KT* – 196 – 111011 – Ước tính 40% số doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phá sản

 

Đăng lần đầu: 10/11/2011Để lại phản hồiGo to comments


Tư Giang

Theo: thesaigontime

(TTHN) – Tốc độ tan rã của doanh nghiệp VN trong trận suy thoái này (ngay cả tôi chứng kiến 5, 6 cuộc suy thoái bên Úc) là “tàn phá”, tiếng Anh gọi là “snow ball effect” tức là tốc độ “quả banh tuyết từ đỉnh rơi xuống” (những cơn bão tuyết bắt đầu rơi từ đỉnh xuống bởi một quả tuyết bằng quả golf, nhưng trên đường tuột dốc xuống thì nó lôi cuốn càng ngày càng to và khi đến gần chạm đáy thì là một bảo tuyết, tàn phá tất cả những gì trên hành trình của nó (người trượt tuyết, sinh vật v.v..).

Suy thoái bắt đầu là đầu tháng 9.2011, đến ngày 01.10.2011 đả có báo cáo 48.700 doanh nghiệp (trong tổng số 600.000 doanh nghiệp phá sản).KT – Đã có 48.700 doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động

Và hôm nay, 40% của 600.000 doanh nghiệp phá sản, tức là 240.000 (tròn số) doanh nghiệp phá sản, một sự gia tăng gần 200.000 doanh nghiệp trong tháng thứ 2.

Điều này cũng rất dễ lý giải, mặc dù ĐCS cố tình đổ thừa là vì nợ công Châu Âu và lạm phát sẽ giảm còn 10% năm 2012 nhưng doanh nghiệp không ai tin là tháng 12.2011 lạm phát là 19 ~20% rồi vào năm 2012, sẽ còn 9.99% (cho là tháng 12.2012 cũng bất khả thi).

Điều này cho tôi thấy thông điệp của tôi về suy thoái có ảnh hưởng rất mạnh, doanh nghiệp tin là suy thoái sẽ là 5 hay 7 năm nên họ vội vã cắt lỗ và “ẩn dật” thay vì cầm cự rồi biết rằng một năm cầm cự với tiền mặt bằng, thợ thầy cầm chừng cũng không chịu nỗi huống gì 5 hay 7 năm.

Càng được sự ủng hộ ngầm của báo lề phải lấy bài tôi và kiểm chứng thực tế rồi sửa thành phóng sự thì thông điệp của tôi sẽ được truyền đạt trên kênh chính thống với 90 triệu người xem.

Đối với tôi, tôi càng cám on8 những PV hành động vì lương tâm và sự thật, vì lợi ích của 90 triệu dân tộc thay vì hành động theo chỉ thị của đảng, phản bội dân tộc VN.

Cuối cùng, phải nhìn nhận là ĐCS có công rất lớn trong sự tan rã nhanh chóng này của nền kinh tế vì 90 triệu dân từ thành thị tới thôn quê đều mỗi ngày đọc tin ngân hàng phá sản, sáp nhập, bảo đảm vnd 50 triệu, vàng và usd không bảo đảm, hàng xóm rút tiền ào ào khỏi ngân hàng, doanh nghiệp đuổi việc, cửa hàng hoành tráng dẹp tiệm, mặt bằng trống không, BĐS ế ẩm (2 khách rút thăm trong PVL “đại hạ giá chung cư” phải hủy bỏ), Vinashin bị kiện bên Anh, tham nhũng làm suy sụp tập đoàn và tổng cty, TTCK mỗi ngày mỗi rớt bây giờ chỉ còn 400.

Bào giờ người dân sẽ biểu tình đuổi bọn bất tài đả tàn phá cuộc sống của 90 triệu dân tộc ta, chắc là không lâu đâu nhỉ ??? Sức người có hạn và hạn mức chịu đựng đang tiến tới “không chịu đựng được nữa”

Chỉ có dân đen là chịu khổ thôi, còn tư bản đỏ và cánh hẩu, vây cánh của chúng nó vẫn sung sướng.
Châu Xuân Nguyễn

Ước tính 40% số doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phá sản

Tư Giang
Thứ Tư,  9/11/2011, 16:47 (GMT+7)

Khoảng 40% doanh nghiệp vừa và nhỏ được cho là đã phá sản – Ảnh TL.

(TBKTSG Online) – Số doanh nghiệp vừa và nhỏ phá sản hay rút lui khỏi thị trường đã gia tăng nhanh chóng về cuối năm do tác động của kinh tế suy giảm, theo Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ.

Trao đổi với Thời báo Kinh tế Sài Gòn Online, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp vừa và nhỏ Cao Sỹ Kiêm cho rằng có địa phương báo cáo số doanh nghiệp phá sản hiện nay của họ lên tới 40%, có địa phương báo cáo 50%.

“Dù thế nào, đến nay số doanh nghiệp phá sản, mất khỏi thị trường là gấp đôi con số của tháng 7 năm nay rồi”, ông Kiêm nói.

Tháng 7 vừa qua, hiệp hội trên đưa ra báo cáo là có 20% số doanh nghiệp đã phá sản, rút lui khỏi thị trường, trong khi 70% đang rất khó khăn.

Ông Kiêm giải thích: “Sản xuất của các doanh nghiệp này nói chung là đình trệ. Tất cả các yếu tố kinh doanh như tiếp cận vốn, tồn kho, lợi nhuận,… của doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng diễn biến theo chiều hướng xấu hơn”.

Lãi suất cho vay, theo ông Kiêm, dù đã giảm xuống còn 17-19%, nhưng các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận rất khó. “Lãi suất như thế chưa phải là giá vốn tốt, mà thực tế những doanh nghiệp tiếp cận được giá này cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay thôi”, ông nói.

Ông Kiêm cho biết, trong nhiều cuộc gặp gần đây với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, ông thấy tinh thần chung của họ đã giảm sút. Ông nói: “Tinh thần của doanh nghiệp hiện nay là ở mức thấp nhất trong vòng 4 năm nay. Họ thấy bế tắc nhiều quá mà lối ra lại không rõ”.

Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh báo cáo với Quốc hội ngày 1-10 là 48.700 doanh nghiệp giải thể hoặc ngừng hoạt động trong 9 tháng năm 2011.

Trong khi đó, thứ trưởng bộ này, ông Nguyễn Văn Trung trích số liệu của Tổng cục Thuế cho biết, có tới 47.000 doanh nghiệp được xác định không nộp thuế từ đầu năm đến cuối tháng 10 vừa qua.

Ông Kiêm cho rằng, tình hình có thể “bi đát hơn”. Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên đồng tình quan điểm của ông Kiêm và nhận xét, có nhiều bằng chứng đáng tin cậy cho thấy, số doanh nghiệp đóng cửa có thể lên tới 30-35% tổng số doanh nghiệp, tức là gấp 3-4 lần con số của Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố.

Đến cuối năm 2010, số doanh nghiệp ở Việt Nam có tổng cộng 386.000 theo Tổng cục Thống kê, và 413.000 theo Tổng cục Thuế. Trong khi đó, số doanh nghiệp theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cao hơn nhiều, tới 546.500 tính đến cuối năm 2010.

Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, đã có 64.000 doanh nghiệp đăng ký mới trong 10 tháng, và dự kiến cả nước có 624.000  doanh nghiệp vào cuối năm nay, trong đó ước tính khoảng 93- 97% là vừa và nhỏ.

Share this:

Like this:

Be the first to like this post.
Categories:Kinh TếKTThẻ:
  1. 10/11/2011 lúc 21:29 | #1

    chúng tôi đang lắng tai nghe a châu!
    Xin ơn trên chúc lành cho anh luôn sáng suốt để tiếp tục là ánh đuốc soi chung cho những đồng bào nghèo VN đang loaY hoaY không biết phải lam gì
    Với số tiền ít ỏi cuối cùng còn lại để có thể sống sót qua cơn sốt kinh tế rất hiểm nghèo mà hậu quả để lại do chánh sách kinh tế diệt dân của đám chuYên gia kinh nguYệt chóp bu V cộng đươc chỉ đạo bởi
    đám đồ tể bắc kinh mượn dao giết người.

  2. 11/11/2011 lúc 00:27 | #2

    Doanh nghiệp vừa và nhỏ phá sản , sản xuất cầm chừng hoặc đóng cửa rất nhiều . Điều nầy người dân dể dàng nhận thấy , bạn bè người thân xung quanh tôi bắt đầu thất nghiệp hoặc lương bổng bị teo lại ngày càng nhiều . Bản thân tôi làm việc ở ngành dịch vụ mà bọn đại gia hay lui tới vui chơi ăn nhậu lại càng dể nhận rỏ hơn : càng ngày càng ế khách .
    Cuộc sống người dân đang thực sự đi dần đến mức gọi là rất khó khăn , không biết rồi sẽ ra sao nữa , sắp đói tới nơi rồi , trộm cướp hoành hành khắp nơi ,…
    Chán quá ! chỉ mong mọi người rủ nhau xuống đường biểu tình đòi cái ăn cái mặc , đòi lại công bằng cho tất cả người dân là tôi sẳn sàng ngay .
    Có nhát có sợ nằm nhà thì cũng chết đói mà thôi , vài chục ngàn người xuống đường đòi quyền được sống cho đàng hoàng tử tế thôi , liệu chúng có bắt được hết không ?

    • 11/11/2011 lúc 00:34 | #3

      Ý kiến hay, nên tập hợp biểu tình chống lạm phát, chống thất nghiệp, chống suy thoái,
      đòi hỏi CP phải có giải pháp,
      Thân ái,
      Chau Xuan Nguyen

  3. nguyễn thanh
    11/11/2011 lúc 04:53 | #4

    Tôi khẳng định chắc chắn 40% doanh nghiệp VN phá sản, dừng hoạt đông, hoặc đóng cửa là chính xác .một tâm trạng chán nản, chán chường, tiêu cực không lối thoát,không tin tưỡng vào cách điều hành bởi chi phối quá lớn của lợi ích nhóm quá lớn của chính phủ NTD. Hiển hiện trong tất cả các tầng lớp doanh nhân và doanh nghiệp dân doanh khắp Việt nam là tâm trạng bi quan, thờ ơ vô cảm với nhà nước,chính phủ vì các nguồn lực quốc gia họ đã cuổm hết..Họ ví doanh nghiệp VN đang vừa bị LỐC XOÁY của giảm sút,suy thoái,suy giảm thị trường. không có mua bán, tiêu thụ bình thường. vòng quay không có.Lại bị LŨ CUỐN lớn do lãi suất ngân hàng cao lại phải bôi trơn mới vay được cùng với tính dụng chợ đen tăng chóng mặt….là những người lính trong thời bình mà họ buông súng đầu hàng,đào ngũ ( chạy làng } thì đương nhiên anh CHÂU XUÂN NGUYỄN nói đúng rồi – lấy đâu nguồn lực và tiền thuế mà cầm cự và nuôi nổi bộ máy nhà nước khổng lồ mà bất tài này… độc tài độc đoán mà lại không thể tự chuyển hóa được….việc chìm xuồng là chắc chắn. Nhưng cho hỏi anh Châu Xuân Nguyễn là khoảng năm tháng nào vậy? theo nhận định của anh và các đồng nghiệp có tiếng khác…

    • 11/11/2011 lúc 07:28 | #5

      Chào bạn nguyn thanh,
      Vậy là phân tích suy thoái kéo dài 7 năm của tôi dc nhiều ng đọc và thuyết phục nên họ mới nản, chứ ĐCS nói là năm sau 2012 sẽ kéo về 10% là xạo. Tất cả đều rất chán nản vì sự thật hiển hiện chung quanh họ.
      Ngày về VN thì ko đoán dc, đôi khi chúng đầu hàng, đôi khi chúng in thêm tiền.
      Thân ái,
      Chau Xuan Nguyen

  4. DaoUu
    11/11/2011 lúc 07:10 | #6

    Chẳng có gì phải lo cả. Thời bác Hồ và bác Duẩn có doanh nghiệp tư doanh nào đâu mà chúng ta đã tiến gần đến thiên đàng XHCN hơn bao giờ hết!

  5. 11/11/2011 lúc 08:22 | #7

    Vụ này mang tín hiệu gì vậy anh Châu? Xin anh cho em ý kiến.

    http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2011/11/bao-tin-minh-chau-dai-ha-gia-vang-mieng/

  6. Lan Phuong
    11/11/2011 lúc 11:13 | #9

    Bảo tín minh châu sắp sửa ko đc Kinh doanh vàng miếng nữa phải bán phá giá đi để thu tiền về rồi chuyển hướng chứ còn gì nữa anh cu Tèo Trình thấp quá

    • Dr. Tèo
      11/11/2011 lúc 12:54 | #10

      Mình giỏi sao bằng anh Châu cho nên phải xin ý kiến chứ sao LP. Cảm ơn bạn đã chỉ giáo thêm. Bần đại gia xin đa tạ đa tạ.

Gửi phản hồi

5 comments on “KT* – 196 – 111011 – Ước tính 40% số doanh nghiệp vừa và nhỏ đã phá sản

  1. Giờ phải làm gì hả anh châu? Chuyển những đồng tiết kiệm cuối cùng để mua vàng hay là USD để phòng thân ạ? Cám ơn anh!

    • Mua vàng hay usd cũng dc, chỉ bán ít ít ra khi cần…Chúng nó sẽ in tiền vnd để thu gom vàng…
      45 triệu/ lưỡng cũng phải, 50,60, 70 củng phải…Đang tiến tới đó rồi đó
      CXN

  2. Tình trạng nguy cấp của nền kinh tế Việt Nam

    Tình trạng khủng hoảng trầm trọng của kinh tế Việt Nam đã được nhiều cơ quan quốc tế đưa ra. Cơ quan đánh giá quốc tế hàng đầu Standard &Poor’s ngày 11/11/2011 điều chỉnh đánh giá BICRAM về Việt Nam từ nhóm 9 lên nhóm 10 (chót hạng) với nhận định tổng quát (3):
    1. Hệ thống Ngân hàng Việt Nam có nguy cơ sụp đổ cao nhất thế giới, 10/10. Hai quốc gia khác có cùng nguy cơ này là Hy lạp và Belarus;
    2. Nền kinh tế Việt Nam đang gặp nguy hiểm nhất thế giới, 10/10, do ít nhất ba lý do:
    2.1. Không thể chịu đựng, đối phó nổi một cơn sốc kinh tế, tài chánh.
    2.2. Nền kinh tế bị mất cân đối nghiêm trọng vào bậc nhất (đặc biệt là tăng trưởng mạnh về tín dụng và giá nhà đất).
    2.3. Tín dụng đang ở vào tình trạng tối nguy hiểm (thiếu tiêu chuẩn quốc tế về ngân hàng, can thiệp đối phó hơn là chủ động, điều hành yếu kém và sổ sách thiếu minh bạch, hệ thống méo mó vì mệnh lệnh hành chính, chính phủ hỗ trợ vốn quá nhiều).

    http://chimbaobao.wordpress.com/2012/01/11/tinh-trang-nguy-cap-cua-nen-kinh-te-viet-nam/

  3. ‘Bão’ thất nghiệp sắp đổ bộ?

    Thông tin về tình hình người lao động khó tìm việc làm và số lượng lớn các DN đã và đang buộc phải giải thể, phá sản ảnh hưởng trực tiếp đến công ăn việc làm của đội ngũ lao động đang có việc làm cũng như lực lượng lao động bổ sung hàng năm.
    Chỉ ước tính riêng con số mỗi doanh nghiệp có thể có ít nhất 5-10 lao động thì con số người lao động mất việc đã có thể là hơn nửa triệu người!

    http://vef.vn/2012-04-04-doanh-nghiep-gap-kho-that-nghiep-tang-nhanh

  4. Hiệp ước Basel mới và vấn đề kiểm soát rủi ro trong các NHTM
    To chuc tin dung
    PGS.TS. Nguyễn Thị Liên Hoa

    Để chuẩn hóa hoạt động của hệ thống các ngân hàng trên thị trường tài chính quốc tế, thông thường các ngân hàng châu Âu thực hiện 2 công cụ: Đạo Luật châu Âu đơn lẻ và Hiệp ước Basel. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, những vụ khủng hoảng xảy ra trên thị trường tài chính thế giới, đặc biệt là những rủi ro phát sinh trong lĩnh vực Ngân hàng đã khiến Chính phủ các quốc gia trên thế giới đã đặt lại vấn đề: cải tiến Basel (1988) thành một Hiệp ước Basel mới với mục tiêu tăng cường các giải pháp kiểm soát rủi ro của hệ thống ngân hàng.

    Hiệp ước Basel mới là những tài liệu hướng dẫn mô tả các đề xuất những quy định nâng cao công tác quản lý rủi ro tín dụng, liên quan đến phạm vi yêu cầu vốn đối với rủi ro hoạt động, đưa ra các biện pháp cải tiến khác nhau đối với hiệp ước “hiện hữu” và chi tiết hóa “hoạt động thanh tra, giám sát” cũng như đề ra các trụ cột về “tính kỷ luật của thị trường”. Ban đầu, Hiệp ước cho phép một thời gian chuyển đổi 3 năm trước khi có hiệu lực hoàn toàn. Như vậy đến năm 2004 các định chế tài chính tại các nước phát triển tham gia hiệp ước phải tuân thủ nó. Tuy nhiên, tình hình thực hiện hiệp ước đã bị đình trệ. Đến tháng 11/2007 thì phía Mỹ mới chính thức chấp nhận áp dụng Basel 2. Và tiếp đó là đến năm 2008 thì tất cả ngân hàng của khối EU mới tiến hành báo cáo về mức độ an toàn vốn (captial adequacy) theo chuẩn mực Basel mới.

    Bảng sau cho thấy tính hợp lý của Hiệp ước này:

    Hiệp ước hiện hữu
    Hiệp ước mới
    Tập trung vào một giải pháp quản lý rủi ro duy nhất
    Tập trung nhiều hơn vào cáp các phương pháp nội bộ của chính ngân hàng, đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát và kỷ luật trên nguyên tắc thị trường
    Một quy định chung cho tất cả: đề nghị một chọn lựa cho tất cả các ngân hàng.
    Linh loạt, một danh sách các phương pháp, các biện pháp khuyến khích: các ngân hàng có một vài chọn lựa
    Cơ cấu kiểm soát rộng (tiền phạt)
    Nhiều điều chỉnh về rủi ro hơn về rủi ro tín dụng để quản lý rủi ro tín dụng tốt hơn.
    Những quy định mới có phạm vi rất rộng. Nó đưa ra một loạt những chọn lựa, các chỉ tiêu đo lường phức tạp và toàn diện hơn, bên cạnh việc mô tả công việc đang thực hiện, với các vấn đề chưa được giải quyết sẽ được tổ chức hợp lý ở những quy định cuối cùng. Hiệp ước mới bao gồm 3 trụ cột:

    · Trụ cột 1: Yêu cầu về vốn tối thiểu
    · Trụ cột 2: Quy trình đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát
    · Trụ cột 3: Tính kỷ luật thị trường
    · Ba trụ cột này sẽ góp phần tạo ra một mức độ an toàn và lành mạnh cao hơn trong hệ thống tài chính.
    1. Tổng quan về những đóng góp kinh tế của Hiệp ước Basel mới
    Những đóng góp kinh tế của Hiệp ước mới mở rộng ra cả quy trình thanh tra, giám sát và tính kỷ luật của thị trường. Về mặt kinh tế, Hiệp ước mới tỏ ra là một bước tiến bộ lớn, cụ thể:

    · Về mặt định lượng công tác đo lường rủi ro tín dụng, Hiệp ước này đưa ra một chọn lựa giữa các phương pháp “được tiêu chuẩn hóa”, “cơ bản” và “nâng cao”. Nó khắc phục những hạn chế của các “tỷ số Cooke”, bằng một số hạn chế các trọng số và một trọng số duy nhất cho mọi đối tác rủi ro 100%. Không có thay đổi nào đối với định nghĩa về vốn và vốn cấp 1/cấp 2 lẫn hệ số 8%.
    · Một loạt các tỷ số mới (các tỷ số McDonough) được đưa ra nhằm khắc phục sự thiếu sót này. Các trọng số về rủi ro xác định tỷ lệ vốn quy định đối với rủi ro tín dụng. Các ngân hàng đã dựa vào các trọng số quy định và tiền phạt không gắn với rủi ro, dẫn tới sự bóp méo trong đánh giá rủi ro, giá cả và các chỉ tiêu đo lường hiệu quả hoạt động đã điều chỉnh với rủi ro v.v… Hiệp ước mới cung cấp một khung “nhạy cảm với rủi ro” hơn và sẽ tạo ra một động cơ lớn giải quyết “sự không đầy đủ” của dữ liệu rủi ro tín dụng.
    · Nó cũng mở rộng phạm vi yêu cầu vốn đối với rủi ro hoạt động. Các đo lường về rủi ro hoạt động vẫn rất “sơ sài” trong một thời gian bởi vì thiếu thông tin, nhưng hiệp ước này sẽ kích thích sự thay đổi một cách nhanh chóng.
    · Từ quan điểm kinh tế, hiệp ước này gặp phải những hạn chế về sự chính xác của các chỉ tiêu đo lường dựa trên tiền phạt, một hạn chế được làm giảm nhẹ bởi nhu cầu làm cân đối giữa tính chính xác và tính thực tiễn.
    2. Ba trụ cột của Hiệp ước Basel mới

    2.1. Trụ cột 1: Yêu cầu vốn tối thiểu tổng thể

    Hiệp ước này đưa và một loạt những “chọn lựa nhạy cảm với rủi ro” để nhấn mạnh đến cả hai loại rủi ro. Đối với rủi ro tín dụng, những chọn lựa này bao gồm phương pháp chuẩn hóa, với những yêu cầu đơn giản nhất, và mở rộng thành các phương pháp dựa trên xếp hạng nội bộ (IRB) “cơ bản” và “nâng cao”. Xếp hạng nội bộ là những đánh giá rủi ro tín dụng tương đối của người đi vay và/hoặc các tổ chức đi vay, do các ngân hàng quy định. Hiệp ước mới mong muốn không đưa ra một sự gia tăng thuần hoặc giảm thuần – tính trung bình – trong vốn điều lệ tối thiểu. Theo Hiệp ước mới này, mẫu số của tỷ số tổng vốn tối thiểu sẽ bao gồm 3 phần: tổng tài sản đã điều chỉnh với rủi ro đối với rủi ro tín dụng, cộng với 12,5 lần tổng tỷ lệ vốn quy định cho rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động. Giả định rằng một ngân hàng có 875 USD tài sản đã điều chỉnh rủi ro, vốn quy định đối với rủi ro thị trường là 10 USD và vốn quy định cho rủi ro hoạt động là 20 USD, mẫu số của tỷ số tổng vốn sẽ bằng 875+[(10+20)x12.5] hay bằng 1.250 USD.

    – Các trọng số rủi ro theo Trụ cột 1

    Hiệp ước mới này phân biệt rõ ràng giữa các trọng số rủi ro, sử dụng một “danh mục” các phương pháp được chọn là “chuẩn hóa”, “cơ bản”, “nâng cao”. Các trọng số rủi ro đối với các yếu tố rủi ro phụ thuộc vào đánh giá tín dụng bên ngoài. Để cải thiện độ nhạy cảm rủi ro trong khi vẫn giữ phương pháp chuẩn được đơn giản, Ủy ban đề nghị cơ sở để xác định trọng số rủi ro là đánh giá tín dụng của các tổ chức bên ngoài. Phương pháp này nhạy cảm với rủi ro hơn hiệp ước hiện tại, thông qua việc đưa thêm rủi ro công ty vào (50%), cộng với trọng số rủi ro 150% cho khả năng xếp hạng thấp. Trường hợp không được xếp hạng có trọng số 100%, thấp hơn trọng số 150%. Loại có rủi ro cao (150%) cũng được dùng cho một số loại tài sản nhất định. Loại chưa được xếp hạng có trọng số 150% có thể gây ra một hành vi “lựa chọn ngược/bất lợi”, theo đó các thể nhân bị xếp hạng thấp có thể từ bỏ việc xếp hạng để hưởng trọng số rủi ro 100% thay vì 150%. Mặt khác, hầu hết các công ty – và ở nhiều nước, phần lớn các ngân hàng – không cần có xếp hạng để tài trợ cho các hoạt động của họ. Do vậy, việc mà một người đi vay không có xếp hạng thường không phải là một dấu hiệu về chất lượng tín dụng thấp.

    Đối với rủi ro quốc gia, các xếp hạng của tổ chức bên ngoài là những xếp hạng của ECAI hoặc ECA. Đối với ngân hàng, thước đo trọng số rủi ro cũng giống như vậy nhưng công tác xếp hạng có thể phải theo một hoặc hai quy trình. Chúng ta đưa ra bảng về các trọng số rủi ro cho xếp hạng quốc gia và công ty. Bảng về các ngân hàng theo chọn lựa đầu tiên này là hoàn toàn giống với bảng xếp hạng quốc gia.

    Trọng số rủi ro quốc gia

    Xếp hạng
    Trọng số
    Từ AAA đến AA-
    A+ đến A-
    BBB+ đến BBB-
    BB+ đến B-
    Dưới B-
    Không được xếp hạng
    0%
    20%
    50%
    100%
    150%
    100%
    Trọng số rủi ro công ty

    Xếp hạng
    Trọng số rủi ro
    Từ AAA đến AA-
    A+ đến A-
    BBB+ đến BB-
    Dưới BB-
    Không được xếp hạng

    20%
    50%
    100%
    150%
    100%

    – Khuôn khổ dựa trên xếp hạng nội bộ

    Phương pháp IRB đề ra những nguyên tắc để đánh giá rủi ro tín dụng về mặt kinh tế. Nó đề xuất một sự xử lý tương tự với phương pháp chuẩn hóa cho rủi ro công ty, ngân hàng và quốc gia, cộng với các chương trình riêng cho khả năng bị rủi ro của ngân hàng bán lẻ, tài chính dự án và vốn cổ phần. Các thành phần rủi ro là xác suất vỡ nợ (PD), thiệt hại do vỡ nợ (Lgd) và “Dễ bị vỡ nợ – Exposure At Default” (EAD). Ước tính về PD phải thể hiện quan điểm bảo thủ về PD trung bình dài hạn, “thông qua chu kỳ này” hơn là đánh giá ngắn hạn về rủi ro. Các trọng số rủi ro là một chức năng của PD và Lgd. Phương pháp này đưa vào Trọng số Rủi ro Tiêu chuẩn (BRW) cho việc tính đến ảnh hưởng của kỳ đáo hạn lên rủi ro tín dụng và các trọng số vốn. Chức năng này phụ thuộc vào xác suất vỡ nợ DP. Các tiêu chuẩn rủi ro đề cập đến trường hợp cụ thể của một tài sản có kỳ hạn 3 năm, với các xác suất vỡ nợ khác nhau và một Lgd 50%. Ba điểm đại diện này thể hiện độ nhạy của các trọng số rủi ro đối với xác suất vỡ nợ hàng năm.

    Độ nhạy cảm về trọng số rủi ro có tính đến kỳ hạn: trường hợp tiêu chuẩn (tài sản có kỳ hạn 3 năm, 50% Lgd)

    Xác suất vỡ nợ (%) DP
    Trọng số rủi ro tiêu chuẩn (%) BRW
    0.03
    0.7
    20
    14
    100
    625
    Đối với DP = 0.7, BRW là 100% và trọng số rủi ro tối đa, với DP = 20% đạt 625%. Giá trị này là mức trần cho mọi kỳ đáo hạn và mọi xác suất vỡ nợ. Nét đặc trưng trọng số này với sự thay đổi DP nhạy cảm hơn các trọng số trong phương pháp chuẩn hóa mà thay đổi từ 20% đến 150% cho mọi kỳ hạn dài hơn 1 năm. Những trọng số này tăng với tỷ lệ ít hơn với xác suất vỡ nợ cho đến khi chúng đạt mức trần.

    Hiệp ước này đề nghị sử dụng kỳ hạn phạt 3 năm đối với mọi tài sản cho phương pháp “cơ bản” nhưng để mở cửa đối với việc sử dụng kỳ đáo hạn hiệu dụng. Các trọng số rủi ro đã điều chỉnh đối với kỳ hạn hiệu dụng được áp dụng trong phương pháp “nâng cao”.

    – Khả năng bị rủi ro cho các khoản cho vay cá thể

    Trong trường hợp có khả năng bị rủi ro từ các khoản vay cá thể, hiệp ước này cũng đề nghị một sự đánh giá khác về rủi ro, để đánh giá một cách trực tiếp “lỗ kỳ vọng”. Lỗ kỳ vọng là sản phẩm của xác suất vỡ nợ (PD) và thiệt hại do vỡ nợ (Lgd). Phương pháp này né tránh việc đánh giá riêng, cho từng loại của PD và Lgd.

    Phương pháp IRB cơ bản: Phương pháp xếp hạng nội bộ IRB “cơ bản” cho phép các ngân hàng đáp ứng các chuẩn mực giám sát thiết thực để đưa vào đánh giá của chính mình về xác súât vỡ nợ cùng với con nợ. Những ước tính về những nhân tố rủi ro tăng thêm như thiệt hại xảy bị gánh chịu bởi ngân hàng trên cơ sở vỡ nợ sẽ theo những ước tính được chuẩn hóa. Khả năng bị rủi ro không được đảm bảo bởi một hình thức cầm cố sẽ gặp phải thiệt hại vỡ nợ cố định và phụ thuộc vào việc giao dịch này là giao dịch chính hay giao dịch phụ. Các yêu cầu tối thiểu cho phương pháp IRB cơ bản liên quan đến sự khác biệt đầy ý nghĩa về rủi ro tín dụng với hoạt động xếp hạng nội bộ, tính toàn diện của hệ thống xếp hạng, các tiêu chí của hệ thống xếp hạng..

    Ba phương pháp mà các ngân hàng có thể sử dụng để kết hợp một ước tính về PD với từng mức điểm nội bộ của nó là: sử dụng dữ liệu dựa trên kinh nghiệm vỡ nợ của chính ngân hàng; phác thảo dữ liệu bên ngoài và sử dụng mô hình thống kê về phá sản. Do vậy, một ngân hàng có thể sử dụng phương pháp cơ bản để xếp hạng theo xác suất vỡ nợ.

    Phương pháp IRB nâng cao: Phương pháp trong số rủi ro tiêu chuẩn (BRW) phụ thuộc vào kỳ đáo hạn trong phương pháp “nâng cao”. Mức trần 625% sẽ áp dụng như trong mức phạt kỳ hạn 3 năm. Ảnh hưởng kỳ hạn này phụ thuộc vào xác suất vỡ nợ hàng năm như trong phương pháp “cơ bản”, cộng với số hạng btrong hàm BRW của xác suất vỡ nợ và kỳ đáo hạn phụ thuộc vào kỳ đáo hạn hiệu dụng của tài sản. Cần chấm dứt ngay việc cho phép các ngân hàng tính yêu cầu vốn của họ dựa trên các mô hình rủi ro tín dụng của danh mục của chính mình. Các lý do là hiện nay thiếu độ tin cậy của các thông tin đầu vào được đòi hỏi bởi các mô hình như vậy, cộng với khó khăn trong việc xác định độ tin cậy của các ước tính về vốn của mô hình. Tuy nhiên, bằng cách đề ra việc hình thành dữ liệu rủi ro cho ba năm tới, Hiệp ước Basel mới chuẩn bị cho việc thực hiện sau này.

    – Tài sản bảo đảm

    Hiệp ước mới chấp nhận sự ghi nhận rộng hơn về các kỹ thuật làm giảm rủi ro tín dụng, kể cả cầm cố, bảo đảm, và các phái sinh tín dụng, và tính giá trị ròng.

    Vật cầm cố: Định nghĩa về tài sản cầm cố hợp lệ rộng hơn định nghĩa trong Hiệp ước năm 1988, có thể bao gồm: tiền mặt; một số loại chứng khoán nợ do các quốc gia phát hành, các tổ chức thuộc khu vực công, ngân hàng, các công ty chứng khoán, và các công ty cổ phần phát hành; các chứng khoán vốn được giao dịch trên các thị trường chính thống; các cổ phần của các quỹ hỗ tương, vàng. Để cầm cố, cần thiết phải tính đến thay đổi thời gian của giá trị cũng như khả năng bị rủi ro của vật cầm cố. “Mức vay thế chấp” xác định tài sản cầm cố bổ sung cần thiết đối với khả năng bị rủi ro để đảm bảo việc bảo vệ rủi ro tín dụng một cách hiệu quả, căn cứ vào các khoảng thời gian cần thiết để điều chỉnh lại mức độ cầm cố (cầm cố bổ sung), ghi nhận thất bại của đối tác trong việc thanh toán hoặc giao lợi nhuận và khả năng thanh lý vật thế chấp của ngân hàng.

    Tài sản đảm bảo và các phái sinh tín dụng: Đối với một ngân hàng, để đạt được bất kỳ sự trợ giúp về vốn nào đó từ việc nhận các sản phẩm phái sinh tín dụng hoặc vật bảo đảm, việc bảo đảm tín dụng phải là trực tiếp, rõ ràng, không thể hủy ngang và không có điều kiện. Các ngân hàng chỉ chịu thiệt hại trong các giao dịch được đảm bảo khi có sự vỡ nợ của cả người mắc nợ và người bảo đảm.

    – Khả năng kết thành danh mục

    Một mở rộng khác của Hiệp ước mới là yêu cầu vốn tối thiểu không chỉ phụ thuộc vào tính chất của khả năng bị rủi ro của cá nhân mà còn phụ thuộc vào “rủi ro tập trung” của danh mục cho vay của ngân hàng. Sự tập trung chỉ rõ những quy mô lớn về khả năng bị rủi ro đối với những người đi vay đơn lẻ, hoặc các nhóm những người đi vay có quan hệ chặt chẽ với nhau, về mặt tiềm năng gây ra thiệt hại lớn. Hiệp ước này đưa ra một chỉ tiêu đo lường tính kết thành danh mục (granularity) và gắn nhân tố rủi ro này vào phương pháp IRB bằng cách điều chỉnh vốn giám sát chuẩn được áp dụng cho mọi khả năng bị rủi ro, ngoại trừ những khả năng trong danh mục bán lẻ.

    – Các rủi ro cụ thể khác

    Hiệp ước mới nhắm vào các loại rủi ro khác nhau: chứng khoán hóa tài sản, tài chính dự án, khả năng bị rủi ro của vốn cổ phần.

    · Hiệp ước này xem việc chứng khoán hóa tài sản cần phải xử lý nghiêm khắc hơn.
    · Nó cũng đặt ra một nguyên tắc “clean break” theo đó việc bán tài sản miễn truy đòi nên là không mơ hồ, giới hạn sự cám dỗ của các ngân hàng đối với việc hỗ trợ các cơ cấu được tài trợ vì động cơ danh tiếng (rủi ro danh tiếng).
    · Các vấn đề chứng khoán khác hóa liên quan đến rủi ro hoạt động. Sự chứng khoán hoá quay vòng có đặc điểm trừ dần trong giai đoạn đầu, hoặc các dòng thanh khoản được cung cấp cho các sản phẩm phái sinh
    · Hiệp ước này cũng đặt ra các phương pháp nhạy cảm với rủi ro cho các vị thế vốn CP được nắm giữ trong sổ sách của ngân hàng. Mục đích là cứu vãn khả năng các ngân hàng có thể hưởng lợi từ một tỷ lệ vốn quy định thấp hơn khi họ nắm giữ vốn cổ phần hơn là nợ.
    – Rủi ro lãi suất

    Hiệp ước này cho rằng sẽ phù hợp hơn nếu xử lý rủi ro lãi suất trong sổ sách ngân hàng theo Trụ cột 2, hơn là xác định các yêu cầu vốn. Việc này hàm ý không có gánh nặng về vốn, nhưng sẽ có một quy trình giám sát nâng cao. Hướng dẫn về rủi ro lãi suất xem hệ thống nội bộ ngân hàng là công cụ chính cho việc đo lường rủi ro lãi suất trong sổ sách ngân hàng và phản ứng của hoạt động giám sát. Để tạo điều kiện cho việc điều hành rủi ro lãi suất của các chuyên gia giám sát của các định chế, các ngân hàng nên đưa ra kết quả từ hệ thống đánh giá nội bộ của mình thông qua việc sử dụng các biến động lãi suất được chuẩn hóa. Nếu các chuyên gia giám sát xác định rằng ngân hàng đang không nắm giữ mức vốn tương xứng với mức độ rủi ro lãi suất, họ có thể đòi hỏi ngân hàng giảm rủi ro hoặc gia tăng lượng vốn nắm giữ hoặc cả hai.

    – Rủi ro hoạt động

    Hiệp ước mới nêu ra một định nghĩa chuẩn về rủi ro hoạt động: “là loại rủi ro xảy ra tổn thất do các qui trình, hệ thống hay nhân viên trong nội bộ ngân hàng vận hành không tốt hoặc do các nguyên nhân khách quan bên ngoài”.

    Đây là căn cứ đầu tiên trong việc phát triển tỷ lệ vốn quy định tối thiểu, ước tính rủi ro hoạt động ở mức 20% vốn điều lệ tối thiểu như được đo lường theo Hiệp ước 1988. Hiệp ước mới đề nghị một loạt gồm 3 phương pháp đo lường mức vốn tối thiểu căn cứ vào rủi ro hoạt động là: chỉ số cơ bản; tiêu chuẩn; đo lường nội bộ.

    2.2. Trụ cột 2: Quy trình đánh giá hoạt động thanh tra, giám sát…
    http://www.gata.vn/blog/thaihien12121981/detail/hiep-uoc-basel-moi-va-van-de-kiem-soat-rui-ro-trong-cac-nhtm/1116

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s