Nhà Nước Tạo Phúc hay Nhà Nước Gây Họa?

Bùi Tín (VOA Blog) – Vấn đề quan hệ giữa nhà nước và công dân luôn là một vấn đề chính trị cơ bản của một quốc gia. Trong giáo trình cho sinh viên các trường luật, khoa học chính trị và hành chính của các nước, như ở Pháp, Anh, Hoa Kỳ, đều có các bài giảng, các bài thuyết trình mở đầu khóa về mối quan hệ giữa nhà nước và công dân.

Theo những bài giảng, thuyết trình, cùng các tài liệu tham khảo liên quan, tổng kết lại lịch sử các nhà nước trên thế giới, có thể chia ra 2 loại nhà nước khác nhau về bản chất. Có một loại nhà nước của một dòng họ, một nhóm, một tôn giáo, một phe phái, một chính đảng… và một loại nhà nước của số đông, của nhân dân, của toàn dân, của xã hội công dân.
Ở giữa 2 loại nhà nước khác nhau về bản chất ấy, có một loại trung gian, gọi là nhà nước quá độ từ độc đoán sang dân chủ, còn được xếp hạng là nhà nước dân chủ một phần (partly democratic).
Phân tích về lịch sử xuất hiện, tính chất, chức năng, tính ưu việt của nhà nước dân chủ, các nhà lý luận tổng kết lại và cho biết nhiều tên gọi khác nhau đã được dùng, như nhà nước che chở – Protector State, nhà nước phúc lợi, nhà nước phục vụ, hoặc theo ý nghĩa tôn giáo, là nhà nước ban phúc – Providence State. Theo ý nghĩa ấy chức năng đầu tiên và cơ bản của nhà nước là bảo vệ cuộc sống an bình của toàn dân, cuộc sống độc lập tự do của đất nước, chống mọi mưu đồ xâm lược, bành trướng, hà hiếp của ngoại bang, bảo vệ cuộc sống bình đẳng tự do của mỗi công dân, gắn bó mọi công dân với nhau trong tập thể tương thân tương trợ của toàn dân.
Ở Pháp có một hình ảnh đẹp. Nước Pháp tự xa xưa đã lấy con gà trống Gaulois làm biểu tượng dân tộc. Từ đó chức năng của nhà nước Pháp, của tổng thống do phổ thống đầu phiếu bầu ra, trước hết là che chở, bảo vệ mọi công dân Pháp, như một con gà trống bảo vệ đàn con đông đảo của mình chống mọi tai họa và bất trắc. Đó là hình ảnh truyền thống một anh gà trống vạm vỡ, hiên ngang, giương đôi cánh rộng che chở mưa gió cho đàn con bé bỏng, và khi cần, trước hiểm họa chết chóc, nó giương cả mười móng vuốt nhọn hoắt, dẩu chiếc mỏ cứng nhọn, má đỏ bừng, kêu rống lên toang toác để báo động và ra oai, chống lại con diều hâu lưu manh khát máu. Con diều hâu hiếu chiến phải chuồn thẳng.
Đó là hình ảnh phải có của một nhà lãnh đạo, của một tổng thống, một quốc trưởng, một «tổng bí thư», một «bộ chính trị» có ý thức về sứ mệnh của mình, khi công dân dưới quyền mình bị đe dọa, bị oan ức, bị hiếp đáp, hay gặp thiên tai địch họa gì khác, như tai nạn, ốm đau, thất nghiệp. Nhà nước che chở và ban phúc thương yêu thần dân của mình như Gà trống thương đàn con, lo việc làm cho người thất nghiệp, lo việc học hành cho con trẻ, lo cho toàn dân có cuộc sống khỏe mạnh, ấm no, lo việc phân phối lại trong toàn xã hội cho công bằng không quá chênh lệch, nghiêm trị bọn tham quan ô lại cho dân được sống yên ổn, đêm ngủ người dân không cần đóng cửa, không ai màng của rơi.
Đối lập với nhà nước che chở, nhà nước ban phúc là một kiểu nhà nước đàn áp, nhà nước bóc lột, tham lam, chỉ lo móc túi dân qua tiền thuế và ngân sách, qua hối lộ và tham nhũng, qua bạo lực và hà hiếp, qua những phiên tòa cưỡng bách. Nó không ban phúc, còn gây họa cho toàn dân, tạo nên dân oan, dân ức, dân kêu dân la khắp muôn phương. Nó che chở kẻ gian, bênh vực bọn hành trướng, mềm yếu với kẻ xâm lược, hống hách với người dân lương thiện, tàn bạo với kẻ yêu nước thương dân. Chỉ vì đó là nhà nước trọng tiền hơn trọng dân, trọng của cải hơn hiền tài, trọng «đất» hơn trọng nước, trọng luật rừng hơn luật pháp. Đó cũng là nhà nước lừa dối, nói giảng đạo đức mà làm điều vô luân, nói tốt mà làm xấu, gây khổ cho dân, gây đâu thương cho toàn xã hội.
Giáo trình chính trị luôn căn dặn sinh viên phải tỉnh táo, không thể đánh giá thực chất của một nhà nước bằng cách dựa vào tên gọi hình thức bên ngoài, vì có nhà nước độc tài đội lốt «dân chủ», nhà nước bóc lột đội lốt «xã hội chủ nghĩa», nhà nưóc phát xít đội lốt «cộng hòa». Muốn xác định một nhà nước thuộc vào loại nào, phải dựa vào việc làm, cung cách cai trị, mối quan hệ hàng ngày trong thực tiễn của nó với đông đảo công dân.
Sống dưới loại nhà nước che chở, nhà nước phúc lợi – mà tiêu biểu hiện nay thường được chỉ ra ở các nước Bắc Âu, như Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, do các đảng Xã hội Dân chủ lãnh đạo, người dân cảm thấy thư thái, ung dung, yêu đời, nhẹ nhàng, không mảy may căng thẳng, lo sợ, buồn khổ thất vọng. Mỗi công dân bỏ phiếu cho ai làm đại biểu cho mình thường nhớ tên, địa chỉ, số điện thoại của các đại biểu đó ở Quốc hội, ở hội đồng cấp tỉnh, quận, để khi cần thì yêu cầu che chở, giúp đỡ ý kiến. Họ gọi đó là «đại biểu của tôi», còn các đại biểu nói trên coi các công dân đã bầu ra mình ở một địa phương là «các công dân của tôi» mà họ có nghĩa vụ che chở, bảo vệ khi cần. Họ tự coi là anh Gà trống mà các công dân đã bầu ra họ là đàn gà con thương yêu cần tận lực bảo vệ che chở, dù cho có bị xây xát, bị thương hay cả hy sinh đến sinh mệnh chính trị của họ.
Tôi viết bài này sau khi hỏi chuyện giáo sư và sinh viên trường khoa học chính trị Sciences Po ở thủ đô Paris, và đọc những giáo trình vỡ lòng về chính trị và liên tưởng đến tình hình chính trị nước ta.
Đến bao giờ ở nước ta có một nhà nước che chở, nhà nước phúc lợi? Phải chăng nhân dân ta là nạn nhân của một kiểu nhà nước gây họa, một nhà nước bóc lột, bất công và tham nhũng? Và đến bao giờ các đại biểu quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân tỉnh huyện mới tự coi là người che chở, bảo vệ mọi công dân bầu ra mình như anh Gà trống sẵn sàng xả thân vì đàn con thân yêu?
Thế mới biết yêu cầu của đông đảo trí thức, lao động, tuổi trẻ về đổi mới toàn hệ thống cai trị, toàn hệ thống cầm quyền hiện tại là có cơ sở và cấp bách đến đâu.
Tại sao một đảng tự nhận là cách mạng, là tiền phong lại sợ không dám cạnh tranh, đọ sức, ganh đua ngay thật về trí tuệ, tâm huyết với một vài tổ chức chính trị khác qua sự phán quyết bằng lá phiếu của cử tri ? Tại sao lại mất tự tin, lại hèn kém đến vậy ?
Không thay hệ thống chính trị từ «Nhà nước Cảnh sát» sang «Nhà nước Gà trống» thì 1 hay 10 Nghị quyết 47/TW, 1 hay 10 cuộc họp Trung ương kiểu Hội nghị Trung ương 3/ khóa XI, hoặc 1 hay 10 cuộc «họp cán bộ toàn quốc chưa từng có» … cũng chỉ là trò nước đổ đầu vịt, gọi bệnh thì đúng nhưng bốc thuốc thì sai, chỉ là thuốc của lang băm lẩm cẩm dở hơi, vì cả 4 giải pháp: tự phê và phê bình, gương mẫu, trên xuống và dưới lên, giám sát và kỷ luật… đều là giải pháp xưa cũ, vô hiệu, thuốc đã lờn từ lâu lắm rồi.
Vì nước, vì dân, tôi xin nói thẳng cảm nghĩ trung thực của mình với bà con nhà mình, vì không thể nói khác được.

Bùi Tín

2 comments on “Nhà Nước Tạo Phúc hay Nhà Nước Gây Họa?

  1. Ép… dân chịu trách nhiệm cuối cùng
    Ở Việt Nam, người dân đã quen với việc bị đổ lỗi vì những sai lầm của quan chức.

    Những lỗi thường xuyên họ bị quy kết là “dân trí thấp”, “ý thức thấp”,… dẫn đến sự thất bại của nhiều chính sách, nhiều mục tiêu của các ban ngành. Và sau tất cả những sự thất bại (của quan chức) đó, dân là người phải chịu trách nhiệm.
    Bộ trưởng Thăng chưa tại nhiệm được một năm, ông phải giải quyết hậu quả do những người tiền nhiệm để lại. Trong khi ông chưa thành công trong một chính sách cụ thể nào, người ta đã nhìn thấy trước ở ông lối mòn tư duy của những người cũ, đó là ép dân thay vì phục vụ dân.

    http://phapluattp.vn/20120408011048883p0c1013/ep-dan-chiu-trach-nhiem-cuoi-cung.htm

  2. Hiệp ước Basel mới và vấn đề kiểm soát rủi ro trong các NHTM
    To chuc tin dung
    PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa
    Để chuẩn hóa hoạt động của hệ thống các ngân hàng trên thị trường tài chính quốc tế, thông thường các ngân hàng châu Âu thực hiện 2 công cụ: Đạo Luật châu Âu đơn lẻ và Hiệp ước Basel. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, những vụ khủng hoảng xảy ra trên thị trường tài chính thế giới, đặc biệt là những rủi ro phát sinh trong lĩnh vực Ngân hàng đã khiến Chính phủ các quốc gia trên thế giới đã đặt lại vấn đề: cải tiến Basel (1988) thành một Hiệp ước Basel mới với mục tiêu tăng cường các giải pháp kiểm soát rủi ro của hệ thống ngân hàng.
    Hiệp ước Basel mới là những tài liệu hướng dẫn mô tả các đề xuất những quy định nâng cao công tác quản lý rủi ro tín dụng, liên quan đến phạm vi yêu cầu vốn đối với rủi ro hoạt động, đưa ra các biện pháp cải tiến khác nhau đối với hiệp ước “hiện hữu” và chi tiết hóa “hoạt động thanh tra, giám sát” cũng như đề ra các trụ cột về “tính kỷ luật của thị trường”. Ban đầu, Hiệp ước cho phép một thời gian chuyển đổi 3 năm trước khi có hiệu lực hoàn toàn. Như vậy đến năm 2004 các định chế tài chính tại các nước phát triển tham gia hiệp ước phải tuân thủ nó. Tuy nhiên, tình hình thực hiện hiệp ước đã bị đình trệ. Đến tháng 11/2007 thì phía Mỹ mới chính thức chấp nhận áp dụng Basel 2. Và tiếp đó là đến năm 2008 thì tất cả ngân hàng của khối EU mới tiến hành báo cáo về mức độ an toàn vốn (captial adequacy) theo chuẩn mực Basel mới.
    Bảng sau cho thấy tính hợp lý của Hiệp ước này:
    Hiệp ước hiện hữu Hiệp ước mới
    Tập trung vào một giải pháp quản lý rủi ro duy nhất Tập trung nhiều hơn vào cáp các phương pháp nội bộ của chính ngân hàng, đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát và kỷ luật trên nguyên tắc thị trường
    Một quy định chung cho tất cả: đề nghị một chọn lựa cho tất cả các ngân hàng. Linh loạt, một danh sách các phương pháp, các biện pháp khuyến khích: các ngân hàng có một vài chọn lựa
    Cơ cấu kiểm soát rộng (tiền phạt) Nhiều điều chỉnh về rủi ro hơn về rủi ro tín dụng để quản lý rủi ro tín dụng tốt hơn.
    Những quy định mới có phạm vi rất rộng. Nó đưa ra một loạt những chọn lựa, các chỉ tiêu đo lường phức tạp và toàn diện hơn, bên cạnh việc mô tả công việc đang thực hiện, với các vấn đề chưa được giải quyết sẽ được tổ chức hợp lý ở những quy định cuối cùng. Hiệp ước mới bao gồm 3 trụ cột:
    • Trụ cột 1: Yêu cầu về vốn tối thiểu
    • Trụ cột 2: Quy trình đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát
    • Trụ cột 3: Tính kỷ luật thị trường
    • Ba trụ cột này sẽ góp phần tạo ra một mức độ an toàn và lành mạnh cao hơn trong hệ thống tài chính.
    1. Tổng quan về những đóng góp kinh tế của Hiệp ước Basel mới
    Những đóng góp kinh tế của Hiệp ước mới mở rộng ra cả quy trình thanh tra, giám sát và tính kỷ luật của thị trường. Về mặt kinh tế, Hiệp ước mới tỏ ra là một bước tiến bộ lớn, cụ thể:
    • Về mặt định lượng công tác đo lường rủi ro tín dụng, Hiệp ước này đưa ra một chọn lựa giữa các phương pháp “được tiêu chuẩn hóa”, “cơ bản” và “nâng cao”. Nó khắc phục những hạn chế của các “tỷ số Cooke”, bằng một số hạn chế các trọng số và một trọng số duy nhất cho mọi đối tác rủi ro 100%. Không có thay đổi nào đối với định nghĩa về vốn và vốn cấp 1/cấp 2 lẫn hệ số 8%.
    • Một loạt các tỷ số mới (các tỷ số McDonough) được đưa ra nhằm khắc phục sự thiếu sót này. Các trọng số về rủi ro xác định tỷ lệ vốn quy định đối với rủi ro tín dụng. Các ngân hàng đã dựa vào các trọng số quy định và tiền phạt không gắn với rủi ro, dẫn tới sự bóp méo trong đánh giá rủi ro, giá cả và các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động đã điều chỉnh với rủi ro v.v… Hiệp ước mới cung cấp một khung “nhạy cảm với rủi ro” hơn và sẽ tạo ra một động cơ lớn giải quyết “sự không đầy đủ” của dữ liệu rủi ro tín dụng.
    • Nó cũng mở rộng phạm vi yêu cầu vốn đối với rủi ro hoạt động. Các đo lường về rủi ro hoạt động vẫn rất “sơ sài” trong một thời gian bởi vì thiếu thông tin, nhưng hiệp ước này sẽ kích thích sự thay đổi một cách nhanh chóng.
    • Từ quan điểm kinh tế, hiệp ước này gặp phải những hạn chế về sự chính xác của các chỉ tiêu đo lường dựa trên tiền phạt, một hạn chế được làm giảm nhẹ bởi nhu cầu làm cân đối giữa tính chính xác và tính thực tiễn.
    2. Ba trụ cột của Hiệp ước Basel mới
    2.1. Trụ cột 1: Yêu cầu vốn tối thiểu tổng thể
    Hiệp ước này đưa và một loạt những “chọn lựa nhạy cảm với rủi ro” để nhấn mạnh đến cả hai loại rủi ro. Đối với rủi ro tín dụng, những chọn lựa này bao gồm phương pháp chuẩn hóa, với những yêu cầu đơn giản nhất, và mở rộng thành các phương pháp dựa trên xếp hạng nội bộ (IRB) “cơ bản” và “nâng cao”. Xếp hạng nội bộ là những đánh giá rủi ro tín dụng tương đối của người đi vay và/hoặc các tổ chức đi vay, do các ngân hàng quy định. Hiệp ước mới mong muốn không đưa ra một sự gia tăng thuần hoặc giảm thuần – tính trung bình – trong vốn điều lệ tối thiểu. Theo Hiệp ước mới này, mẫu số của tỷ số tổng vốn tối thiểu sẽ bao gồm 3 phần: tổng tài sản đã điều chỉnh với rủi ro đối với rủi ro tín dụng, cộng với 12,5 lần tổng tỷ lệ vốn quy định cho rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Giả định rằng một ngân hàng có 875 USD tài sản đã điều chỉnh rủi ro, vốn quy định đối với rủi ro thị trường là 10 USD và vốn quy định cho rủi ro hoạt động là 20 USD, mẫu số của tỷ số tổng vốn sẽ bằng 875+[(10+20)x12.5] hay bằng 1.250 USD.
    – Các trọng số rủi ro theo Trụ cột 1
    Hiệp ước mới này phân biệt rõ ràng giữa các trọng số rủi ro, sử dụng một “danh mục” các phương pháp được chọn là “chuẩn hóa”, “cơ bản”, “nâng cao”. Các trọng số rủi ro đối với các yếu tố rủi ro phụ thuộc vào đánh giá tín dụng bên ngoài. Để cải thiện độ nhạy cảm rủi ro trong khi vẫn giữ phương pháp chuẩn được đơn giản, Ủy ban đề nghị cơ sở để xác định trọng số rủi ro là đánh giá tín dụng của các tổ chức bên ngoài. Phương pháp này nhạy cảm với rủi ro hơn hiệp ước hiện tại, thông qua việc đưa thêm rủi ro công ty vào (50%), cộng với trọng số rủi ro 150% cho khả năng xếp hạng thấp. Trường hợp không được xếp hạng có trọng số 100%, thấp hơn trọng số 150%. Loại có rủi ro cao (150%) cũng được dùng cho một số loại tài sản nhất định. Loại chưa được xếp hạng có trọng số 150% có thể gây ra một hành vi “lựa chọn ngược/bất lợi”, theo đó các thể nhân bị xếp hạng thấp có thể từ bỏ việc xếp hạng để hưởng trọng số rủi ro 100% thay vì 150%. Mặt khác, hầu hết các công ty – và ở nhiều nước, phần lớn các ngân hàng – không cần có xếp hạng để tài trợ cho các hoạt động của họ. Do vậy, việc mà một người đi vay không có xếp hạng thường không phải là một dấu hiệu về chất lượng tín dụng thấp.
    Đối với rủi ro quốc gia, các xếp hạng của tổ chức bên ngoài là những xếp hạng của ECAI hoặc ECA. Đối với ngân hàng, thước đo trọng số rủi ro cũng giống như vậy nhưng công tác xếp hạng có thể phải theo một hoặc hai quy trình. Chúng ta đưa ra bảng về các trọng số rủi ro cho xếp hạng quốc gia và công ty. Bảng về các ngân hàng theo chọn lựa đầu tiên này là hoàn toàn giống với bảng xếp hạng quốc gia.
    Trọng số rủi ro quốc gia
    Xếp hạng Trọng số
    Từ AAA đến AA-
    A+ đến A-
    BBB+ đến BBB-
    BB+ đến B-
    Dưới B-
    Không được xếp hạng 0%
    20%
    50%
    100%
    150%
    100%
    Trọng số rủi ro công ty

    Xếp hạng Trọng số rủi ro
    Từ AAA đến AA-
    A+ đến A-
    BBB+ đến BB-
    Dưới BB-
    Không được xếp hạng 20%
    50%
    100%
    150%
    100%
    – Khuôn khổ dựa trên xếp hạng nội bộ
    Phương pháp IRB đề ra những nguyên tắc để đánh giá rủi ro tín dụng về mặt kinh tế. Nó đề xuất một sự xử lý tương tự với phương pháp chuẩn hóa cho rủi ro công ty, ngân hàng và quốc gia, cộng với các chương trình riêng cho khả năng bị rủi ro của ngân hàng bán lẻ, tài chính dự án và vốn cổ phần. Các thành phần rủi ro là xác suất vỡ nợ (PD), thiệt hại do vỡ nợ (Lgd) và “Dễ bị vỡ nợ – Exposure At Default” (EAD). Ước tính về PD phải thể hiện quan điểm bảo thủ về PD trung bình dài hạn, “thông qua chu kỳ này” hơn là đánh giá ngắn hạn về rủi ro. Các trọng số rủi ro là một chức năng của PD và Lgd. Phương pháp này đưa vào Trọng số Rủi ro Tiêu chuẩn (BRW) cho việc tính đến ảnh hưởng của kỳ đáo hạn lên rủi ro tín dụng và các trọng số vốn. Chức năng này phụ thuộc vào xác suất vỡ nợ DP. Các tiêu chuẩn rủi ro đề cập đến trường hợp cụ thể của một tài sản có kỳ hạn 3 năm, với các xác suất vỡ nợ khác nhau và một Lgd 50%. Ba điểm đại diện này thể hiện độ nhạy của các trọng số rủi ro đối với xác suất vỡ nợ hàng năm.
    Độ nhạy cảm về trọng số rủi ro có tính đến kỳ hạn: trường hợp tiêu chuẩn (tài sản có kỳ hạn 3 năm, 50% Lgd)
    Xác suất vỡ nợ (%) DP Trọng số rủi ro tiêu chuẩn (%) BRW
    0.03
    0.7
    20 14
    100
    625
    Đối với DP = 0.7, BRW là 100% và trọng số rủi ro tối đa, với DP = 20% đạt 625%. Giá trị này là mức trần cho mọi kỳ đáo hạn và mọi xác suất vỡ nợ. Nét đặc trưng trọng số này với sự thay đổi DP nhạy cảm hơn các trọng số trong phương pháp chuẩn hóa mà thay đổi từ 20% đến 150% cho mọi kỳ hạn dài hơn 1 năm. Những trọng số này tăng với tỷ lệ ít hơn với xác suất vỡ nợ cho đến khi chúng đạt mức trần.
    Hiệp ước này đề nghị sử dụng kỳ hạn phạt 3 năm đối với mọi tài sản cho phương pháp “cơ bản” nhưng để mở cửa đối với việc sử dụng kỳ đáo hạn hiệu dụng. Các trọng số rủi ro đã điều chỉnh đối với kỳ hạn hiệu dụng được áp dụng trong phương pháp “nâng cao”.
    – Khả năng bị rủi ro cho các khoản cho vay cá thể
    Trong trường hợp có khả năng bị rủi ro từ các khoản vay cá thể, hiệp ước này cũng đề nghị một sự đánh giá khác về rủi ro, để đánh giá một cách trực tiếp “lỗ kỳ vọng”. Lỗ kỳ vọng là sản phẩm của xác suất vỡ nợ (PD) và thiệt hại do vỡ nợ (Lgd). Phương pháp này né tránh việc đánh giá riêng, cho từng loại của PD và Lgd.
    Phương pháp IRB cơ bản: Phương pháp xếp hạng nội bộ IRB “cơ bản” cho phép các ngân hàng đáp ứng các chuẩn mực giám sát thiết thực để đưa vào đánh giá của chính mình về xác súât vỡ nợ cùng với con nợ. Những ước tính về những nhân tố rủi ro tăng thêm như thiệt hại xảy bị gánh chịu bởi ngân hàng trên cơ sở vỡ nợ sẽ theo những ước tính được chuẩn hóa. Khả năng bị rủi ro không được đảm bảo bởi một hình thức cầm cố sẽ gặp phải thiệt hại vỡ nợ cố định và phụ thuộc vào việc giao dịch này là giao dịch chính hay giao dịch phụ. Các yêu cầu tối thiểu cho phương pháp IRB cơ bản liên quan đến sự khác biệt đầy ý nghĩa về rủi ro tín dụng với hoạt động xếp hạng nội bộ, tính toàn diện của hệ thống xếp hạng, các tiêu chí của hệ thống xếp hạng..
    Ba phương pháp mà các ngân hàng có thể sử dụng để kết hợp một ước tính về PD với từng mức điểm nội bộ của nó là: sử dụng dữ liệu dựa trên kinh nghiệm vỡ nợ của chính ngân hàng; phác thảo dữ liệu bên ngoài và sử dụng mô hình thống kê về phá sản. Do vậy, một ngân hàng có thể sử dụng phương pháp cơ bản để xếp hạng theo xác suất vỡ nợ.
    Phương pháp IRB nâng cao: Phương pháp trong số rủi ro tiêu chuẩn (BRW) phụ thuộc vào kỳ đáo hạn trong phương pháp “nâng cao”. Mức trần 625% sẽ áp dụng như trong mức phạt kỳ hạn 3 năm. Ảnh hưởng kỳ hạn này phụ thuộc vào xác suất vỡ nợ hàng năm như trong phương pháp “cơ bản”, cộng với số hạng btrong hàm BRW của xác suất vỡ nợ và kỳ đáo hạn phụ thuộc vào kỳ đáo hạn hiệu dụng của tài sản. Cần chấm dứt ngay việc cho phép các ngân hàng tính yêu cầu vốn của họ dựa trên các mô hình rủi ro tín dụng của danh mục của chính mình. Các lý do là hiện nay thiếu độ tin cậy của các thông tin đầu vào được đòi hỏi bởi các mô hình như vậy, cộng với khó khăn trong việc xác định độ tin cậy của các ước tính về vốn của mô hình. Tuy nhiên, bằng cách đề ra việc hình thành dữ liệu rủi ro cho ba năm tới, Hiệp ước Basel mới chuẩn bị cho việc thực hiện sau này.
    – Tài sản bảo đảm
    Hiệp ước mới chấp nhận sự ghi nhận rộng hơn về các kỹ thuật làm giảm rủi ro tín dụng, kể cả cầm cố, bảo đảm, và các phái sinh tín dụng, và tính giá trị ròng.
    Vật cầm cố: Định nghĩa về tài sản cầm cố hợp lệ rộng hơn định nghĩa trong Hiệp ước năm 1988, có thể bao gồm: tiền mặt; một số loại chứng khoán nợ do các quốc gia phát hành, các tổ chức thuộc khu vực công, ngân hàng, các công ty chứng khoán, và các công ty cổ phần phát hành; các chứng khoán vốn được giao dịch trên các thị trường chính thống; các cổ phần của các quỹ hỗ tương, vàng. Để cầm cố, cần thiết phải tính đến thay đổi thời gian của giá trị cũng như khả năng bị rủi ro của vật cầm cố. “Mức vay thế chấp” xác định tài sản cầm cố bổ sung cần thiết đối với khả năng bị rủi ro để đảm bảo việc bảo vệ rủi ro tín dụng một cách hiệu quả, căn cứ vào các khoảng thời gian cần thiết để điều chỉnh lại mức độ cầm cố (cầm cố bổ sung), ghi nhận thất bại của đối tác trong việc thanh toán hoặc giao lợi nhuận và khả năng thanh lý vật thế chấp của ngân hàng.
    Tài sản đảm bảo và các phái sinh tín dụng: Đối với một ngân hàng, để đạt được bất kỳ sự trợ giúp về vốn nào đó từ việc nhận các sản phẩm phái sinh tín dụng hoặc vật bảo đảm, việc bảo đảm tín dụng phải là trực tiếp, rõ ràng, không thể hủy ngang và không có điều kiện. Các ngân hàng chỉ chịu thiệt hại trong các giao dịch được đảm bảo khi có sự vỡ nợ của cả người mắc nợ và người bảo đảm.
    – Khả năng kết thành danh mục
    Một mở rộng khác của Hiệp ước mới là yêu cầu vốn tối thiểu không chỉ phụ thuộc vào tính chất của khả năng bị rủi ro của cá nhân mà còn phụ thuộc vào “rủi ro tập trung” của danh mục cho vay của ngân hàng. Sự tập trung chỉ rõ những quy mô lớn về khả năng bị rủi ro đối với những người đi vay đơn lẻ, hoặc các nhóm những người đi vay có quan hệ chặt chẽ với nhau, về mặt tiềm năng gây ra thiệt hại lớn. Hiệp ước này đưa ra một chỉ tiêu đo lường tính kết thành danh mục (granularity) và gắn nhân tố rủi ro này vào phương pháp IRB bằng cách điều chỉnh vốn giám sát chuẩn được áp dụng cho mọi khả năng bị rủi ro, ngoại trừ những khả năng trong danh mục bán lẻ.
    – Các rủi ro cụ thể khác
    Hiệp ước mới nhắm vào các loại rủi ro khác nhau: chứng khoán hóa tài sản, tài chính dự án, khả năng bị rủi ro của vốn cổ phần.
    • Hiệp ước này xem việc chứng khoán hóa tài sản cần phải xử lý nghiêm khắc hơn.
    • Nó cũng đặt ra một nguyên tắc “clean break” theo đó việc bán tài sản miễn truy đòi nên là không mơ hồ, giới hạn sự cám dỗ của các ngân hàng đối với việc hỗ trợ các cơ cấu được tài trợ vì động cơ danh tiếng (rủi ro danh tiếng).
    • Các vấn đề chứng khoán khác hóa liên quan đến rủi ro hoạt động. Sự chứng khoán hoá quay vòng có đặc điểm trừ dần trong giai đoạn đầu, hoặc các dòng thanh khoản được cung cấp cho các sản phẩm phái sinh
    • Hiệp ước này cũng đặt ra các phương pháp nhạy cảm với rủi ro cho các vị thế vốn CP được nắm giữ trong sổ sách của ngân hàng. Mục đích là cứu vãn khả năng các ngân hàng có thể hưởng lợi từ một tỷ lệ vốn quy định thấp hơn khi họ nắm giữ vốn cổ phần hơn là nợ.
    – Rủi ro lãi suất
    Hiệp ước này cho rằng sẽ phù hợp hơn nếu xử lý rủi ro lãi suất trong sổ sách ngân hàng theo Trụ cột 2, hơn là xác định các yêu cầu vốn. Việc này hàm ý không có gánh nặng về vốn, nhưng sẽ có một quy trình giám sát nâng cao. Hướng dẫn về rủi ro lãi suất xem hệ thống nội bộ ngân hàng là công cụ chính cho việc đo lường rủi ro lãi suất trong sổ sách ngân hàng và phản ứng của hoạt động giám sát. Để tạo điều kiện cho việc điều hành rủi ro lãi suất của các chuyên gia giám sát của các định chế, các ngân hàng nên đưa ra kết quả từ hệ thống đánh giá nội bộ của mình thông qua việc sử dụng các biến động lãi suất được chuẩn hóa. Nếu các chuyên gia giám sát xác định rằng ngân hàng đang không nắm giữ mức vốn tương xứng với mức độ rủi ro lãi suất, họ có thể đòi hỏi ngân hàng giảm rủi ro hoặc gia tăng lượng vốn nắm giữ hoặc cả hai.
    – Rủi ro hoạt động
    Hiệp ước mới nêu ra một định nghĩa chuẩn về rủi ro hoạt động: “là loại rủi ro xảy ra tổn thất do các qui trình, hệ thống hay nhân viên trong nội bộ ngân hàng vận hành không tốt hoặc do các nguyên nhân khách quan bên ngoài”.
    Đây là căn cứ đầu tiên trong việc phát triển tỷ lệ vốn quy định tối thiểu, ước tính rủi ro hoạt động ở mức 20% vốn điều lệ tối thiểu như được đo lường theo Hiệp ước 1988. Hiệp ước mới đề nghị một loạt gồm 3 phương pháp đo lường mức vốn tối thiểu căn cứ vào rủi ro hoạt động là: chỉ số cơ bản; tiêu chuẩn; đo lường nội bộ.
    2.2. Trụ cột 2: Quy trình đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát
    Trụ cột thứ hai của hiệp ước mới nhắm vào việc đảm bảo rằng mỗi ngân hàng có quy trình nội bộ tốt để đánh giá mức an toàn vốn dựa trên đánh giá toàn diện về rủi ro. Các chuyên gia giám sát sẽ chịu trách nhiệm đánh giá ngân hàng làm tốt như thế nào trong việc đánh giá nhu cầu vốn của họ tương quan với rủi ro. Ủy ban này lưu ý đến tính kỷ luật của thị trường thông qua việc cải tiến việc công bố thông tin như là một phần cơ bản của Hiệp ước mới. Nó xem yêu cầu công bố thông tin và những kiến nghị sẽ cho phép các thành viên của thị trường đánh giá các mẩu thông tin quan trọng để áp dụng hiệp ước điều chỉnh.
    Các phương pháp tính độ nhạy cảm với rủi ro do Hiệp ước mới phát triển sẽ chủ yếu dựa trên các phương pháp nội bộ, cho ngân hàng nhiều chủ động hơn trong việc tính toán yêu cầu vốn của họ. Do vậy, các yêu cầu công bố thông tin riêng rẽ trở thành những điều kiện tiên quyết cho việc ghi nhận hoạt động thanh tra giám sát của các phương pháp nội bộ đối với rủi ro tín dụng, kỹ thuật làm giảm rủi ro tín dụng và những lĩnh vực hoạt động khác.
    Bốn nguyên tắc cơ bản tạo nên chính sách của các chuyên gia giám sát:
    • Các ngân hàng nên có một quy trình đánh giá tổng thể vốn tương quan với rủi ro và một chiến lược duy trì mức vốn của họ.
    • Các chuyên gia giám sát nên xem xét và đánh giá việc đánh giá và chiến lược bảo đảm đủ vốn nội bộ của các ngân hàng, cũng như khả năng giám sát và đảm bảo sự tuân thủ với các tỷ số vốn điều lệ.
    • Các chuyên gia giám sát sẽ kỳ vọng các ngân hàng hoạt động trên mức các tỷ số vốn điều lệ tối thiểu và sẽ có khả năng đòi hỏi ngân hàng nắm giữ vốn cao hơn mức tối thiểu này.
    • Các chuyên gia giám sát sẽ can thiệp ngay ở giai đoạn đầu tiên để ngăn chặn tình trạng vốn giảm xuống thấp hơn mức tối thiểu cần có để hỗ trợ cho rủi ro của một ngân hàng cụ thể, và nên đòi hỏi các hành động điều chỉnh nếu vốn không được duy trì hoặc khôi phục.
    2.3. Trụ cột 3: Tính kỷ luật của thị trường
    Hiệp ước này nhấn mạnh tiềm năng đối với tính kỷ luật của thị trường đối với việc củng cố các quy định về vốn và những nỗ lực thanh tra giám sát khác nhằm thúc đẩy sự an toàn và sự lành mạnh trong các ngân hàng và các hệ thống tài chính.
    Hiệp ước này đề ra một số đề nghị về công bố thông tin như yêu cầu bắt buộc, một vài đề nghị là những điều kiện tiên quyết để chấp thuận việc thanh tra giám sát. Việc công bố thông tin cốt lõi chuyển tải những thông tin mang tính sống còn cho tất cả các định chế và quan trọng cho tính kỷ luật của thị trường. Việc công bố thông tin phụ thuộc vào “tính trọng yếu”. Thông tin là “quan trọng” nếu việc bỏ lỡ thông tin này hoặc công bố sai thông tin này có thể thay đổi hoặc ảnh hưởng đến việc đánh giá hoặc ra quyết định của người sử dụng dựa trên thông tin đó. Các công bố thông tin bổ sung có thể chuyển tải thông tin đáng kể cho các hành động kỷ luật của thị trường đối với một định chế cụ thể nào đó.
    Như vậy, có thể thấy rõ, sự điều chỉnh của Basel II là để hướng tới đảm bảo cho hệ thống tài chính hiện đại phát triển bền vững hơn.
    3. Từ Basel II (Hiệp ước Basel mới) – kiểm soát rủi ro và minh bạch thông tin của hệ thống ngân hàng VN
    Hiệp ước Basel mới đặt ra những trụ cột cơ bản về yêu cầu vốn tối thiểu, quy trình đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát và tính kỷ luật của thị trường. Quá trình hội nhập hệ thống tài chính – ngân hàng quốc tế đặt ra yêu cầu cần thiết phải nâng cao tính minh bạch thông tin nhằm kiểm soát rủi ro trong hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng, trong thời gian qua, hệ thống ngân hàng VN đã áp dụng một cách cứng nhắc các nguyên tắc quản trị rủi ro cũ và đã trở nên lạc hậu. Để có thể kiểm soát rủi ro và gia tăng tính minh bạch của hệ thống ngân hàng VN dựa trên tinh thần của Hiệp ước Basel mới, có thể đề xuất một số các giải pháp sau:
    • Hướng đến mục tiêu đảm bảo tính “an toàn” , “công bằng” mà “vẫn hiệu quả” của hệ thống tài chính.
    Các chính sách điều hành trong hệ thống ngân hàng cần phải được thực hiện trên tinh thần công bằng, kiểm soát được tính an toàn của hệ thống nhưng đồng thời phải đảm bảo tính cạnh tranh. Có thể lấy trường hợp của Chỉ thị 03 về khống chế dư nợ cho vay chứng khoán làm minh chứng cho vấn đề trên. Chỉ thị 03 đang áp dụng một chỉ số cho vay chứng khoán ở mức 3% tổng dư nợ cho tất cả các ngân hàng, bất kể đó là ngân hàng rất lớn có vốn hàng nghìn tỷ đồng hay ngân hàng nhỏ vốn chỉ vài chục đến vài trăm tỷ. Ai cũng thấy mức 3% đối với tổng dư nợ của một ngân hàng lớn tất nhiên phải lớn hơn nhiều lần mức 3% của một ngân hàng thường thường bậc trung. Một chính sách ra đời tuy bảo đảm an toàn của toàn hệ thống nhưng tính cào bằng không đáng có trong chính sách chẳng những hạn chế năng lực cạnh tranh của ngân hàng nhỏ mà còn đẩy rủi ro toàn hệ thống tập trung vào một số ít ngân hàng lớn; đi ngược với xu hướng đa dạng hóa sản phẩm và lợi thế cạnh tranh của hệ thống tài chính hiện đại. Có thể thấy rẳng chỉ thị 03 chưa thể hiện được tinh thần điều chỉnh của Basel II là để hướng tới đảm bảo cho hệ thống tài chính hiện đại phát triển bền vững hơn. Đấy là chưa kể mỗi ngân hàng áp dụng một hệ thống quản trị rủi ro khác nhau, khả năng chịu đựng rủi ro, mức độ đa dạng hóa hoạt động khác nhau. Chỉ thị này vì vậy đã dựng nên một rào cản không cho một số ngân hàng nhỏ đa dạng hóa sản phẩm tín dụng, làm hạn chế khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng và tập trung ưu thế vào một số ngân hàng lớn. Trong khi đó, xét về tiếp cận theo Basel II, thì những tính toán về tỷ lệ vốn có điều chỉnh theo trọng số rủi ro (theo các trọng số rủi ro công ty và quốc gia) như đề cập ở phần trụ cột 1, thì vốn có rủi ro của ACB sẽ khác rất nhiều với vốn có rủi ro của các ngân hàng quốc doanh có nhiều khoản rủi ro tín dụng nhà nước lớn, và do đó, vốn và tài sản của ACB theo số tuyệt đối kế toán thông thường có thể nhỏ hơn của ngân hàng quốc doanh nhưng sau khi điều chỉnh cho trọng số rủi ro, thì khả năng đầy đủ về vốn cao hơn. Vậy, tính 3% thì phải tính 3% theo mức đầy đủ vốn đã điều chỉnh theo rủi ro chứ không phải là theo số tuyệt đối.
    • Khuyến khích tính chủ động, giám sát và minh bạch thông tin của hệ thống ngân hàng VN
    Đây được xem là một trong những trụ cột cơ bản theo tinh thần của hiệp định Basel II. Theo đó, ngân hàng thương mại tự chọn cách thức tính toán, đo lường rủi ro cho mình, thiết lập chương trình quản trị rủi ro của mình và gửi bản đề xuất ấy cho NHNN. NHNN sẽ xem xét, có các điều chỉnh cần thiết, rồi xem đó là một bản hợp đồng ghi nhớ mà ngân hàng thương mại phải tuân thủ, NHNN sẽ định kỳ yêu cầu báo cáo, kiểm tra giám sát việc tuân thủ bản hợp đồng ấy. Mặt khác, chính ngân hàng thương mại phải gia tăng tính minh bạch trong các báo cáo của mình, “trình bày” cho công chúng rõ hơn về những rủi ro mà mình chấp nhận, các cách thức quản trị, mức độ vốn dự phòng của mình cho các rủi ro, …Chính điều này sẽ tạo ra một “kỷ luật thị trường” cho các ngân hàng và gia tăng tính an toàn cho hệ thống ngân hàng. Quay trở lại Chỉ thị 03, nếu như áp dụng theo Basel II, NHNN chỉ cần yêu cầu các ngân hàng phân loại, định mức tín nhiệm và rủi ro của tài sản các ngân hàng (bao gồm các khoản vay), cho phép các ngân hàng chọn lựa phương thức đánh giá rủi ro và quản trị rủi ro phù hợp (trong số các phương pháp do Basel II đề xuất), với điều kiện phải báo cáo về cách đánh giá, phương thức quản trị phù hợp để NHNN thông qua và giám sát. Bên cạnh đó, theo tinh thần Basel II, cần yêu cầu các ngân hàng phải minh bạch, công khai các thông tin về các rủi ro mình đang gặp phải, cấu trúc vốn của ngân hàng và mức độ dự phòng, cũng như khả năng đầy đủ vốn (capital adequacy) để đáp ứng trong trường hợp có rủi ro … Nếu làm như vậy chứ không phải áp dụng một tỷ lệ phần trăm “cứng” như kiểu 3% trên tổng dư nợ, mà là một tỷ lệ phần trăm vốn dự phòng cần có trên các tài sản có rủi ro, tức là phần tài sản đã được điều chỉnh cho hệ số rủi ro của chúng, chính là ta đang hướng đến mục tiêu đảm bảo tính “an toàn” mà “vẫn hiệu quả” của hệ thống tài chính, thay vì an toàn nhưng thiếu sức cạnh tranh.
    • Nâng cao tính tin cậy của các tổ chức định mức tín nhiệm.
    Xếp hạng tín nhiệm được thực hiện trên trọng số rủi ro quốc gia và trọng số rủi ro công ty. Tuy vậy, việc đánh giá và xếp hạng rủi ro của nước ta vẫn còn những điểm chưa đồng nhất dựa trên những tiêu chuẩn xếp hạng rủi ro khác nhau căn cứ vào các mô hình xếp hạng rủi ro như: mô hình ICRG ( International country risk guide, mô hình Beta quốc gia, …. ). Điều này có thể xuất phát từ những quan điểm khác nhau trong đánh giá rủi ro nhưng nguyên nhân quan trọng hơn hết là tính minh bạch và sự thống nhất trong các thông tin được công bố. Vấn đề này cũng tồn tại trong các xếp hạng tin nhiệm đối với các công ty, vì vậy để đảm bảo độ tin cậy của bảng xếp hạng này làm cơ sở cho quản trị rủi ro của các ngân hàng thương mại, các doanh nghiệp cần gia tăng tính trung thực, kịp thời và chịu trách nhiệm về các thông tin do mình công bố, đồng thời, Nhà nước cần có những biện pháp chế tài thích đáng trong những trường hợp vi phạm các quy định về công bố thông tin, tránh tình trạng “ giơ cao đánh khẽ” như thời gian qua.
    Basel II sắp tới sẽ không chỉ có nước phát triển áp dụng mà là cả các thị trường mới nổi, trong đó có VN sẽ phải thực hiện những quy định chung này. Do đó, cần thiết phải nghiên cứu các tư tưởng cơ bản của Basel II để có thể vận dụng đơn giản hơn nhưng vẫn hiệu quả cho hệ thống ngân hàng VN.
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    • Risk management in banking – Joel Bessis.
    • Chỉ thị 03 về khống chế dư nợ cho vay chứng khoán: Nhìn từ góc độ hiệp định Basel II về quản trị rủi ro – GS.TS. Trần Ngọc Thơ và Th.S. Hồ Quốc Tuấn
    NGUỒN: TẠP CHÍ PTKT, SỐ 6/2008.
    I suspect they (Eximbank Lieu Branch) hooked up with Vietcombank Branch in Soc Trang corruption, edit documents and transfer of electronic inter-bank money.
    Tôi nghi ngờ họ (Eximbank Bạc Liêu Branch) móc nối với Vietcombank Sóc Trăng Branch tham nhũng, sửa chứng từ và chuyển tiền điện tử liên ngân hàng.
    Có quyền nghi ngờ!
    http://vn.360plus.yahoo.com/thai_hien12121981

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s