KT – 746 – 050812 – Có bao nhiêu doanh nghiệp đã phá sản?

Chí Hải 

Theo:thitruongtaichanh

(Lời bình): – Bài này thì theo Tổng Cục Thống Kê, cơ quan nhà nước phải thổi phồng, phải chém gió để con số phá sản và khó khăn chỉ là 8.4% (họ chỉ làm thống kê được với những DN còn mở cửa và hấp hối, chứ DN bỏ của chạy lấy người thì họ có phỏng vấn làm thống kê được đâu, điều này cho thấy con số thống kê này sai lệch quá nhiều với thực tế. Bài viết này KT – 745 – 050812 – DN chết không dám “bố cáo” vì sợ ngân hàng siết nợ cho thấy 64% phá sản hay ngưng hoạt động. Tôi nghĩ bạn đọc ở VN, nhìn chung quanh mình cũng biết là 8.4% phá sản và ngưng hoạt động là không chính xác. Tôi không bao giờ tin vào thống kê của CS, chỉ dùng để tham khảo thôi vì TC Thống Kê VN không thật sự độc lập như Úc, nhưng họ bị chỉ đạo bởi lũ gian dối CS.

Cong lưng ra để bảo vệ 3 Dũng cứ ngỡ rằng “còn đảng còn mình”, ai dè 3 Dũng làm “mất đảng mất mình” luôn. Ngày đó sẽ xẩy ra trong năm 2012 này đây, ko lâu đâu, doanh nghiệp phá sản và họ biết (qua đọc bài trang này) là suy thoái sẽ là 7 năm thì 90 triệu dân sẽ hành động, Cựu chiến binh đã kêu gọi dân oan biểu tình rồi đấy, có dám đàn áp cựu chiến binh hay không ???
CP hậu CS của Chau Xuan Nguyễn sẽ không có chuyện học tập cải tạo, đó là lời hứa của tôi và Nhóm Vì Dân với Bộ Đội và cán bộ.
ĐCS không sụp nhanh năm nay mới là lạ.
Nếu người VN may mắn, đuổi được bọn cai trị và đô hộ khỏi VN thì những nhà cửa mà chúng bỏ của chạy lấy người còn rẻ nữa

Khi CP Hậu CS tiếp thu, một sự dân chủ, công bằng và minh bạch, trung thực sẽ đem lại lòng tin cho 90 triệu dân VN cùng thế giới tự do. Từ đó, 1 hay 2 năm sau thì kinh tế sẽ trỗi dậy và giá BĐS sẽ cao gấp mấy lần bây giờ vì tất cả VKHN đều muốn về VN sống và phục vụ.

Hiện giờ chỉ có dân đen là chịu khổ thôi, còn tư bản đỏ và cánh hẩu, vây cánh của chúng nó vẫn sung sướng.
Châu Xuân Nguyễn

Melbourne
08.05.2012

———————————————————————————–

http://thitruongtaichinh.vn/index.php?r=public/index&news_id=24715

Có bao nhiêu doanh nghiệp đã phá sản?

Thứ Hai, 07/05/2012, 09:16 GMT+7 Bản in Email

(ThiTruongTaiChinh) – Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, tính đến cuối tháng 4, cơ quan điều tra đã thu được 8.373 phiếu gồm 319 DN nhà nước, 7.343 DN ngoài nhà nước và 711 DN có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong 8.373 số DN, số thực tế còn hoạt động chiếm 91,6%; số DN phá sản, giải thể và DN ngừng sản xuất kinh doanh, đang hoàn thành thủ tục phá sản, giải thể chiếm 8,4%.

Tổng cục Thống kê cho biết, cuộc điều tra thu thập thông tin phản ánh thực trạng về sản xuất, khó khăn liên quan sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của khu vực doanh nghiệp.

Đối tượng điều tra gồm 10.120 doanh nghiệp thuộc các loại hình sở hữu, trong đó 139 doanh nghiệp nhà nước (chiếm 9,5% trong tổng số doanh nghiệp nhà nước); 9.048 doanh nghiệp ngoài nhà nước (chiếm 3,0% trong tổng số doanh nghiệp ngoài nhà nước) và 753 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (chiếm 9,5% trong tổng số doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài).

Cuộc điều tra được thực hiện ngẫu nhiên, phân bổ đều theo quy mô lao động, đại diện cho toàn quốc, cho các ngành kinh tế (nông, lâm và thủy sản; xây dựng, bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tôt, xe máy và xe có động cơ khác; vận tải kho bãi; dịch vụ lưu trú và ăn uống; thông tin và truyền thông) và cho 3 loại hình sở hữu của doanh nghiệp.

Sau gần một tháng triển khai, tính đến cuối tháng 4/2012 cơ quan điều tra đã thu được 8.373 phiếu gồm 319 doanh nghiệp nhà nước, 7.343 doanh nghiệp ngoài nhà nước và 711 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).

Trong số 8.373 doanh nghiệp cho thấy, số doanh nghiệp còn hoạt động chiếm 91,6%; số doanh nghiệp phá sản, giải thể và doanh nghiệp ngừng sản xuất kinh doanh, đang hoàn thành thủ tục phá sản, giải thể chiếm 8,4%.

Doanh nghiệp ngoài nhà nước phá sản, giải thể chiếm tỷ lệ cao nhất với 9,2%; tiếp đến là khu vực doanh nghiệp nhà nước với 2,7% và thấp nhất là khu vực doanh nghiệp có vốn FDI với 2,6%.

Theo như số liệu được công bố thì đồng bằng sông Cửu Long là vùng có tỷ lệ doanh nghiệp phá sản, giải thể cao nhất cả nước với 13,6%; thứ nhì là khu vực Tây Nguyên với 9,9%; Đông Nam Bộ 8,8%; Bắc Trung bộ và Duyên hải miền Trung 8,2%; trung du và miền núi phía Bắc 7,2% và thấp nhất là vùng đồng bằng sông Hồng 6%.

Trong tổng số 706 doanh nghiệp (8,4%) phá sản, giải thể thuộc diện điều tra có đến 69,4% doanh nghiệp phản ánh nguyên nhân phá sản, giải thể là do sản xuất kinhh doanh thu lỗ; 28,4% doanh nghiệp thiếu vốn để sản xuất kinhh doanh; 15,1% doanh nghiệp không tiêu thụ được sản phẩm; 11,7% doanh nghiệp khó khăn về địa điểm sản xuất kinhh doanh; 4,4% doanh nghiệp phải đóng cửa để thành lập doanh nghiệp mới, chuyển đổi ngành nghề sản xuất và 4,7% doanh nghiệp đóng cửa để sáp nhập với doanh nghiệp khác.

Trong số các doanh nghiệp bị phá sản, giải thể có đến 89,7% doanh nghiệp phản ánh họ sẽ không tiếp tục thành lập doanh nghiệp mới; 10,3% doanh nghiệp dự kiến sẽ tiếp tục thành lập doanh nghiệp mới.

Trong số doanh nghiệp phá sản, giải thể sẽ thành lập mới thì có 35,5% trả lời sẽ thành lập mới ngay trong năm 2012; 25,8% sẽ thành lập mới trong năm 2013; 16,2% sẽ thành lập mới trong năm 2014 và 22,5% sẽ thành lập mới sau năm 2014.

Dư thừa lao động

Theo điều tra, khu vực doanh nghiệp nhà nước có số doanh nghiệp dư thừa lao động cao nhất với 13,8%, tiếp đến là khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước với 8,2%, doanh nghiệp FDI chỉ có 3,9% số doanh nghiệp đang dư thừa lao động.

Doanh nghiệp thuộc lĩnh vực thương mại và dịch vụ (gồm 4 ngành: bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy; vận tải, kho bãi; dịch vụ lưu trú và ăn uống; thông tin và truyền thông) có 7,1% số doanh nghiệp đang dư thừa lao động.

Doanh nghiệp thuộc lĩnh vực nông, lâm, thuỷ sản có 7,6% số doanh nghiệp đang dư thừa lao động. Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, ngành xây dựng có số doanh nghiệp dư thừa lao động là 13,5% và ngành khai khoáng là 13,2%.
Tình trạng dư thừa lao động của các doanh nghiệp phía Bắc cao hơn phía Nam, trong đó khu vực Đồng bằng sông Hồng đang có tỷ lệ doanh nghiệp dư thừa lao động cao nhất với 10,3%

Tổng cục Thống kê cho biết, 54,8% số doanh nghiệp đang dư thừa lao động. Nguyên nhân là do doanh nghiệp gặp khó khăn nên phải thu hẹp sản xuất, kinh doanh. Trong khi đó, trái ngược với xu hướng thừa lao động, có tới gần 12% số doanh nghiệp vẫn đang thiếu người.

Theo kết quả điều tra có 6 yếu tố cản trở lớn nhất. Trong đó, lãi suất vay vốn quá cao là yếu tố cản trở hàng đầu (chiếm 27,5%); lạm phát cao và biến động thất thường là cản trở thứ hai (19,2%); tiếp đến là khó khăn tiếp cận vốn vay (17,5%).

Ngoài ra, còn một số cản trở nữa như chi phí vận tải cao, điện cung cấp không ổn định, chính sách điều hành kinh tế không ổn định.

Theo Tổng cục Thống kê, mong muốn lớn nhất của các doanh nghiệp là Nhà nước có chính sách hỗ trợ lãi suất vay vốn, cải tiến và tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận vốn thuận lợi hơn, tập trung nguồn vốn và hỗ trợ lãi suất vay vốn cho khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, ổn định giá điện và cải thiện cơ sở hạ tầng.

Chí Hải

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s