộc nổi dậy đã bị đánh bại. Các đảng quốc gia sang tị nạn ở Trung Quốc, nhưng họ không thể lấy lại được một chỗ đứng tại Việt Nam sau tháng 2 năm 1930. Nhiều chiến binh trẻ của VNQDD gia nhập Đảng Cộng sản, mà họ coi là lực lượng duy nhất có khả năng dẫn đầu cuộc đấu tranh. Nhưng tương lai cũng ảm đạm đối với những người Cộng sản, mật thám của Pháp bắt giữ toàn bộ Uỷ ban Trung ương vào tháng Tư năm 1931, và ngay sau đó Hồ Chí Minh đã bị bắt bởi người Anh tại Hồng Kông. Tất cả các lãnh đạo đảng đã bị cầm tù hoặc chết.

Làm thế nào Cộng sản đã phục hồi? Có phải sự chiếm đóng của Nhật Bản cho phép họ lấy lại sự chủ động?

Chúng ta phải chính xác khi nói về ‘chiếm đóng của Nhật’, người ta thường nghĩ rằng nó giống như sự chiếm đóng của Đức ở Pháp, nhưng người Nhật không có sự hiện diện tương tự. Có một hiệp ước giữa Vichy và Tokyo. Đông Dương nằm trong ảnh hưởng của Nhật Bản, quân đội của nó có thể sử dụng các hải cảng và các căn cứ. Có sự nghi ngờ lẫn nhau, đôi khi mâu thuẫn, nhưng chính quyền Pháp vẫn ở đó cho đến tháng Ba năm 1945.

Trước khi cuộc chiến bắt đầu, đã có một lệnh ân xá cho các tù nhân chính trị khi Mặt trận Popular lên nắm quyền ở Pháp. Báo chí đã có nhiều tự do hơn, đình công nỗi ra ở khắp nơi; thật là phi thường. Làn sóng đình công lớn nhất trong lịch sử của Việt Nam. Nghị định thông qua vào tháng 12 năm 1936 áp dụng một phần nhỏ cuộc cải cách xã hội của Pháp đến Đông Dương, mặc dù tổ chức của người lao động vẫn bị cấm. Mặc dù vậy, đã có hàng trăm công đoàn bất hợp pháp ở Đông Dương. Cộng sản đã hình thành một mặt trận pháp lý xung quanh các tờ báo La Lutte, làm việc với một nhóm các trí thức Trotskyist ở miền nam. Lutteurs thành lập 600 ủy ban hành động tại Nam Kỳ, có các kích động dữ dội trong nửa cuối của năm 1936. Viên Tổng đốc mới được dàn chào ở Sài Gòn và Hà Nội bởi đám đông những người chống đối.

Tuy nhiên, hy vọng cải cách đã tiêu tan vào mùa hè năm 1937. Đối với các nhà lãnh đạo của sfio, dưới áp lực từ phe cấp tiến, là không có thời gian để thay đổi chính trị ở các thuộc địa. Những người cộng sản Pháp xem nhẹ vấn đề, mặc dù họ chống thực dân trên nguyên tắc. Một dự án để hợp pháp hóa các công đoàn đã được hoãn và họ vẫn bí mật (ẩn núp). Đàn áp quay lại. Mặt trận Popular được chứng minh là mất cơ hội cuối cùng để phi thực dân hóa trong hòa bình. Nghị định được thông qua vào tháng Chín năm 1939 cấm tất cả các tổ chức cộng sản, và các thuộc địa hình sự lại tràn lan, ở Đông Dương cũng như tại Pháp. Ngay sau đó, Pháp đầu hàng ở châu Âu, và sự hợp tác giữa Vichy và Tokyo đã tạo ra một bối cảnh chính trị mới cho Đông Dương. Đảng Cộng sản tin rằng thời điểm đã đến để khởi động một cuộc nổi dậy, và bắt đầu lập kế hoạch cho cuộc đấu tranh vũ trang.

Hồ Chí Minh có vai trò gì trong quyết định đó?

Lúc bấy giờ, ông Hồ ở Trung Quốc. Ông đã được lặng lẽ thả ra bởi người Anh sau khi ông bị bắt – họ thông báo rằng ông đã chết vào năm 1932, và được thông báo rộng rãi trên báo chí – và đã ở nhiều năm tại Moscow. Liên Xô không tin tưởng ông Hồ; họ nghi ngờ ông ta đã có một thỏa thuận với mật thám Anh. Có lúc ông đã bị đưa ra trước một hội đồng kỷ luật của Quốc tế cộng sản. Cuối cùng, ông được phép rời khỏi Liên Xô vào năm 1938. Ông Hồ di động trên khắp Trung Quốc với sự giúp đỡ của những người Cộng sản Trung Quốc. Võ Nguyên Giáp và Phạm Văn Đồng đi theo ông trong chuyến hành trình, và họ cùng nhau vượt qua biên giới vào miền Bắc Việt Nam vào đầu năm 1941.

Ông Hồ đề nghị rằng đảng hết sức thận trọng, sau sự đàn áp quy mô đã phải chịu đựng kể từ năm 1931. Cộng sản đã tiến hành một cuộc nổi dậy quá sớm tại Nam Kỳ. Cuộc nổi dậy đã bị nghiền nát với sự tàn bạo khổng lồ: hàng chục quân nổi dậy đã bị bắn chết trên đường phố, hàng trăm người đã bị giam cầm. Ủy ban Trung ương Đảng ở trong tù khi cuộc nổi loạn bắt đầu, họ đã tử hình như nhau tất cả, bao gồm cả tổng thư ký. Một UBTW mới họp ở Cốc Bó và quyết định thành lập Liên đoàn độc lập của Việt Nam, mà đã trở thành nổi tiếng là Việt Minh, vào tháng 5 năm 1941. Nó mang lại sự năng động của chủ nghĩa dân tộc và của quốc tế cộng sản. Việt Minh dần dần lan rộng ảnh hưởng của họ và tăng số lượng. Sau đó, tình hình ở Đông Dương đã thay đổi đáng kể vào tháng 3 năm 1945. Các sự cố trong chiến tranh đã buộc Nhật Bản kết thúc hợp tác với Pháp. Nhật Bản lo ngại rằng Pháp sẽ tấn công họ từ phía sau ở Đông Dương, và họ giải giáp quân đội thuộc địa và cầm tù binh sĩ của họ (quân đội thuộc địa). Chính phủ đã được trao cho người địa phương; hầu hết các công dân Pháp bị giữ tại các thành phố.

Cả ba ông?

Không, ba tôi không bị bắt, vì ông là giám đốc một công ty xuất nhập cảng quan trọng cho người Nhật. Nhưng thí dụ, một người bạn của ba tôi, một người Breton (ở Pháp) là chủ một ga ra bị bắt làm việc cho người Nhật khi họ nắm quyền, chuyên sửa xe quân đội. Ông bị kết án bởi người phụ tá là một kẽ phá hoại. Ông bị giải về Saigon, giam trong củi, đánh đập, rồi được thả sau 3 tháng. Sau đó ông đến và ở với chúng tôi.

Vào mùa xuân năm 1945, Đông Dương trong tình trạng hỗn loạn, đặc biệt là ba quốc gia Việt Nam: nền đô hộ gần 90 năm của Pháp chấm dứt trong 24 giờ. Nền kinh tế đang trên đà xụp đổ. Nạn đói xảy ra tại các tỉnh phía Bắc, gây ra hàng trăm ngàn người chết, có lẽ tổng cộng hơn một triệu. Việt Minh đổ lỗi cho người Pháp và Nhật cho các thảm họa, bởi vì họ đã trưng dụng gạo và buộc các nông dân trồng đay và hạt có dầu thay vì cây lương thực. Quân du kích ra rời chỗ ẩn nấp và huy động người dân để cướp gạo đã được lưu trữ trong trường hợp tình trạng thiếu lương thực. Ông Hồ có thể thấy rằng sự đầu hàng của Nhật Bản gần kề, và Việt Minh chuẩn bị cho một cuộc tổng nổi dậy. Ngày 2 tháng 9, ông Hồ đọc tuyên bố Việt Nam độc lập trước một đám đông lớn tại Hà Nội.

Tôi đã chứng kiến cuộc cách mạng – vì đã có một cuộc cách mạng ở Sài Gòn, không chỉ ở Hà Nội. Những người Cộng sản đã tiếp nhận trụ sở cảnh sát, và ở đây có một cuộc biểu tình quy mô lớn vào ngày 2 tháng 9. Sau đó, quân Đồng minh đến, lính Ấn Độ với quan chức người Anh, họ chiếm đóng tòa nhà chính của thành phố và đương đầu với Việt Minh. Tướng Douglas Gracey bắt đầu tái vũ trang tù nhân Pháp – đó là những người lính Pháp bị cầm tù bởi người Nhật. Tướng Gracey sau này trở thành chỉ huy trưởng của quân đội Pakistan. Ông đã đưa ra một tối hậu thư, đòi hỏi các ủy ban nhân dân rời khỏi khách sạn Hôtel de Ville. Tôi thấy nó. Tôi ở phía trước của hội trường thành phố, và tôi thấy Tướng Gracey xuống xe và leo lên các bước rất nhanh chóng với dùi cui của mình. Có các cuộc thảo luận bên trong, Gracey rời, và Việt Minh lãnh đạo sơ tán thành phố.

Hồ Chí Minh không phải là một người đàn ông chết sống với chiến tranh, tôi tin. Ông đã hoàn toàn cố gắng để tránh xung đột với người Pháp. Sau khi Nhật đầu hàng, ông Hồ đã sẵn sàng chấp nhận một Liên hiệp Pháp, với điều kiện rằng các thành viên là tự nguyện và tất cả các thành viên đều bình đẳng. Ông tới Paris và đàm phán với chính phủ của Georges Bidault. Khi nó trở nên rõ ràng rằng Pháp sẽ không thỏa hiệp, ông nói với Tướng Salan: ‘Nếu chúng tôi phải chiến đấu, chúng tôi sẽ chiến đấu. . . bạn sẽ giết mười người của chúng tôi và chúng tôi sẽ giết chết một người của bạn, nhưng bạn sẽ là những người bị mệt mỏi.’ Sau đó, với trận chiến Hải Phòng bắt đầu cuộc chiến tranh với Pháp.

Đảng Cộng sản đã tổ chức kháng chiến binh, đã bị thiếu sót nghiêm trong các thế hệ trước. Tám mươi nghìn chiến binh được Việt Minh huy động, quân đội Pháp đã có 100.000 lính. Mọi người đều nhớ thất bại của Pháp tại Điện Biên Phủ, tất nhiên, nhưng bước ngoặt thực sự đến trước đó, tại trận đánh Cao Bằng và Lạng Sơn. Sau những chiến thắng đó, quân đội Việt Nam đã được chuyển đổi – nó có thể đối mặt với Pháp trong trận chiến quy ước. Sự chiến thắng của Cộng Sản Trung Quốc đối với Quốc Dân Đảng cũng rất quan trọng; nó cung cấp cho quân đội Việt Nam sức đề kháng với viện trợ quân sự và nơi trú ẩn. Cộng hòa Dân chủ Việt Nam đã được công nhận bởi chính phủ của Mao Trạch Đông và sau đó bởi Liên Xô. Đàm phán để chấm dứt cuộc chiến đã bắt đầu ngày sau khi Pháp đầu hàng tại Điện Biên Phủ.

Khi tôi mười lăm tuổi, vào tháng Sáu năm 1946, cha mẹ tôi gửi tôi đi Pháp: họ lo lắng là tôi đã không nhận được một nền giáo dục thích hợp. Tôi đi một mình, để sống với người dì của tôi; cha mẹ tôi vẫn ở Việt Nam. Sau khi học hết trung học, tôi ghi danh theo học tại Sorbonne. Chỉ khi tôi đến Pháp, tôi phản ánh về những gì đã xảy ra, và bắt đầu nói ‘Việt Nam là đúng, họ muốn độc lập, tôi đồng ý với họ’.

Những dòng trí tuệ nào ảnh hưởng đến ông khi ông di chuyển đến Paris?

Không chủ nghĩa hiện sinh, mặc dù chúng ta học truyết lý Sartre. Emmanuel Mounier và triết lý cá nhân chủ của ông đã có một tác động lớn hơn lên tôi. Nhưng trên tất cả, tôi đọc Marx, Lenin. Nó đã làm tôi đã gia nhập Đảng Cộng sản Pháp vào năm 1952. Đó là kinh nghiệm Đông Dương, kinh nghiệm thuộc địa của tôi đã làm cho tôi một người Mác-xít. Tôi tin rằng chủ nghĩa Mác đã cho chúng tôi nhiều công cụ để hiểu được chủ nghĩa đế quốc. Tôi cam kết bản thân mình cho pcf (đảng CS Pháp) cơ bản là trên cơ sở chống chủ nghĩa thực dân. Điều này quan trọng hơn câu hỏi xã hội Pháp, bạn có thể nói – mặc dù tại thời điểm đó đã có nhiều cuộc đấu tranh khó khăn, một cuộc tổng đình công vào năm 1947, các cuộc đình công lớn ở các khu mỏ. Dì tôi sở hữu một cửa hàng ở một khu phố lao động; tôi thấy nhiều công nhân và gia đình của họ. Không có dấu hiệu của bùng nổ kinh tế sau chiến tranh. Khi tôi đến Pháp, họ đã phân phối phiếu, ngay cả đối với bơ, bánh mì và quần áo.

Trong Sorbonne, tôi biết nhiều người Campuchia, những người sẽ trở thành các nhà lãnh đạo của Khmer Đỏ. Tôi chưa bao giờ gặp Pol Pot, nhưng tất cả những người khác, Khieu Samphan, Hou Yuon, Son Sen, họ là bạn của tôi[1]. Tôi đã tham gia vào tất cả các cuộc biểu tình chống lại cuộc chiến ở Algeria. Sau đó, tôi đã phải đối mặt với những mối đe dọa của nghĩa vụ quân sự. Lúc đó tôi đã có hai con trẻ – vợ tôi đã sinh đứa con thứ hai của chúng tôi vào năm 1960. Một ngày, một viên cảnh sát đến nhà tôi và nói: “Ông là ông Brocheux? Ah, ông được sinh ra ở Đông Dương. . “.

[1] Khieu Samphan (1931 -): người đứng đầu nhà nước Cam-pu-chia dưới thời Pol Pot, bây giờ phải đối mặt với phiên tòa vì tội diệt chủng ở Phnom Penh. Hou Yuon (1930-1975): người đàn ông đơn lẻ trong giới lãnh đạo Khmer Đỏ, không được Pol Pot tin tưởng vì tính ôn hòa của mình, cuối cùng bị hạ cấp sau khi chống lại cuộc di tản bắt buộc của Phnom Penh vào tháng Tư năm 1975, chết ở trong tù hoặc đã bị xử tử ngay sau đó. Son Sen (1930-1997): chỉ huy quân sự Khmer Đỏ; đóng một vai trò quan trọng trong cuộc thanh trừng của 1975-1978, bị xử tử trong năm 1997 theo lệnh của Pol Pot.

Có một điều luật cho phép những người Pháp sinh ra ở nước ngoài để tránh nghĩa vụ quân sự, với điều kiện rằng họ rời khỏi đất nước. Điều này có nghĩa rằng tôi có thể xin một chổ giảng dạy tại Việt Nam và gặp lại cha mẹ tôi. Và tôi trở lại Việt Nam theo cách đó vào năm 1960. Tôi nhanh chóng tìm được việc làm tại một trường trung học ở Sài Gòn, và ở đó tám năm.

Tất cả mọi thứ đã thay đổi kể từ khi ông rời, tất nhiên.

Đúng vậy. Có một chính phủ độc lập ở miền Nam, gọi là Việt Nam Cộng Hòa. Ngô Đình Diệm nắm quyền lực ở Sài Gòn. Nước cộng hòa đã được thành lập vào năm 1955. Khi tôi trở lại vào năm 1960, chế độ Diệm đã bắt đầu phải đối mặt với những phản đối mạnh mẽ.

Ý kiến của ông về Hiệp định Geneva năm 1954 là gì? Ông Hồ Chí Minh có nên nhất quyết đòi toàn bộ độc lập tại thời điểm này, hơn là chấp nhận sự phân chia của đất nước?

Cá nhân tôi ủng hộ thỏa thuận hòa bình. Nó cho phép Bắc Việt Nam phục hồi, để nắm bắt hơi thở của nó. Chúng ta không được quên đó là lời hứa bầu cử tự do sẽ được tổ chức vào năm 1956, mà không bao giờ xảy ra, bởi vì Ngô Đình Diệm và Mỹ. Ông Hồ tin rằng thống nhất có thể đạt được bằng phương pháp hòa bình, cuộc bầu cử sẽ được tổ chức và tránh một cuộc chiến tranh. Khi Trung Quốc và Việt Nam đang có chiến tranh, hai thập kỷ sau đó, người Việt Nam tố cáo Trung Quốc muốn giữ Việt Nam yếu và bị phân mảnh tại thời điểm các cuộc đàm phán Geneva. Sự thật là Chu Ân Lai ép đồng minh của mình để chấp nhận sự phân chia Việt Nam thành hai khu vực ngừng bắn. Người Trung Quốc muốn thiết lập quốc gia của họ trên con đường hiện đại hóa; các cam kết của họ về Việt Nam và Bắc Triều Tiên đã làm cho họ tốn kém rất nhiều. Nhưng chúng ta biết rằng ông Hồ ưu tiên đàm phán thay vì đối đầu, do đó, nó không làm ta ngạc nhiên khi ông đã nắm lấy cơ hội để chấm dứt chiến sự. Cuộc kháng chiến đã kéo dài chín năm, nó gây ra đau khổ, hy sinh rất lớn. Ông ta lo lắng về thiệt hại cuộc chiến tranh đã để lại trên đất nước. Nửa triệu người đã chết.

Ông Hồ đã miễn cưỡng làm chiến dịch cải cách ruộng đất trên mô hình của Liên Xô hay Trung Quốc. Khi ông đi đến Moscow vào năm 1950, Stalin đã chỉ trích ông không làm cải cách ruộng đất. Khrushchev nói trong hồi ký của mình; ông nói rằng Stalin cho thấy ông Hồ hai chiếc ghế và nói: ‘ghế này đại diện cho giai cấp nông dân và ghế kia cho địa chủ. Ông ngồi ghế nào?’ Stalin đã không quan tâm đến ông Hồ, theo Khrushchev: ông ấy gọi ông Hồ là một ‘cộng sản người ở hang’.

Lãnh đạo đảng cuối cùng đã quyết định bắt đầu cải cách ruộng đất vào năm 1953. Nó lây lan từ các khu giải phóng tới toàn bộ miền Bắc Việt Nam sau khi Pháp rút quân. Họ theo cách của Trung Quốc ‘tòa án nhân dân’: cáo buộc công cộng và hành quyết. Ít nhất 15.000 người đã thiệt mạng, một số tin rằng nó có thể là cao đến 50.000. Xã hội nông thôn không phân cực ở miền Bắc hơn ở miền Nam: địa chủ đôi khi không tồn tại, và số lớn đã bị giảm hơn nữa bởi chiến tranh. Mặc dù vậy, các đội cải cách ruộng đất phải đăng ký 5% của tất cả các cộng đồng nông thôn là địa chủ, do đó phân loại thường là tùy tiện. Khi đảng bắt đầu chấn chỉnh các lỗi, như họ gọi, hơn một nửa của cái gọi là địa chủ đã được phân loại lại một mức độ thấp hơn. Chính phủ Bắc Việt thực hiện tự phê bình chiến dịch cải cách ruộng đất vào năm 1956, họ cho biết là bây giờ thời gian ‘xếp lại thành phần nông dân’, sau khi đi quá xa bên trái.

Đảng CSVN có bị ảnh hưởng bởi các sự kiện của năm 1956 trong bài phát biểu bí mật của Khrushchev, Ba Lan, Hungary?

Chắc chắn, mặc dù chúng ta không thể chắc chắn những gì các đại biểu Việt Nam đến dự hội nghị đảng CS Liên Xô nghĩ về cuộc tấn công của Khrushchev về Stalin, không có hồ sơ rõ ràng. Một nhà báo Pháp hỏi ông Hồ và Giáp nếu ‘sự chỉnh đốn’ của cải cách ruộng đất là một phần của sự phát triển làm rung lên thế giới Cộng sản, nhưng họ lại chối bỏ điều đó, tuyên bố rằng tình hình Việt Nam được xác định duy nhất bởi các yếu tố địa phương.

Có một phong trào của các nhà văn và các nghệ sĩ ở miền Bắc Việt Nam tại thời điểm đó rất tương tự như phong trào “trăm hoa’ ở Trung Quốc, đôi khi được gọi cùng tên. Trọng tâm của họ là mối quan hệ giữa văn học và chính trị. Mùa thu năm 1956, các thành viên của nhóm đã lên án việc thiếu tự do cá nhân, cảnh sát giám sát, các hành vi vi phạm “tính hợp pháp xã hội chủ nghĩa”. Các nhà lãnh đạo đảng đánh họ tàn nhẫn: họ (đảng) tuyên bố rằng nó đã được hỗ trợ bởi Ngô Đình Diệm và miền Nam. Một số các bất đồng chính kiến bị bỏ tù hay quản thúc tại gia, những người khác bị mất việc làm của họ và phiếu lương thực của họ bị tước đi.

Khi tôi về tới Sài Gòn, hòa bình thống nhất giữa miền Bắc và miền Nam không còn trong chương trình nghị sự. Khi Ngô Đình Diệm lên nắm quyền với sự hỗ trợ của Washington, ông bác bỏ ý định tổng tuyển cử. Có một phe phái trong Đảng Cộng sản đã bắt đầu chuẩn bị cho chiến tranh ở miền Nam. Nó được dẫn đầu bởi Lê Duẩn, với sự hỗ trợ của Lê Ðức Thọ và Nguyễn Chí Thanh. Bộ ba nắm quyền kiểm soát chính sách Việt Nam; ông Hồ và đồng minh Giáp của ông bị đẩy sang bên lề. Lê Duẩn bí mật vào Nam năm 1958, ông đã viết một báo cáo lập luận rằng Bắc Việt cần giúp đỡ đồng chí miền Nam, những người đã bị truy nã và giết chết bởi cảnh sát Diệm.

Ông Hồ sợ sự can thiệp của Mỹ. Nhưng bộ ba áp đặt kế hoạch cho một cuộc chiến tranh toàn diện ở miền Nam. Họ quyết định rằng từ bây giờ, ông Hồ sẽ đóng một vai trò tượng trưng, ngoại giao, không có gì hơn. Năm 1963, ông Hồ và ông Ngô Đình Diệm bắt đầu trao đổi thư từ, họ đã thảo luận một kế hoạch cho trung lập và đồng tồn tại giữa hai quốc gia, thậm chí một liên minh. Chúng ta không thể nói về những gì có thể xảy ra qua các cuộc đàm phán – có lẽ không có gì – nhưng cũng đủ để các quan chức Mỹ lo lắng. Nó chắc chắn đã giúp thuyết phục các đại sứ Mỹ hỗ trợ cuộc đảo chính chống Diệm của quân đội.

Tác động của chiến tranh trên các cư dân của Sài Gòn trong thời gian ông ở đó là gì?

Cho đến 1965-66, sự hiện diện của chiến tranh không phải lúc nào cũng cảm thấy. Không phải là cuộc sống buồn tẻ trong thành phố: năm 1961, phiến quân thuộc lính nhảy dù đã tấn công dinh tổng thống, năm sau, nó đã bị đánh bom bởi hai phi công không quân, nhưng Ngô Đình Diệm là không bị thương. Sau đó, trong tháng mười một năm 1963, các tướng lãnh Việt Nam đã bắt giữ tổng thống và em trai của ông, giết chết cả hai. Khi cuộc xung đột tăng cường, các cuộc tấn công vào người Mỹ ở Sài Gòn đã trở thành thường xuyên hơn: có vụ đánh bom vào Đại sứ quán Mỹ, vào một rạp chiếu phim dành riêng cho GIS, vào nơi ở của các binh sĩ và vào trạm xe buýt của họ. Tuy nhiên, đối với cộng đồng người nước ngoài mà tôi đã là một thành phần cuộc sống trong thành phố bình thường kỳ lạ. Một người ta có thể có một thói quen chuyên nghiệp – giảng dạy và nghiên cứu, và trong trường hợp của tôi – giải trí ở những ngày cuối tuần; Sài Gòn có câu lạc bộ thể thao riêng, và chúng tôi có thể đi chơi ở bãi biển tại Vũng Tàu. Có hai lần tôi bị chận lại trên đường đi bởi các rào chắn Việt Cộng. Lối sống này đã không thực sự bị gián đoạn bởi chiến tranh cho đến khi cuộc Tổng tấn công Tết. Đó là vào tháng 6 năm 1968 tôi rời Sài Gòn với vợ và bốn con của tôi: Tôi tin rằng chúng tôi đã không còn an toàn ở đó.

Tết (Mậu Thân) đã thay đổi tất cả mọi thứ. Giữa tháng Giêng và tháng Năm năm 1968, quân giải phóng đã phát động một cuộc tấn công nói chung trên khắp cả nước và trong tất cả các trung tâm đô thị – bắt đầu với thủ đô, nơi mà họ đã tấn công dinh tổng thống và đại sứ quán Mỹ. Cho đến lúc đó, tất cả mọi người tin rằng trong khi Việt Cộng đã chiếm các vùng nông thôn, họ sẽ không bao giờ thâm nhập vào các thị trấn. Các trận chiến diễn ra ở các thành phố như Huế, triều đình cũ đã có một tác động làm đảo lộn: nó giống như một tia sét. Tuy nhiên, quân giải phóng đã trả một giá đắt, bị mất gần như tất cả các đơn vị chiến đấu, tăng sự phụ thuộc vào quân tiếp viện từ miền Bắc. Sự thất bại của cuộc tấn công cho người Mỹ và đồng minh Nam Việt Nam của họ ảo tưởng rằng họ có thể gây ra một thất bại lâu dài đối với Việt Cộng, nhưng trong dân số nói chung, nó có một hiệu ứng tâm lý tăng cường ý kiến ‘trung lập’. Tình cảm chống chiến tranh lan rộng ra khắp miền Nam Việt Nam được tăng cường bằng các phương pháp tàn bạo của quân đội Mỹ: vụ thảm sát Mỹ Lai không là một trường hợp đặc biệt. Tôi xét bản thân mình thấy chủ nghĩa hòa bình phát ra ngay cả trong số những người Việt Nam đã chạy trốn khỏi chế độ Cộng sản trong những năm 1950: nhiều hơn một lần tôi nghe người ta nói ‘hòa bình mà không có người Mỹ tốt hơn là chiến tranh với Mỹ’.

Chiến thắng cuối cùng trong năm 1975 đã đạt được của Quân đội nhân dân Việt Nam dưới sự chỉ huy của Văn Tiến Dũng, người đã làm của phó cho Giáp tại Điện Biên Phủ. Ông tướng đã viết lịch sử của chiến dịch, trao giải thưởng cho mình là vai trò chính, nhưng phiên bản của các sự kiện đã bị tranh cãi bởi chỉ huy quân giải phóng Trần Văn Trà. Trong một cuốn sách đã được xuất bản lần đầu tiên và sau đó rút khỏi lưu thông bởi các quan chức Việt Nam, Trần Văn Trà tiết lộ các cuộc tranh luận gay gắt đã diễn ra về chiến thuật và chiến lược trong giai đoạn cuối của chiến tranh. Đây là lần đầu tiên một vị tướng Việt Nam đã phá vỡ các ngôn từ đặc trưng cho tất cả các văn bản chính thức. Giá con người trả cho sự đất nước thống nhất là khổng lồ. Nếu ta chỉ đếm cái chết và mất tích từ năm 1961 và 1975, quân giải phóng và quân đội miền Bắc bị mất 600.000 quân trong chiến tranh; 230.000 binh sĩ Nam Việt Nam đã thiệt mạng. Thương vong dân sự thậm chí còn cao hơn, tất nhiên: ước tính khoảng 2-4000000. Toàn bộ đất nước bị tàn phá. Nếu có một chiến thắng Pyrrhic [2] thắng bởi một quốc gia và người dân, nó đây.

[2] (Lời người dịch) Một chiến thắng Pyrrhic là một chiến thắng với một chi phí tàn phá để chiến thắng mà nó mang ý nghĩa rằng một chiến thắng như vậy cuối cùng sẽ gây ra thất bại.

Ông đã đề cập trước đó là ông biết một số những nhà lãnh đạo của Khmer Đỏ trong suốt thời gian của ông tại Sorbonne. Ông nghĩ gì về các cuộc xung đột giữa Việt Nam và Campuchia sau năm 1975?

Có, tôi biết nhiều người cộng sản Campuchia khi chúng ta sống với nhau ở de Maison l’Indochine tại trường đại học. Tất cả bọn họ đều trở thành nạn nhân bị thanh trừng theo lệnh của Pol Pot: Hou Youn, Sien An, Toch Phoeun, Serevuth Vọng, Trong Sokan. Son Sen, người cuối cùng nắm quân đội Khmer Đỏ, đã bị giết chết cùng với toàn bộ gia đình của mình. Họ là những người cộng sản chân thành, lý tưởng, mà đoàn kết trong cuộc chiến chống lại chủ nghĩa thực dân không chỉ là khẩu hiệu. Điều gì đã xảy ra giữa thời gian của họ ở Pháp và thời điểm khi họ tìm thấy mình rơi vào thực tế của Campuchia, tại một thời gian khi Mỹ can thiệp mạnh nhất, sự chia rẽ Trung-Xô đã sâu sắc hơn, và căng thẳng giữa Campuchia và Việt Nam đã đạt đến một cực điểm vì oán giận lịch sử và tuyên bố đòi lại đất? Tôi không có câu trả lời cho những câu hỏi này. Tới hôm nay, tôi đã không tìm thấy một lời giải thích đầy đủ cho các sa ngã của những người cộng sản Campuchia hướng tới một chủ nghĩa dân tộc thuộc về lòng yêu nước bị bắn qua chứng mất trí giết người.

Việt Nam bắt đầu sự thay đổi của nó đối với chủ nghĩa tư bản và thị trường toàn cầu trong năm 1980 thế nào? Có phải là đơn giản là một phản ứng của lãnh đạo đảng về những gì đã xảy ra ở Trung Quốc và Liên Xô?

Đó là do một sự kết hợp của các yếu tố, cả bên trong và bên ngoài. Bên trong Việt Nam, ba nhóm chính gây áp lực để từ bỏ mô hình Liên Xô: ủng hộ thị trường kinh tế và kỹ trị, quản lý của các doanh nghiệp nhà nước, những người muốn tăng lợi nhuận của họ, và những người ‘tự do’ miền Nam đã kêu gọi quay trở lại hệ thống tại chỗ (ở miền Nam) trước năm 1975. Sau chiến tranh, chính phủ đã thông qua một kế hoạch năm năm, kêu gọi Việt Nam trở thành một sức mạnh công nghiệp vào năm 2004, dựa trên tốc độ tăng trưởng GDP của 13 phần trăm mỗi năm. Tài chính, ngành công nghiệp và thương mại đã được quốc hữu hoá tất cả, giúp kết tủa các chuyến đi của dân Trung Quốc ‘thuyền nhân’, như họ đã được biết đến. Các kế hoạch không đạt được mục tiêu của nó: đảng đã bắt đầu thay đổi chỉ đạo tại Đại hội năm 1982, nơi mà nó đã quyết định chuyển đầu tư từ ngành công nghiệp nặng đến nông nghiệp, và ưu tiên đối với thương mại nước ngoài.

Nhưng chúng ta không thể đánh giá thấp tầm quan trọng của các sự kiện ở Liên Xô, Gorbachev đã bắt đầu chương trình của công cuộc cải tổ vào năm 1985. Việt Nam đã luôn luôn phụ thuộc vào viện trợ từ Liên Xô, và từ Trung Quốc. Trong chiến tranh, nó đã nhận được $1 tỷ mỗi năm, $300 triệu từ Trung Quốc, $700 triệu từ Liên Xô. Viện trợ Trung Quốc bị cắt vào năm 1978 -Trung Quốc tấn công Việt Nam vào đầu năm 1979 – Moscow và các đồng minh của nó đã trở thành nguồn tài trợ chính của Việt Nam. Việt Nam là một thành viên của Comecon, và hơn 80% thương mại nước ngoài của nó là với các nước Comecon. Vì vậy, họ đã phải xem các ảnh hưởng của những gì đã xảy ra dưới Gorbachev. Liên Xô chỉ trích việc sử dụng viện trợ của Việt Nam, và thông báo rằng họ sẽ đàm phán lại thỏa thuận của họ. Cũng có ảnh hưởng, ít rõ ràng hơn, từ những cải cách ở Trung Quốc dưới thời Đặng Tiểu Bình.

Trong năm 1987 và 1988, chính phủ đã thông qua một loạt các nghị định loại bỏ các trở ngại đối với khu vực tư nhân; ảnh hưởng đến nông nghiệp, thương mại nước ngoài và đầu tư, và quản lý của ngành công nghiệp nhà nước. Biến đổi được gọi là ‘đổi mới’. Việt Nam đã chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch và nội địa qua nền kinh tế được quy định bởi thị trường và mở cửa cho thế giới bên ngoài. Các dự án phát triển ngành công nghiệp nặng và nhập khẩu – thay thế đã bị bỏ: Việt Nam đã thông qua phương pháp tương tự như các “con hổ châu Á”, sản xuất xuất khẩu và khai thác lợi thế của một lực lượng lao động giá rẻ. Ngày nay tại Việt Nam, có 150 khu công nghiệp dọc theo bờ biển. Xóa bỏ nông trường tập thể vào năm 1988 đã được theo sau bởi một sự bùng nổ sản suất ghê gớm – nhờ một phần từ lực lượng lao động nông thôn giảm, và sự lây lan của các hạt giống có năng suất cao; lợi ích bị trì hoãn của cuộc Cách mạng Xanh. Quốc gia bây giờ đã trở thành một nước xuất khẩu gạo lớn thứ hai trên thế giới, hơn một triệu tấn một năm. Việt Nam cũng là nước sản xuất cà phê lớn thứ hai. Khu vực tài nguyên cũng đã phát triển đáng kể: sản xuất dầu tăng từ 50.000 thùng mỗi ngày trong năm 1990 lên 350.000 thùng trong năm 2010, và các công ty Trung Quốc khai thác bauxite ở Tây Nguyên. Sự cởi mở đã, tất nhiên, trả một giá: nền kinh tế Việt Nam bây giờ là tiếp xúc với rất nhiều thay đổi trong giá các mặt hàng như gạo và cà phê toàn cầu, và để chế độ bảo hộ thị trường ở các nước phát triển.

Các hậu quả xã hội và chính trị của đổi mới là gì? Có sự bất bình đẳng phát triển, như ở Trung Quốc?

Tất nhiên, bất bình đẳng tăng lên; nó đã trở lại ở nông thôn. Tự do hóa của nền kinh tế đã cho phép nhiều người làm giàu cho mình. Buông thả của nhà nước tạo ra sự rối loạn trong hệ thống giáo dục. Việt Nam có dân số rất trẻ: khoảng một nửa là ở độ tuổi dưới 25. Hiện nay có hơn 90.000.000 người Việt Nam. Việt Nam đang bắt đầu thực hiện một quá trình chuyển đổi nhân khẩu cho các gia đình có hai trẻ em hoặc ít hơn, nhưng điều này chỉ xảy ra ngay bây giờ, và không ở nông thôn, chỉ trong thành phố. Mỗi năm, hàng trăm ngàn người nhập thị trường lao động. Số lượng các cuộc đình công của người lao động đang dần tăng lên: trong năm 2008, đã có gần 800. Điều này xảy ra trong các trung tâm công nghiệp, và các cuộc đình công thường cũng rất cay đắng. Chúng xảy ra vì ba lý do: bởi vì các ông chủ không trả lương cho họ như hứa hẹn, bởi vì họ yêu cầu làm thêm giờ mà không trả thêm lương, và bởi vì họ không tôn trọng luật lao động, họ không cho đủ thời gian để ăn trưa, đi vệ sinh. Hầu hết các doanh nghiệp nơi mà các cuộc đình công xảy ra là của Đài Loan hoặc Hàn Quốc. Tiền lương ở Việt Nam chưa đầy một phần ba của Trung Quốc.

Trong khi đảng đã nới lỏng kiểm soát của nó đối với kinh tế, nó trói chặt hệ thống chính trị. Tại thời điểm thay đổi lớn ở Đông Âu, đã có nhiều kêu gọi nới lỏng sự kìm kẹp của đảng vào đời sống chính trị. Vũ Đình Hòe, một đồng chí cũ của Hồ Chí Minh, kêu gọi Việt Nam nắm lấy ‘chủ nghĩa xã hội dân chủ’ thay vì ‘chủ nghĩa xã hội phong kiến’. Tiểu thuyết gia Dương Thu Hương đã lên án ‘chuyên chính vô sản’ – một kỹ thuật mài dũa trong thời chiến, được sử dụng chống lại kẻ thù, mà trong thời bình đã trở thành chế độ độc tài của bộ máy quan liêu lên trên giai cấp vô sản. Nhưng từ năm 1991, nhà nước đảng trị khẳng định lại chổ đứng. Lãnh đạo Đảng đã bị rất nhiều ảnh hưởng bởi sự sụp đổ mất trật tự của Liên Xô, mà họ tương phản với sự ổn định của Trung Quốc. Họ cũng xem xét kinh nghiệm của Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore, nơi mà kinh tế phát triển đã diễn ra dưới sự cai trị độc tài. Các ý kiến cơ bản nhất đã lên án chính phủ là không dám thiết lập ‘sự thật’. Trần Xuân Bách bị loại trừ khỏi Bộ Chính trị vì ông kêu gọi cho một hệ thống đa đảng. Dương Thu Hương đã bị giam giữ trong một thời gian và bị giám sát sau khi được thả.

Ngày nay, hệ thống Việt Nam đặt trọng tâm vào Quốc hội, nơi không còn là con dấu cao su (của đảng) như trước nữa. Quốc hội có thể nghe kiến nghị của công dân; các cuộc tranh luận được hiển thị trên truyền hình. Tuy nhiên, đảng kiểm soát (Quốc Hội) bằng cách lọc các ứng cử viên (Quốc Hội): họ được lựa chọn bởi ‘Mặt trận Tổ Quốc’ – tập hợp tất cả các đoàn thể – và đảng phê chuẩn sự lựa chọn. Chỉ có 43 ứng cử viên ngoài đảng đã được bầu vào Quốc hội trong năm 2007, trong số 497 đại biểu. Luật pháp được bình chọn thông qua Quốc hội, nhưng sau đó luật trải qua một giai đoạn mà luật bị sửa đổi hoặc từ chối của Uỷ ban thường trực của hội, được điều khiển bởi các lãnh đạo đảng. Hiến pháp chính thức đảm bảo quyền tự do ngôn luận và hội họp. Nhưng khi một mạng lưới các nhà bất đồng chính kiến được thành lập dưới tên ‘Khối 8406′ để yêu cầu thực thi các quyền này, chính phủ phản ứng lại bằng cách bỏ tù các nhà lãnh đạo chính của Khối. Chính phủ đàn áp những người kêu gọi dân chủ một cách công khai, chống lại những người tố cáo tham nhũng tồn tại ở tất cả các cấp của đảng, và chống lại những cáo buộc chính phủ cúi đầu trước Trung Quốc. Sau khi đã đạt được tính hợp pháp đầu tiên của mình bằng cách lãnh đạo cuộc chiến giành độc lập cho Việt Nam, đảng đang cố gắng để giành chiến thắng thứ hai một hợp pháp bằng lãnh đạo Việt Nam trong tiến trình hiện đại hóa. Nhưng mặc dù có mặt ở khắp nơi, đảng không phải là toàn năng hoặc chắc như đá nguyên khối. Thành phần của nó đang thay đổi, tương tự như của xã hội – không chỉ trong hệ tuổi tác, trình độ học vấn, giới tính và dân tộc, mà còn trong tầm nhìn và chiến lược của nó, nó phải quan tâm đến đối kháng và nguyện vọng của người dân, của áp lực từ bên dưới. Tôi lạc quan về tương lai, bởi vì tôi nghĩ rằng có rất nhiều điều xảy ra ở hạ tầng cơ sở. Ta có thể chắc chắn rằng đảng sẽ không xuất hiện không bị tổn thương từ sự đè lên của nó với xã hội.

Nguồn: Reflections on Vietnam

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s