Tâm sự một tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa về ngày 30/4

 

Tiếp tục loạt bài xoay quanh ngày 30 tháng Tư, Câu chuyện Việt Nam do Hoài Hương phụ trách tuần này xin gửi đến quý vị quan điểm của một cựu tướng lãnh Việt nam Cộng hòa về chiến tranh Việt Nam. Trung Tướng Lâm Quang Thi, cựu Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam, cựu Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ Binh và Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Quân đoàn 1 tại Huế, chia sẻ những ký ức và cảm xúc của ông trên chuyến tàu định mệnh, đã đưa ông ra khỏi quê hương vào đúng ngày 30 tháng Tư năm 1975.

Hoài Hương – VOA

Tướng Lâm Quang Thi là tác giả tác giả một số sách Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam, kể cả cuốn “The twenty-five year century: A South Vietnamese general remembers the Indochina War to the fall of

Tướng Lâm Quang Thi là tác giả tác giả một số sách Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam, kể cả cuốn “The twenty-five year century: A South Vietnamese general remembers the Indochina War to the fall of Saigon”và cuốn “Hell in An Lộc: The 1972 Easter Invasion and the Battle That Saved South Viet Nam”, xuất bản hồi năm ngoái.

Tướng Lâm Quang Thi: “Tiếc thay người Mỹ không có cái gan để đi ra Bắc, tiêu diệt ý chí chiến đấu của Hà Nội mà cũng không có sự kiên nhẫn để yểm trợ miền Nam trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống cộng sản.”

Tướng Lâm Quang Thi là tác giả một số sách Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam. Ban Việt ngữ-VOA tiếp xúc với Tướng Lâm Quang Thi, vài ngày trước lễ mừng sinh nhật thứ 80 của ông.

VOA: Thưa trước hết xin Trung Tướng cho biết ông có suy nghĩ gì về ngày 30 tháng Tư, 37 năm sau khi Sài Gòn thất thủ?

Tướng Lâm Quang Thi: “Mỗi lần 30 tháng Tư tới thì tôi lại vừa buồn vừa tức giận. Buồn vì bao nhiêu đồng bào mình phải bỏ nước ra đi, một số chết trên biển cả, và một số anh em chiến hữu của tôi thì bị Cộng sản nó bắt, tra tấn, đày đọa trong các trại tù ở Bắc Việt. Và tôi tức giận là bởi vì đồng minh của mình nó bỏ rơi mình trong những giờ phút đen tối nhất của lịch sử nước nhà.”

VOA: Thưa, như Trung Tướng nói, biết bao thảm họa đã xảy đến cho quân và dân miền Nam sau biến cố 30 tháng Tư, thì trong tư cách một tướng lãnh, Trung Tướng có cảm thấy mình có trách nhiệm nhiều hơn so với những người khác về những gì đã xảy ra?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi không phải là một chánh trị gia, nhưng với tư cách một tướng lãnh đã cầm quân, tôi thấy mình có phần nào trách nhiệm cũng như tất cả các tướng lãnh khác, các chỉ huy trưởng các đại đơn vị khác cũng phải có trách nhiệm phần nào về sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam.”

VOA: Thưa Trung tướng, là tác giả cuốn Autopsy: The Death of South Vietnam, phân tích sự cáo chung của miền Nam Việt Nam, xin Trung Tướng tóm tắt cho thính giả của đài chúng tôi một số nguyên do chính dẫn tới sự sụp đổ của chính phủ Sàigòn?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi thấy rằng sự sụp đổ của miền Nam Việt Nam có 2 lý do chánh. Thứ nhất là người Mỹ họ không có một nhiệm vụ rõ ràng ấn định cho quân lực của họ, tức là cái “mission” không được định nghĩa rõ ràng. Theo tôi nghĩ, người Mỹ chỉ có 2 sự lựa chọn: thứ nhất là đi ra Bắc, tiêu diệt ý chí chiến đấu của Hà nội; hoặc là ở trong Nam thì phải có đủ kiên nhẫn để ủng hộ và yểm trợ một chánh phủ miền Nam Việt Nam trong cuộc kháng chiến chiến đấu trường kỳ ở miền Nam. Nhưng mà tiếc thay người Mỹ không có cái gan để đi ra Bắc, mà lại không có sự kiên nhẫn để ở lại trong Nam. Đó là cái lý do thứ nhất. Thứ nhì là cơ quan truyền thông của Mỹ rất thiên vị, có thể nói là thiên tả, thành thử ra tất cả những gì xảy ra đều có thể bị bóp méo để chứng minh rằng cuộc chiến tranh Việt Nam không thể nào thắng bởi vì quân đội Việt Nam chiến đấu kém và tham nhũng. Cái đó là tiền đề của truyền thông Mỹ, thành thử ra tất cả những sự kiện xảy ra mà đúng vào tiền đề đó thì họ dùng. Còn nếu không đúng thì họ có thể bóp méo để chứng minh tiền đề là chiến tranh Việt Nam không thể thắng được. Chẳng hạn như Tết Mậu Thân, Việt Cộng sát hại 5, 6 ngàn người dân vô tội ở Huế mà truyền thông Mỹ không nói tới. Trong lúc đó ông Thiếu Tướng Nguyễn Ngọc Loan ông ấy hành quyết một tên đặc công cộng sản thì nó đưa lên, được Giải Pulitzer đủ thứ trò, mà họ không nói rằng anh cộng sản đó đã tàn sát bao nhiêu gia đình cảnh sát của Tướng Loan ở Chợ Lớn.”

VOA: Thưa ông, ngoài vai trò của giới truyền thông phản chiến Mỹ, ngoài vai trò của người Mỹ mà Trung Tướng cho là không định nghĩa rõ ràng cái “mission”, thì thưa Trung Tướng, cái trách nhiệm của chính phủ Việt nam Cộng hòa nằm ở chỗ nào trong sự thất bại của miền Nam?

Tướng Lâm Quang Thi: “Thành thật mà nói rằng tất cả vấn đề viện trợ quân sự cũng như là tài chánh đều do người Mỹ cung cấp. Nếu họ rút tất cả những viện trợ đó thì chúng ta không còn khả năng để chiến đấu, chẳng hạn như trong trận chiến An Lộc năm 1972, không có quân đội Mỹ nào dưới đất mà mình chỉ có sự yểm trợ bằng không lực của Hoa Kỳ mà Sư đoàn 5 bộ binh của chúng ta đã chiến đấu và đã chiến thắng 3 sư đoàn Bắc Việt. Tôi tin chắc rằng nếu tiếp tục có được sự viện trợ hỏa lực của Mỹ thì quân lực Việt nam Cộng hòa sẽ đánh bại những đơn vị thiện chiến nhất của Bắc Việt. Tới năm 1974-75 thì viện trợ Mỹ đã rút xuống chỉ còn 700 triệu đôla mà trong 700 triệu đôla đó, 400 triệu đôla được dùng để phát lương cho nhân viên Tùy viên Quân lực Hoa Kỳ -DAO (Deputy Attaché Office), mình còn có 300 triệu đôla để đánh giặc trong một năm. Trong lúc đó, Do thái trong trận Yom Kippur năm 1973, Do Thái nhận viện trợ được 2 tỉ mốt mỹ kim để đánh giặc trong 3 tuần lễ! Thành thử ra lúc đó miền Nam đạn dược, súng trường cũng thiếu, lựu đạn cũng thiếu nữa, thì làm sao mà đánh giặc được! Mình không có cách nào có thể đương đầu được với một quân đội Bắc Việt được Nga Sô và Trung Cộng viện trợ ào ạt từ năm 1974 tới 1975. ”

VOA: Vậy giới lãnh đạo chính trị của miền Nam có lệ thuộc quá đáng vào viện trợ Mỹ mà không tự lực cánh sinh được?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tự lực cánh sinh, theo tôi cũng khó khăn là bởi vì trong lúc cộng sản Hà nội được sự viện trợ ào ạt của Nga Xô và Trung Cộng thì miền Nam Việt Nam chúng ta cần có một sự viện trợ của thế giới tự do mới có thể đương đầu được.”

VOA: Xin phép được hỏi một câu hơi có tính cách cá nhân. Thưa, được phong hàm Tướng từ thời còn rất trẻ, cuộc đời của Trung Tướng gắn liền với Quân lực Việt nam Cộng hòa, Trung Tướng có kỷ niệm nào muốn chia sẻ với Đài VOA về cuộc đời binh nghiệp của mình?

Tướng Lâm Quang Thi
: “Tôi cho rằng nhiệm vụ quan trọng nhất của tôi không phải là cầm quân mà thực sự tôi được chỉ định làm Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Lúc bấy giờ chương trình tăng lên từ 2 năm tới 4 năm và tôi đã tranh đấu hết sức để các sĩ quan tốt nghiệp Trường Võ Bị Quốc Gia được hưởng bằng cấp Cử nhân Khoa học Ứng dụng, tương đương với Trường Võ Bị West Point của Hoa Kỳ. Đó là cái niềm hãnh diện nhất của tôi trong cuộc đời binh nghiệp”

VOA: Thưa Trung Tướng, Hoài Hương xin lỗi trước nếu câu hỏi này có gợi lại cho Trung Tướng những điều đau lòng, nhưng Hoài Hương có đọc một bài viết của Andrew Lâm kể lại cảnh Trung Tướng đã vất khẩu súng riêng trên chuyến tàu lúc bỏ nước ra đi, thành ra có lẽ nhiều độc giả cũng có thắc mắc như Hoài Hương, không biết lúc đó Trung Tướng nghĩ gì và có những cảm xúc như thế nào?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi rời Việt Nam ngày 30 tháng Tư trên chiếc tàu Hải Quân 2, và khi đoàn của Hải quân Việt Nam đến Phi Luật Tân thì chính phủ Phi Luật Tân không muốn thấy một Hải quân ngoại quốc tiến vào hải cảng của họ, cho nên Hải quân Việt Nam phải chuyển tất cả tàu bè lại cho Mỹ, và các sĩ quan trên tàu cũng phải mặc thường phục, trong khi tất cả những vũ khí trên tàu phải bỏ hết, thành thử tôi cũng phải tuân theo điều lệ đó. Tôi bỏ khẩu súng lục của tôi xuống biển Thái bình dương, tôi rất là, hết sức là đau lòng. Tới bây giờ mỗi lần nghĩ tới cái…cảnh đó, tôi vẫn còn thấy đau, nhất là khi mà quốc kỳ Việt Nam phải kéo xuống để kéo lá cờ Mỹ lên trước khi vào hải cảng Subic Bay của Phi Luật Tân. Thành ra cái đó là một cái kỷ niệm hết sức đau đớn đối với tôi, và tôi nghĩ cũng đau đớn đối với tất cả các tướng lãnh và các sĩ quan khác.”

VOA: Xin cám ơn Trung Tướng đã chia sẻ với thính giả của VOA những cảm xúc của mình lúc rời bỏ đất nước ra đi, thưa Trung Tướng, người tỵ nạn Việt Nam, dù lưu lạc tới nước nào cũng phải bắt đầu lại cuộc đời từ con số không, được biết Trung Tướng đã đi học lại để lấy bằng MBA ở Hoa Kỳ, vậy xin Trung Tướng kể lại những kinh nghiệm của ông trong thời gian đầu của cuộc đời tỵ nạn, và động lực nào đã thúc đẩy ông không ngừng phấn đấu?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi qua đây cũng nhờ hệ thống của Trường Võ Bị West Point bởi vì giữa Trường Võ Bị Việt Nam và Trường West Point có những liên hệ hết sức là gắn bó. Chính ông Chỉ huy trưởng Trường West Point, cũng là bạn của tôi ở Việt Nam, ông đã tìm cách để cho tôi có một địa vị xứng đáng trong hệ thống ngân hàng của nước Mỹ, và vì tôi có một địa vị tốt ở Mỹ, tôi phải đi học nên tôi tiếp tục học và lấy được bằng MBA. Tôi đã làm việc hết sức chăm chỉ và có thể nói là thành công trong cuộc đời của tôi bên Mỹ.”

VOA: Thưa Trung Tướng, vào tuổi này, ông có hoài bão gì cho tương lai?

Tướng Lâm Quang Thi: “Tôi tin tưởng rằng thế nào cũng có ngày chúng ta có dịp trở lại thăm viếng một nước Việt Nam độc lập, tự do và không cộng sản. Đó là cái hoài bão cuối cùng của tôi và tôi tin chắc thế nào cũng thực hiện được.”

Thưa quý vị, vừa rồi là cuộc phỏng vấn với Trung Tướng Lâm Quang Thi, cựu Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị Quốc gia Việt Nam ở Đà Lạt, từng là Tư lệnh Sư đoàn 9 Bộ Binh ở Sa Đéc và Tư Lệnh Bộ Chỉ Huy Tiền Phương Quân đoàn 1 tại Huế. Tướng Lâm Quang Thi cư ngụ ở bang California và là tác giả một số sách Anh ngữ nói về chiến tranh Việt Nam, kể cả cuốn The twenty-five year century: A South Vietnamese general remembers the Indochina War to the fall of Saigon và cuốn Hell in An Lộc: The 1972 Easter Invasion and the Battle That Saved South Viet Nam, xuất bản hồi năm ngoá

10 comments on “Tâm sự một tướng lãnh Việt Nam Cộng hòa về ngày 30/4

  1. Cùng chung một nỗi đau nên chúng ta thông cảm cho nhau.Nhưng…nghĩ tới vẫn thấy một sự ấm ức vô cùng. Tại sao ta lại lệ thuộc Mỹ quá như vậy trong khi vẫn còn đó 16 tấn vàng năm trong ngân khố quốc gia. Tại sao không dùng vào việc mua vũ khí, chỉnh đốn lại hàng ngũ để bảo vệ quốc gia mà lại để dành đó cho bọn cướp vào chia chác với nhau? Quân đội VNCH không hề là 1 quân đội hèn nhát, biết bao nhiêu người lính can trường và dũng mãnh vậy mà đành buông súng. Tại sao???

    • Khi CS giựt mìn, đặt bom vào trạm biến điện thì không ngành nghề nào sống sót nổi, tôm đông lạnh bị mất điện, xe tãi bị giựt mìn hay đấp mô thì làm sao chở tới càng được ???
      Thân ái,
      Chau Xuan Nguyen

      • Hoàn toàn đồng quan điểm với anh Châu!Vì bọn VC chuyên gia về”khủng bố”kiểu này!Nó là bọn “phá hoại”để đạt mọi ý đồ của chúng!

    • Trên lý tuyết 16 tấn vàng đó đem bán để mua vũ khí thì có thêm hy vọng cầm cự với Bắc Việt nhưng KHÔNG CÓ QUỐC GIA nào dám bán vũ khí cho VNCH.Đây là điểm mấu chốt của vấn đề,và vũ khí thay vì nhanh chóng chuyển đến miền Nam thì lại nhùng nhằng dây dưa để cuối cùng khi miền Nam thất thủ lại được đưa đến Do Thái.Cái hiệp định Ba Lê là dấu chấm hết cho hy vọng của miền Nam,đau lòng lắm.Nhưng xét kỹ thì VNCH chỉ là quân cờ,binh hùng tướng mạnh ko thiếu thế mà phải chịu trói tay,thật ai oán


  2. http://trangroup-usa.org/articles/list/Gioi-thieu/1/

    TÔI HÒAN TÒAN đồng ý với bác DaoUu

    Ông mất đi nhưng tên ông và hành động yêu đồng hương yêu nước của Ông còn sống mãi!
    Tỉ phú gốc Việt Trần Ðình Trường qua đời
    Tuesday, May 08, 2012

    KÍNH CHÚC Hương hồn Ông Trần Ðình Trường yên nghỉ vĩnh hằng trong hai Quê Hương Việt Nam & Hoa Kỳ ……….

    Riêng chiếc tàu Trường Xuân với thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đã chở gần 4.000 người thuyền nhân vượt biển, trong đó có nhạc sĩ Lam Phương sau này đã sáng tác bài hát Con tàu định mệnh để ghi nhớ sự kiện này.

    TẬP ĐOÀN QUẢN TRỊ TRẦN

    LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

    Người khởi nghiệp tạo dựng cho sự hình thành và phát triển của “Tập đoàn quản trị Trần” là ông Trần Đình Trường, ông sinh năm 1932 tại huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh, một doanh nhân thành đạt tại Hoa Kỳ, là chủ nhân nhiều khách sạn tại New York và được coi là một trong những người Việt giàu nhất thế giới với tài sản hơn 1 tỷ USD.

    Trước năm 1975 tại Sài Gòn, ông Trường hoạt động trong nghề vận tải đường biển và là chủ nhân những chiếc tàu Trường Xuân, Trường Thanh, Bông Hồng 9, Sao Mai, Patrick, Trường Vinh, Trường Hải và tàu Trường Sinh.

    Ông rời Sài Gòn vào cuối tháng 4 năm 1975. Trong sự kiện 30 tháng 4, ông cho phép trưng dụng miễn phí những chiếc tàu của ông để chuyên chở người tị nạn và chở được hơn 8.500 thuyền nhân vượt biển. Riêng chiếc tàu Trường Xuân với thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đã chở gần 4.000 người thuyền nhân vượt biển, trong đó có nhạc sĩ Lam Phương sau này đã sáng tác bài hát Con tàu định mệnh để ghi nhớ sự kiện này.

    Ông bắt đầu công việc kinh doanh khách sạn ở thành phố New York từ khách sạn Opera và khách sạn Carter (gần Quảng trường Thời đại (New York)) ở Manhattan và khách sạn Lafayette ở Buffalo, New York.

    Ngoài ra, ông còn là một mạnh thường quân và tích cực trong những sinh hoạt cộng đồng người Việt tại Mỹ. Như theo lời kể của ông Nguyễn Văn Tánh, chủ tịch cộng đồng Việt tại tiểu bang New York : “Ông Trường đã giúp đỡ cho cộng đồng Việt Nam không chỉ bằng tiền bạc, vật chất mà còn bằng tấm lòng, với tinh thần tận tụy hiếm có. Trong những dịp cộng đồng Việt về New York sinh hoạt, các anh chị em được mời đón đến ở miễn phí tại khách sạn của ông.

    Trong sự kiện khủng bố 11 tháng 9 năm 2001 tại New York, ông đã tặng quỹ cứu trợ nạn nhân 2 triệu USD. Trong nạn đói năm 1984 tại Ethiopia, ông cũng mua tặng các tổ chức cứu trợ nạn đói ở Ethiopia 2 máy bay trực thăng.

    Trong tháng 5 năm 2004, ông đã được trao Giải Đuốc Vàng ở Washington DC, giải thưởng vinh danh của cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại Mỹ. Ông cũng nằm trong Hội đồng quản trị của United Way of New York City.


    MÙA THÁNG TƯ ĐEN: Con Tàu Định Mệnh (Lam Phương)

    Là anh cả trong một gia đình có đông anh chị em, ông Trường đã tạo dựng được cơ ngơi nền tảng cho các thế hệ sau tiếp bước. Các con và cháu của ông Trần Đình Trường hiện nay đang cai quản và phát triển hệ thống các Khách sạn, cửa hàng dịch vụ.. tại một số Bang miền đông nước Mỹ.

    Ngày nay, Tập đoàn quản trị Trần đang quản lý và cho thuê hệ thống các khách sạn như Quality Inn Downtown, Best Western (Baltimore), Lafayette Buffalo NY, đang xây dựng khách sạn Crown ở Baltimore 250 phòng, đang xúc tiến xây dựng khách sạn 200 phòng trên đường Market ở Philadenphia

    Tập đoàn quản trị Trần đang chủ trương đầu tư về Việt Nam bằng các hoạt động liên doanh liên kết xây dựng các khách sạn, resort, khu nghỉ dưỡng cao cấp.

    Riêng chiếc tàu Trường Xuân với thuyền trưởng Phạm Ngọc Lũy đã chở gần 4.000 người thuyền nhân vượt biển, trong đó có nhạc sĩ Lam Phương sau này đã sáng tác bài hát Con tàu định mệnh để ghi nhớ sự kiện này.


    Tỉ phú gốc Việt Trần Ðình Trường qua đời
    Tuesday, May 08, 2012

    Hà Giang & Ðỗ Dzũng/Người Việt

    NEW YORK – Ông Trần Ðình Trường, một tỉ phú sở hữu nhiều khách sạn ở New York, vừa qua đời hôm Thứ Hai, 6 Tháng Năm, hưởng thọ 80 tuổi.

    Ông Trần Ðình Trường (phải) được Bác Sĩ Nguyễn Xuân Ngãi trao giải thưởng tại VANG Gala 2004 tại Washington, DC. (Hình: Vietnamese American National Gala)

    Trả lời nhật báo Người Việt qua email, bà Trương Sang, phu nhân người quá cố, viết: “Mấy hôm nay tôi thật bối rối. Bây giờ không có đầu óc nào để nói về anh hết, vì cuộc đời của anh, nếu mà nói, thì chắc phải nói đến đời cháu, đời chắt mới xong.”

    Ông Lộc Huỳnh, phó chủ tịch ngân hàng Saigon National Bank, Westminster, mà ông Trần Ðình Trường là cổ đông sáng lập, rất xúc động khi hay tin ông Trường qua đời.

    “Rất xúc động khi biết tin ông qua đời, mặc dù biết ông bị bệnh mấy năm nay. Ông là một trong những người đầu tiên tôi mời góp vốn mở Saigon National Bank. Ông rất nhiệt tình, giúp nạn nhân vụ khủng bố 9-11, vụ bão Katrina. Tôi rất khâm phục ông, và nhờ tiếng tăm của ông, nhiều người mạnh dạn đầu tư vào ngân hàng.”

    Ông Nguyễn Văn Tánh, chủ tịch Cộng Ðồng Người Việt Quốc Gia Hoa Kỳ, một người thân cận với người quá cố trong 20 năm qua, cũng xác nhận ông Trường qua đời, và có đăng phân ưu.

    Ông Tánh kể với nhật báo Người Việt: “Khoảng 7 giờ 45 phút tối Thứ Hai, tự nhiên có một phụ nữ để lời nhắn cho tôi biết ông Trường qua đời. Thế là tôi gọi đến người thân của ông để hỏi, nhưng không được. Sau đó, một bà vợ của ông tên Hoa gọi cho xác nhận ông qua đời, và cho biết trước đó ông vẫn tỉnh táo, nói chuyện vui vẻ.”

    Ông Tánh cho biết ông Trường bị đột quỵ, nằm một chỗ mấy năm nay, và ông “rất sửng sốt khi biết sự ra đi đột ngột của ông Trường và đây là một mất mát lớn cho cộng đồng Việt Nam tại Hoa Kỳ.”

    Rồi ông kể tiếp: “Cách đây hai tuần, tôi có ghé thăm ông, và thấy ông nói chuyện bình thường.”

    Ông Trường sở hữu hệ thống khách sạn Carter ở New York và là một mạnh thường quân lâu năm của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, ông Tánh cho biết.

    Theo trang web http://www.trangroup-usa.com của Tran Group Management, LLC, do ông làm chủ, sau vụ khủng bố ngày 11 Tháng Chín, 2001, ông Trường ủng hộ $2 triệu vào Hội Hồng Thập Tự Hoa Kỳ để giúp đỡ nạn nhân. Trong nạn đói năm 1984 tại Ethiopia, ông cũng mua tặng các tổ chức cứu trợ hai máy bay trực thăng.

    Năm 2003, ông được Hiệp Hội Người Mỹ Gốc Á vinh danh vì hành động quảng đại nêu trên.

    Một năm sau, ông được Hiệp Hội Người Mỹ Gốc Việt Quốc Gia (VANG) trao giải Ðuốc Vàng.

    Ông Trường cũng là thành viên Hội Ðồng Quản Trị United Way của thành phố New York.

    Theo ông Tánh, mỗi lần tham gia diễn hành Ngày Văn Hóa Liên Hiệp Quốc hoặc biểu tình ở New York, đồng hương Việt Nam đều được ông Trường trợ giúp chỗ ăn ở tại khách sạn.

    Ông Tánh kể: “Năm 2001, khi đồng bào về New York tham dự Diễn Hành Văn Hóa Quốc Tế của Liên Hiệp Quốc, ông Trường giúp cho hàng trăm phòng khách sạn. Tự tay ông và vợ nấu nướng cho chúng tôi ăn nữa.”

    Kể từ đó, mỗi khi có diễn hành là ông Trường cho phòng, tùy theo khách đông hay ít, lên đến cả trăm phòng, ông Tánh nói.

    “Chúng tôi cứ tùy lúc, hễ thấy khách trả phòng là chúng tôi xin, để đồng hương ở,” ông Tánh kể tiếp.

    Ông Tánh cho biết, riêng diễn hành văn hóa năm nay, ông đã xin được hơn 50 phòng, và tới ngày đó, sẽ xin tiếp.

    Một kỷ niệm khó quên với ông Tánh là một lần cùng ông Trường đi giúp nạn nhân bão Katrina ở Houston, Texas.

    “Lúc đó, tôi đang ở California, nghe nói ông sẽ cho tiền Hồng Thập Tự. Tôi cự liền và nói tại sao ông không cho nạn nhân bão Katrina, trong đó có đồng bào mình. Thế là ông gọi tôi bay về New York, cùng ông bay đi Houston,” ông Tánh kể. “Trước khi lên máy bay, ông đưa tôi cầm $100,000 tiền mặt, tôi ngạc nhiên quá chừng, để tôi và ông mang đi giúp đồng bào mình.”

    Ông Trần Ðình Trường sinh năm 1932 tại huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh.

    Trước năm 1975, ông là chủ hãng tàu Vishipco Line ở Sài Gòn, bao gồm các tàu Trường Xuân, Trường Thanh, Bông Hồng 9, Sao Mai, Patrick, Trường Vinh, Trường Hải và Trường Sinh.

    Trường Xuân là tàu chở hơn 4,000 người Việt tị nạn đến bến bờ tự do, sau biến cố 30 Tháng Tư, 1975.

    Sau năm 1975, ông Trường đến Hoa Kỳ và bắt đầu kinh doanh với khách sạn đầu tiên mang tên Hotel Opera ở vùng Thượng Manhattan.

    Sau này, ông mở thêm khách sạn Carter ở vùng Trung Manhattan và Hotel Lafayette ở Buffafo, New York.

    Ngày nay, Tran Group Management, LLC đang quản trị và cho thuê hệ thống các khách sạn như Quality Inn Downtown, Best Western (Baltimore), đang xây dựng khách sạn Crown ở Baltimore, và đang xúc tiến xây dựng khách sạn 200 phòng trên đường Market ở Philadenphia.

  3. @ Nhắn anh CHÂU … Đây là TẤM GƯƠNG yêu Nước của các bậc VIỆT KIỀU CHÂN CHÍNH ….. [youtube=https://www.youtube.com/watch?v=QoWS2ZwwtIw&w=593&h=334] Chuyến đi cuối cùng của tàu Trường Xuân =============================== Phạm Ngọc Lũy (Hồi Ký Một Đời Người) Nhớ lại vào đầu tháng 10-74, Trường Xuân rời bến Tsukumi thuộc Nhật Bản. Ba, bốn trận bão liên tiếp nhau nối lên từ phía đông Phi Luật Tân lần lượt tiến vào Nam Hải. Biển động thật dữ dội. Khi tàu tiến xuống phía nam đảo Okinawa thì trung tâm trận bão cuối mùa Gloria vừa nổi lên. Bão di chuyển rất nhanh, trưa hôm sau bão có thể đuổi kịp tàu. Trường Xuân phải vào neo trú tại quần đảo Sakishima mặc dầu đáy biển nhiều san hô có thể làm đứt neo. Đại lý tàu từTokyo gửi điện tín đề nghị nên tìm nơi neo trú bão an toàn hơn. Thừa cơ hội tốc độ bão di chuyển chậm lại, tàu kéo neo, dự định chạy lên phía bắc Đài Loan vào ẩn tại bến Keelung nhưng sóng lắc ngang quá mạnh, có thể lật tàu. Tàu không còn đường nào khác là phải hướng về phía nam Đài Loan. http://www.baixan.com/chuyenhomqua/chuyen.di.cuoi.cung.cua.tau.Truong.Xuan.pdf Vải bố đậy hầm đã bị sóng xé rách. Thủy thủ phải vất và lắm mới có thể lấy nẹp ván đóng đinh ghim bố xuống nắp hầm. Tất cả vật dụng trên tàu đều bị xô đẩy đổ vỡ. Thủy thủ đương phiên phải túc trực ở vị trí đã đành, nhưng thủy thủ còn lại đều kéo lên phòng chỉ huy, ai cũng sợ không dám ở trong phòng nữa. Chúng tôi đang ở một tình thế cực kỳ nguy hiểm, bão đang tiến đến sau lưng. Tàu chồm lên ngụp xuống. Từng đợt sóng phủ kín cả con tàu, tưởng như bị nhận chìm luôn. Với tốc độ chỉ còn hai gút, Trường Xuân cách xa Đài Loan khoảng mười lăm tiếng đồng hồ nữa. Ai cũng nóng lòng mong được nhìn thấy dáng núi, nơi đất liền. Chỉ một cái rủi chân tơ kẽ tóc, chỉ một quyết định lầm lẫn, chỉ một sơ xuất nhỏ kỹ thuật… tai nạn tàu chìm có thể xảy ra bất cứ giây phút nào. Trường Xuân vào núp bão bến Kaohsiung bảy giờ sáng thì bão thổi qua eo biển Đài Loan hai giờ chìều. Chúng tôi ở xa nước lúc khói lửa ngụt trời. Trường Xuân rời Saigon ngày 11-12-74 đi Hòn Khói lấy muối, và theo giao kèo phải chạy trong vùng Đông Nam Á cho hết tháng 6-1975. Mặc dù hiệp định Paris được ký kết, tôi vẫn không tin miền Nam có thể đứng vững. Một phần vì xã hội nhiều thối nát, lãnh đạo thiếu khả năng, không tìm gây thực lực tự chính mình mà chỉ biết dựa vào người, hàng ngũ quốc gia lại chia rẽ. Bèo bọt bám quanh thân cây gỗ. Cây gỗ trườn đi, bèo bọt cũng trôi văng đi mất. Bèo bọt chỉ là thân phận bèo bọt. Người lảnh đạo thì ích kỷ, chỉ nghĩ đến quyền lợi cá nhân, gia đình hơn là nghĩ đến quyền lợi chung của Tổ Quốc. Bạn đồng minh thì muốn bỏ chạy. Phải đương đầu với Cộng Sản tinh quái, nham hiểm, miền Nam có chính nghĩa nhưng đã để mất chính nghĩa. Người yêu nước chân chính thì không có cơ hội lèo lái vận mệnh dân tộc. Tôi rời nước với muôn ngàn âu lo… Neo ở Hòn Khói hơn một tuần mà chỉ lấy được khoảng 400 tấn muối. Gió Đông Bắc thổi mạnh, luồn qua những triền núi, rót vào vịnh, trở thành những luồng gió giựt. Ghe muối bị sóng nhồi không thể cặp sát tàu nên chuyển hàng rất khó khăn. Hầm vẫn chưa được đầy. Trường Xuân không thể đậu lâu hơn nên kéo neo chạy đi Singapore. Đài khí tượng báo tin trận bão cuối mùa tập trung cách Côn Sơn hai trăm hải lý về phía Đông nên tàu lại phải neo ẩn bão tại Cam Ranh, vịnh thật đẹp, rộng, sâu, chung quanh có núi bao bọc. Cam Ranh là một quân cảng lý tưởng mà cũng là một thương cảng quan trọng dự phóng trong tương lai. Vợi muối ở Singapore xong, Trường Xuân đến Bangkok ngày 29-12-74, không có bến cặp, phải neo sông. Mỗi lần tàu tới, những cô gái Thái chở ra nhiều sọt trái cây: nào nhãn, táo, nho, bưởi… tùy mùa, giá thật rẻ. Các cô bày ra bán trên hành lang tàu như… khu chợ nhà. Những chùm nhãn quả rất to, cùi dày ăn ngọt như nhãn lồng Hưng Yên. Táo Thái Lan gợi nhớ lại cả một thời thơ ấu lên năm, lên sáu ở quê nhà. Sao mà thèm khát cái không khí thanh bình của nước người! Đám thủy thủ chúng tôi kéo nhau đi thăm những chòm xóm, khu vườn gần nơi tàu cặp, bên này sông Mênậm, đối diện với thủ đô Vọng Các. Muốn làm quen với người dân quê Thái, muốn bắt chuyện với họ, nhưng khi nhận ra chúng tôi là người Việt Nam, họ trở nên dè dặt ít nói. Thậm chí có một bà Việt Nam lấy chồng Thái Lan, gặp chúng tôi, mừng quá như bắt gặp người thân lâu ngày, nhưng rồi bà ta cũng nói nhỏ: – Ở đây họ sợ người Việt Nam lắm. Các ông đừng cho họ biết tôi là người Việt Nam. Tôi mang quốc tịch Thái lâu rồi. Bà ta nói tiếp: – Họ sợ người Việt mình lắm vì có rất nhiều cán bộ Cộng Sản Việt Nam vùng Đông Bắc lên về đây hoạt động. Trường Xuân rời Bangkok đi Cebu ngày 3-1-75, chở đầy vỏ gai. Hải trình từ Thái đến Phi thật vất vả. Gió mùa Đông Bắc thổi cực mạnh. Hầu hết thủy thủ đều say sóng. Có khi cơm vừa dọn xong, chưa kip ngồi vào ăn, một cơn sóng trờ tới, tất cả bát đĩa đều bị hất tung xuống sàn mặc dầu đã được đặt vững trong cái khung gổ. Hồi mới đi tàu tôi cũng bị say sóng dữ lắm. Nôn ra mật xanh, mật vàng. Phải cố “khắc phục” những cơn say sóng hành hạ, riết rồi quen đi… Những chuyến viễn du trên biển động, được coi như chuyện mạo hiểm đi “Khám phá chân trời mới.” Sau này đi trên tàu lớn, vào những ngày biển lặng, đẹp như mặt hồ, êm quá lại thành khó ngủ… Tới Phi, tàu chạy len vào giữa những hải đảo. Anh em thủy thủ tươi tỉnh hẳn lại sau những ngày sóng gió, kéo nhau lên boong ngồi. Họ đều gửi tâm sự vào những chòm xóm hẻo lánh của một hải đảo hoặc những mái nhà xinh xắn rải rác trên những bãi cát hay ẩn hiện sau những rặng dừa. Họ nhớ không khí ấm áp gia đình. Có lẽ họ nhớ đến vợ con, nhớ đến người yêu! Họ đã bị hai sức mạnh ngược chiều lôi kéo: Tiếng gọi của xa khơi và người thân yêu đang chờ đợi ở quê nhà. Tin Phước Long mất hôm tàu tới Thái Lan làm mọi người bàng hoàng lo lắng. Tới Cebu, Trường Xuân vừa buông neo, đại diện đại lý đã túc trực sẵn lên tàu làm thủ tục nhập nội. Hàng chục ghe nhỏ bao vây quanh tàu. Những nhà “nghệ sĩ vô danh” lấy bút, phấn màu vẽ lia lịa hình ảnh con tàu và đem bán cho thủy thủ. Có ghe hỏi mua thuốc lá, mua rượu mạnh. Những cô gái Phi trẻ, có duyên tươi cười với mọi người. Đại lý cho biết tàu phải vào cặp bến đêm nay vì năm trước, một tàu ngoại quốc cũng neo ờ đây đă bị cướp, thuyền trưởng bị giết. Phi cũng có bất an nội bộ. Trường Xuân chỉ đậu bến Cebu có hai ngày rồi đi Illigan thuộc đảo Mindanao, một đảo lớn miền Nam của Phi. Sau khi ăn xi-măng, tàu trực chỉ Ujung Pandang thuộc Nam Dương. Trở lại Phi lần nữa để lấy hàng, Trường Xuân rời Manila 10 giờ sáng mồng một Tết Ất Mão (11- 2-75) đi đảo Ternate thuộc miền biển Molucca. Đài phát thanh Saigon quá yếu, tình hình đất nước chỉ được biết qua các đài Úc, VOA, BBC. Trên đường từ Ternate trở về Batangas, tin tức thất lợi về mặt trận Cao Nguyên gây thêm hoang mang. Trường Xuân rời Batangas, chở đầy xi-măng, khởi hành ngày 7-3-75 đi Balik Papan thuộc đảo Borneo. Ngày 13-3-75, vừa cặp bến xong, tôi rụng rời chân tay được tin Ban Mê Thuột thất thủ. Mãi đến ngày 2-4-75, Trường Xuân mới rời Balik Papan đi Pare Pare, một bến ở gần nam đảo Celebes. Sáu giờ sáng ngày 3-4-75, đài Úc loan tin: “Quân Cộng Sản chỉ còn cách Sài Gòn khoảng 60 cây số và đang tiến về thủ đô hầu như không gặp sức kháng cự nào.” làm choáng váng đầu óc. Tôi gửi điện tín khẩn cấp về nhà giục gia đình tìm đủ mọi cách để chạy ra nước ngoài nếu Cộng Sản tiến vào SàiGòn. Gửi điện tín yêu cầu ngân hàng First National City Bank đưa gia đình Đan Hà đang làm phó giám đốc ra khỏi Việt Nam. Cập bến Pare Pare ngày 4-4-75, họp thủy thủ ngay để thông báo tình hình nước nhà hết sức nguy ngập. Sau đó, đánh điện tín về hãng yêu cầu hủy bỏ giao kèo để tàu có thể trở về Sài Gòn. Không đầy một tháng, tin tức mười mấy tỉnh vùng I và II chiến thuật bị mất vào tay Cộng Sản, quân đội phần lớn bị tan rã, tướng lãnh một số bỏ chạy, đồng bào chạy nạn gặp muôn ngàn nguy hiểm, dẫm lên xác nhau mà đi. Thậm chí có người quá sợ Cộng Sản, bám vào bánh xe phi cơ để rồi bị rớt xuống hay chết kẹt. Những xà lan chở đầy đồng bào bị bỏ chết đói và khát trôi dạt ngoài khơi… Không còn ý nghĩ nào khác ngoài ý nghĩ phải trở về. Trở về có thể làm được gì, tôi chưa biết. Nhưng phải trở về. Trường Xuân rời bến Pare Pare ngày 7-4-75, ghé Singapore ăn hàng, về cặp bến kho 5 Khánh Hội hồi 2 giờ chiều ngày 17-4-75. Saigon đang trong tình trạng dầu sôi lửa bỏng. Tàu Trường Xuân Đốm Lửa Hy Vọng Đài Úc loan tin quân Cộng Sản đang tiến về thủ đô Sài Gòn. Trở về nước hay không trở về, phải làm gì? Những câu hỏi đó cứ xoáy mãi vào óc. Trong thời gian cặp bến Pare Pare, ông lnkiriwang, người Nam Dương đứng mướn tàu chở xi-măng từ Phi về Nam Dương, hứa đưa tôi về Makassar tạm trú, nếu Sài Gòn mất và sẽ giữ bí mật chuyện này. Chỉ có sĩ quan phụ tá Trần Văn Chất cũng đồng ý xin tỵ nạn. Chuẩn bị sẵn sàng giấy tờ cần thiết cũng như quần áo. Nếu Cộng Sản chiếm Sài Gòn, chúng tôi sẽ giữ tàu Trường Xuân lại, xin tỵ nạn, rồi nhờ báo chí loan tin không thể trở về nước sống dưới chế độ Cộng Sản. Không đóng góp được gì để cứu quê hương, chúng tôi không thể làm gì hơn là chỉ có thể tố cáo chế độ Cộng Sản một cách… tiêu cực với thế giới bên ngoài. Tâm trí rối bời, suốt ngày phải tính toán để đối phó với tình thế khó khăn có thể xảy ra. Chất thì sáng chiều bắt đầu tập thể thao hầu “lấy sức lao động, nếu phải tỵ nạn”, Chất nói với tôi như vậy. Sài Gòn tuy bị đe dọa nhưng vẫn chưa bị chiếm đóng. Trường Xuân không ở lại Pare Pare để tỵ nạn mà trở về Sài Gòn. Trở về nước với nhiều hy vọng lẫn lo âu. Sài Gòn đang trong tình trạng hoang mang. Những người giàu có tìm đủ mọi phương tiện chạy ra nước ngoài. Ngày 20-4-75, gặp Trần Đình Trường, thuyền chủ hãng tàu Vishipcolines, tôi đưa đề nghị: – Tình nguyện bằng đoàn tàu của hãng chở hết đồng bào nào muốn di tản lánh nạn Cộng Sản ra nước ngoài nếu miền Nam mất. Tàu là tài sản quốc gia không thể để rơi vào tay Cộng Sản. Tôi nhấn mạnh thêm: – Cần tuyển dụng anh Lê Hồng Phi làm Cơ Khí Trưởng. Sỹ quan phụ tá Chất báo cáo có âm mưu giữ tàu lại. Thuyền chủ trả lời: – Tôi tuy còn trẻ thật, xong cũng đã nghiên cứu trù tính kế hoạch. Nếu vạn nhất đường sông Sài Gòn – Vũng Tầu mất an ninh, thì đã có Thủy Quân Lục Chiến Mỹ đảm nhận giữ trật tự (!). Thuyền trưởng không nên quá lo xa. Lời nói của Trường gieo thêm thất vọng. Đưa ba, bốn chục ngàn đồng bào đi tỵ nạn có thể làm được, không khó khăn gì nếu được toàn quyền xử dụng đoàn tàu của hãng. Thế giới vẫn không hiểu hay không chịu hiểu mưu thâm độc của Cộng Sản không phải chỉ thôn tính Việt Nam mà sẽ thôn tính cả Đông Nam Á, cả địa cầu! Tiếng nói của đông đảo đồng bào chạy nạn nói lên được phần nào mối nguy cơ đó. Không thể xử dụng đoàn tàu của hãng để chở đồng bào đi tỵ nạn, tàu Trường Xuân đối với tôi là niềm hy vọng cuối cùng. Tàu bắt đầu ăn sắt vụn vào ngày 21-04-75 để chở đi Manila. Đến hạn kỳ đại tu sửa, nhưng tình hình đất nước nghiêm trọng nên tàu chỉ sửa chữa những bộ phận máy nào cần phải tu sửa. Ngày lên ụ phải rời lại. Máy trục hàng cần tu bổ nên phải mướn cần trục để kéo hàng. Nồi hơi cũng hạ lửa để cạo lò. Ngày 26-4-75, sắt vụn đã được bốc hết lên tàu. Thủ tục quan thuế, giấy tờ xuất ngoại đă được phép đầy đủ. Vẫn ở tình trạng thiếu cơ khí trưởng. Những ngày tàu chạy ở vùng Đông Nam Á, cơ khí trưởng, đã ngoài 60 tuổi, thường nghe đài BBC, đài Úc, có luận điệu tuyên truyền cho Cộng Sản, gây nhiều lo ngại. Khi Trường Xuân về đến Singapore, T. đi phố một mình và nhậu say. Về đến gần bến, T. bị té bất tỉnh mang thương tích ở đầu và được cảnh sát chở vào nhà thương. Vào nhà thương thăm, tôi nói với T.: Xếp máy bị thương tích ở đầu, có thể rất nguy hiểm. Nên nằm lại nhà thương chờ vết thương lành hẳn hãy về. Sẽ thu xếp với hãng để ăn lương đầy đủ cho đến khi khoẻ hẳn. T. xin ra nhà thương, trở về tàu mặc dù còn đau, không thể tiếp tục làm việc. Tới Sài Gòn, T. phải nghỉ việc vết thương trên đầu chưa lành. T. nghỉ việc, bước khó khăn đầu đã vượt qua. Cho đến ngày 27-4-75, tàu vẫn ờ tình trạng không có cơ khí trưởng. Cao Trung, xuất thân là một sĩ quan cơ khí hàng hải, sau này làm Trung Tá Công Binh, cũng là một nhà địa lý có tiếng, xuống tàu nhận chức Cơ Khí Trưởng. Nhưng chỉ được một ngày, có lẽ nhận thấy nhiều trở ngại, khó khăn, anh đã bỏ tàu để di tản bằng máy bay. Trần Đình Trường vẫn chủ quan cho rằng thuyền trưởng có thể nắm vững chỉ huy con tàu lúc tình hình rối loạn. Vấn đề không giản dị như vậy. Tàu muốn chạy cần có sự đồng tình của một số thủy thủ; cơ khí trưởng và sĩ quan vô tuyến điện giữ hai nhiệm vụ tối cần thiết. Thuyền chủ không có được cái nhìn của một thuyền trưởng. Suốt thời gian gần ba mươi năm ở ngành hàng hải, nhận xét rõ rệt cho thấy đa số các bạn đồng nghiệp quê trong Nam vì chưa sống với Cộng Sản nên có khuynh hướng nghe theo luận điệu tuyên truyền của Cộng Sản, ít có cảm tình hay thiện cảm với đồng bào di cư từ mìền Bắc vào Nam năm 1954. Bắt liên lạc và bàn tính với đồng nghiệp quê trong Nam về việc đi lánh nạn phải thật thận trọng. Nếu hãng không đồng ý tuyển dụng cơ khí trưởng Lê Hồng Phi, việc di tản bằng tàu Trường Xuân coi như không thể thực hiện. Nhiều bạn bè, bà con nhờ giúp phương tiện chạy nạn. Tôi đã nói thật tình trạng của tàu, những nỗi khó khăn cũng đang lúng túng chưa biết phải đối phó và hành động ra sao. Tòa Đại Sứ Hoa Kỳ, phi trường Tân Sơn Nhất đông nghẹt người, chen chúc nhau để tìm đường di tản bằng phi cơ. Không khí Sài Gòn mỗi ngày một sôi động. Ai cũng chỉ nghĩ đến chạy. Những người được các cơ quan Hoa Kỳ đưa đi đã biết nơi mình sẽ đến. Nhưng còn hàng ngàn, hàng vạn người khác, run sợ trước sự bạo tàn, độc ác của Cộng Sản, đang tựa lưng vào biển cả, không biết đi đâu, thân phận ra sao. Thành phố Sài Gòn như sôi sục. Người ta tìm đường chạy khắp mọi nẻo. Chạy sang xa lộ, đường bị nghẽn. Xuống Phú Lâm để về Hậu Giang, quân Cộng đã án ngữ. Đường vào sứ quán Mỹ, lối ra phi trường chỉ dành cho người dư tiền bạc, có thế lực. Như cơn gió lốc, đoàn người chạy nạn quay cuồng, chạy quẩn chạy quanh như rơi vào mê hồn trận. Tất cả đều hoảng hốt, kinh hoàng. Đại bác, hỏa tiễn thi nhau nổ vang rền. Đại tá Vũ Lộ đến gặp tôi. Ông cho biết khoảng ba trăm cựu chiến binh giải ngũ đang khai phá đất để sinh sống ở miền Gò Công. Ông và các chiến hữu đã dành gần cả đời người cho cuộc chiến, chắc chắn sẽ bị trả thù một khi miền Nam bại trận. Tôi nói với ông: – Tầu Trường Xuân lúc nào cũng sẵn sàng đón nhận anh em cũng như tất cả đồng bào khác nếu có cơ hội chở đồng bào chạy nạn. Hiện nay tàu ở tình trạng thiếu cơ khí trưởng. Ông nên theo dõi sát để biết tin tức. Tám năm sau, ngồi viết lại chuyến đi, tôi không biết vị đại tá đã gặp cuối tháng 4-75 và những chiến hữu của ông bây giờ ở đâu, đã chạy thoát ra ngoài, tiếp tục chiến đấu trong bưng hay đang kéo lê cuộc đời khốn nạn trong lao tù? Tin mới nhất, Vũ Lộ và gia đình đã đến Nam Caliìornia theo diện H.O. Em gái út, Phương Chi, lại chào từ giã ra đi cùng với cơ sở DAO. Đan Hà cùng gia đình di tản với nhân viên ngân hàng First National City Bank. Bà chị dâu cũng chia tay để cùng con trai nhỏ và hai con gái lớn di tản với nhân viên đài phát thanh “Tiếng Nói Tự Do”. Gần ba mươi năm đi khắp vùng Đông Á, chuyện đi ra biển là chuyện quá thường tình, quá dễ dàng, giờ đây tôi thấy bất lực, không biết cách nào để thoát ra khơi. Anh Kha tôi tỏ vẻ chán chường, cho biết hầu hết bà con, không ai chịu bỏ nước ra đi. Giấy tờ giao nhà cửa cho anh đã thị thực chữ ký. Thu Giang, con gái tôi cũng giao phòng nha để anh toàn quyền xử dụng. Anh Chác đã dứt khoát từ chối “không di tản đi Mỹ vì Mỹ đã phản bội”, mặc dầu đứa cháu là thiếu tá phi công đưa trực thăng đến Lâm Đồng đón. Bao nhiêu bà con họ hàng bỏ xóm làng ngoài Bắc dắt díu nhau di cư vào Nam sau hiệp định Genève 1954, ai ngờ bây giờ họ Phạm chúng tôi lại đang bị xé ra từng mảnh. Em gái, con gái, chị dâu, các cháu đã lần lượt ra đi. Người nào chạy được thì chạy. Không ai giúp được ai. Không dám hứa với bất cứ ai giúp phương tiện di tản, không muốn ai đặt hết niềm tin vào sự giúp đỡ của mình trong một hoàn cảnh hết sức bấp bênh, trong khi chính mình không được chủ động điều hành con tàu theo ý muốn. Hy vọng thực hiện những dự tính khi rời Pare Pare để về nước cứ lu mờ dần, nếu không nói là đang bị dập tắt Vũ Quốc Trinh, một người đồng quê ngoài Bắc đến nhà xin giúp phương tiện đưa gia đình anh đi; hứa sẽ lo liệu mọi phí tổn. Tôi đã nói rất thành thực với anh: – Chính tôi cũng chưa nắm vững được tình hình tàu vì thiếu chuyên viên. Nếu tàu chạy được, cứ ra mà đi. Không ai phải trả tiền trước hoàn cảnh nước mất nhà tan thế này. Tàu Tân Nam Việt vẫn đậu ở Kho Năm, ngay cạnh Trường Xuân. Ngoài cổng có quân đội gác giữ trật tự. Nhiều người thong thả bước xuống tàu chờ di tản một cách rất “tự nhiên” và “an toàn”. Cầu tàu có lính gác. Đó là ngày 26-4-75. Gặp thuyền chủ ngay trên bến, ông ta ngỏ ý muốn tôi làm thuyền trưởng. Tôi hỏi ông: – Còn gia đình tôi nữa. – Chúng tôi sẵn sàng để gia đình ông đi. Đây là một quyết định hết sức quan trọng. Phần lo lắng cho gia đình, phần nghĩ đến những lúc tàu gặp khó khăn, trở ngại, cảnh đồng bào chạy nạn từ miền Trung vào Nam nổi loạn. Thuyền trưởng có thể làm gì nếu cũng như mọi người hốt hoảng tìm cái sống trong cái chết? Tôi đã không nhận làm thuyền trưởng tàu Tân Nam Việt. Tân Nam Việt rời Sài Gòn vào sáng ngày 30-4-75, trước giờ đầu hàng, không có thuyền trưởng. Sáng ngày 27-4-75, nhà tôi được tòa đại sứ Hoa Kỳ cho giấy phép di tản cùng gia đình bằng máy bay đến Hoa Kỳ. Giấy phép do cậu em trai từ Mỹ gửi về có chữ ký của Ngoại Trưởng Henry Kissinger. Chờ cho nhà tôi và ba con gái Giang, Hoài, Dung đi lọt qua cổng phi trường Tân Sơn Nhất, tôi trở về nhà cùng Phạm Trúc Lâm, con trai áp út, đang là sinh viên Đại Học Minh Đức. Hai bố con có thể tìm đường chạy dễ dàng hơn vào lúc nguy ngập nhất. Tôi vẫn không rời bỏ ý định đưa được nhiều đồng bào di tản bằng tàu Trường Xuân, tuy đã nhiều thất vọng. Vừa ngồi xuống ghế thì nhà tôi và ba con gái cũng về tới cửa. Nhân viên phi trường chỉ cho phép một mình nhà tôi lên phi cơ mặc dầu xuất trình thẻ gia đình. Tưởng đã bớt phần nào bối rối, giờ lại bối rối thêm với nhiều lo âu. Trên đường từ nhà ra bến tàu, phố xá nhà cửa còn nguyên vẹn nhưng cảnh thật tiêu điều. Nhà nào cũng đóng cửa im ỉm, rác rến đầy đường. Những người đi ngoài đường thì dáng điệu hớt hải, hoảng hốt. Không khí thật nghẹt thở. Nơi thì thật vắng lặng, nơi thì xôn xao. Trường Xuân vẫn nằm im trên bến. Sĩ quan phụ tá Chất cho biết tình trạng tàu không khả quan chút nào. Cơ khí trưởng vẫn chưa có. Số thợ máy làm việc dưới tàu rất khả nghi. Chất lại báo cáo thêm về hành vi và lời nói của thuyền phó: – Cộng Sản nó là hủi à? Nó không phải là người Việt Nam sao? Tại sao mà sợ phải bỏ chạy? Thành phần thủy thủ đa số quê trong Nam nên họ nhìn Cộng Sản dưới con mắt thật chủ quan. Những người không hiểu Cộng Sản cần phải ở lại với Cộng Sản mới biết rõ được Cộng Sản. Chỉ khổ một nỗi, khi đã biết rõ thực chất Cộng Sản, khi đã sống với chúng, hiểu chúng rồi thì quá muộn. Hoàng Phước Quả, một bạn đồng nghiệp trẻ, ở lại Sài Gòn sau ngày 30-4-75 mặc dầu anh có dư phương tiện để lánh nạn vì anh là hoa tiêu. Bốn năm sau, anh viết cho tôi từ trại tỵ nạn Phi Luật Tân: “Tôi, gia đình, một số thân hữu cùng Nguyễn Văn Diệt (sĩ quan vô tuyến điện tàu Trường Xuân đã xin nghĩ ở lại Saigon vào 9 giờ sáng ngày 30-4-75) rời Sài Gòn trên một ghe nhỏ. Tới Singapore bị đuổi. Ghe tiếp tục chạy sang Phi Luật Tân. Nhờ có kinh nghiệm hàng hải nên đỡ quá. Tất cả mọi người được an toàn… “ Tôi bây giờ là một người sung sướng nhất trên đời vì đã hiểu thế nào là Cộng Sản…” Lời viết thật giản dị, mô tả được tất cả cái thất vọng của anh đã hiểu lầm Cộng Sản. Tôi có thể làm gì nếu không có cơ khí trưởng đáng tin cậy? Phi đã là cơ khí trưởng trên tàu Trường Thành hai năm. Anh có sức dẻo dai kỳ lạ, thông minh và rất giỏi. Khả năng kỹ thuật của Phi vượt xa rất nhiều cơ khí trưởng khác. Thuyền chủ vẫn lơ là không đề cập tới đề nghị tuyển dụng Phi. Ngày nào cũng gặp thuyền chủ, mỗi lần gặp, hy vọng chở đồng bào tỵ nạn bằng tàu Trường Xuân tắt dần, tắt dần. Tôi gửi Chất lên hãng báo cho thuyền chủ biết nếu tình trạng thiếu cơ khí trưởng không sớm giải quyết Trường Xuân sẽ bị bỏ lại Sài Gòn. Tàu không thể nào chạy nếu không nắm vững tình hình máy mỏc. Trở lại nhà vào chiêu tối, lòng thật buồn. Những cơ sở Hoa Kỳ ở một vài nơi đã bị công khai phá phách. Những đồ đạc, dụng cụ bị ngang nhiên khuân vác đi, không một ai can thiệp. Tình trạng vô kỷ luật đã hiện rõ giữa thủ đô. Tôi gặp lại người cháu, thiếu tá Trần Khắc Thuyên từ căn cứ Vạn Kiếp về Sài Gòn để gửi ông thân sinh đang ốm nặng cho bà cô trông nom. Thuyên bị kẹt lại không thể trờ về căn cứ Vạn Kiếp vì đường xe Sài Gòn – Vũng Tàu bị địch cắt. Không nắm vững được con tàu mà mình chỉ huy, tinh thần bắt đầu giao động, hoang mang. Không biết gì về những tổ chức đưa người đi chạy nạn, không có ý niệm gì về hạm đội 7 có cứu giúp người ngoài khơi, cũng không biết rõ nơi nào nhận người tỵ nạn… Đang ở trong tình trạng như vậy, thuyền chủ điện thoại cho tôi: – Thuyền trưởng cho gia đình sang ở túc trực bên đường Trịnh Minh Thế. Khi nào tàu Trường Hải chạy, tôi sê cho ngươi báo tin ngay để di tản. Nhà ông ở gần sân banh Cộng Hòa, xa quá, sợ lúc quá gấp cho người đi báo tin không kịp. Tôi ghi nhận thiện chí của Trường đối với gia đình tôi. Nhưng ông với tôi đã có hai ý nghĩ khác biệt: ông phải lo an toàn cho đoàn tàu của ông, còn tôi lo sao đưa được gia đình và đồng bào thoát nạn Cộng Sản càng nhiều bao nhiêu càng tốt. Chỉ tiếc có một điều tình thế đã đến lúc sắp đến đường cùng mà chúng tôi không sao đạt được sự đồng ý. Trần Đình Trường ít khi cho thuyền trưởng biết trước nhưng điều dự tính về đoàn tàu của hãng, nên tôi không tin tưởng hoàn toàn vào ông. Trong khi đó, làm bất cứ việc gì, tôi cũng phải biết rõ và được chủ động. Tôi phân vân lắm và sau đó quyết định không đưa gia đình sang ở bên Khánh Hội. Vả lại di chuyển đi ở nơi khác rất tốn kém, tôi lại không có tiền. Có một điều lạ, Trường không hề đề cập đến tàu Trường Xuân. có lẽ vì không thể làm vừa ý tôi, cũng có thể nghi tôi muốn lợi dụng cơ hội chở đồng bào tỵ nạn để kiếm lợi riêng. Tôi vẫn bám vào hy vọng mong manh, đưa được đồng bào thoát bỏ Cộng Sản bằng tầu Trường Xuân. [youtube=https://www.youtube.com/watch?v=eR4dOi1O__I&w=593&h=334] Không nhận làm thuyền trưởng tầu Tân Nam Việt, bây giờ lại hết hy vọng đưa được tầu Trường Xuân đi, tôi đang đi vào con đường cùng, vào ngõ cụt. Tình hình biến chuyển mau lẹ. Nghĩ đến vợ con có thể bị kẹt lại, tôi thấy hối hận. Ngày nào, tôi cũng ra thăm tầu Trường Xuân ít nhầt một lần. Sáng ngày 28-4-75, tàu thật vắng vẻ, không một thủy thủ nào có mặt. Thủy thủ trực và Chất, sĩ quan trực, cũng bỏ đi. Thuyền chủ vẫn chưa chịu tuyển dụng cơ khí trưởng Lê Hồng Phi. Đốm lửa hy vọng mỗi lúc mỗi tàn. Tình thế khẩn trương từng giờ, từng phút. [youtube=https://www.youtube.com/watch?v=PyIEZikH-i0&w=593&h=334] Rời hãng, tôi trở lại tàu lần này, chính tôi cũng không biết để làm gì, đối phó với tình thế ra sao nữa. Tôi muốn tim gặp Chất để may ra Chất giúp tôi ý kiến nào chăng. Chất ở khu Hàng Xanh, nhà không có điện thoại. Sĩ quan trực, thủy thủ trực đã bỏ tàu. Ảnh hưởng chiến sự đă lan xuống thương cảng. Người nào cũng phải lo cho bản thân, cho gia đình. Tôi rời thương cảng hoàn toàn thất vọng, Trường Xuân vẫn không có cơ khí trưởng. Vế tới nhà, tôi cho gia đĩnh biết không còn hy vọng di tản bằng tầu Trường Xuân. Ngay buổi chiều tôi lên Phú Nhuận thăm bà con để hỏi thăm tình hình ra sao vì không biết cách nào khác rời Sài Gòn bằng chính con tàu của mình. Tôi đi như vậy cũng để tránh khỏi phải suy nghĩ đã làm trí óc mệt mỏi kể từ ngày về tới Sài Gòn. Sức khoẻ cũng thật sa sút. Đang ăn cơm chiều ở nhà bà chị thì nhà tôi gọi điện thoại báo tin: – Chú Vượng trong Tân Sơn Nhất gọi điện thoại ra cho biết, 8 giờ tối nay sẽ đưa xe ra đón cả nhà vào cậu Kỳ di tản bằng máy bay. Thoạt nghe tin này tôi thấy yên tâm. Vợ con ra đi không bị ai làm khó dễ. Chờ máy bay cất cánh, Lâm và tôi sẽ ở lại, không thể bỏ dự tính từ cảng Pare Pare. Tám giờ tối ngày 28-4-75, Lê Đình Vượng đưa xe hơi từ Tân Sơn Nhất ra đường Tân Phước đón nhà tôi và bốn con (ba gái, một trai) cùng gia đình con rể ông là Trần Đình Thăng rồi ghé qua Phú Nhuận đón tôi. Tôi tần ngần bước lên xe. Tôi vẫn nghĩ mình sẽ đưa được đồng bào đi tỵ nạn Cộng Sản không thể ngờ rằng chính mình lại được người khác giúp phương tiện để chạy nạn. Xe đến cổng phi trường đứng khựng lại. Gần một giờ qua đi mà xe vẫn đứng yên một chổ không thể di chuyển. Cho đến bây giờ tôi vẫn không hiểu tại sao rất nhiều binh sĩ từ mọi phía đổ về phi trường. Súng ống được chất ngổn ngang bên đường trước khi vượt qua cổng. Tôi được chứng kiến tận mắt cảnh quân đội miền Nam đang tan rã trong trật tự đến lạ lùng. Những chiến sĩ oanh liệt một thời tiến vào phi trường để đi đâu? Đống khí giới kia ai sẽ tiếp nhận? Những câu hỏi này vẫn cứ lởn vởn trong óc mấy năm sau. Đã 10 giờ đêm. Khám xét giấy tờ thật gắt gao. Khi nhận ra xe của Lê Đình Vượng, anh rể Kỳ, chúng tôi mới lọt được vào trong phi trường. Tư dinh Kỳ rất đông bà con. Bên ngoại chỉ có gia đình nhà tôi và gia đình bà chị. 11 giờ… – 12 giờ khuya… Tất cả đều chờ đợi. Tôi không biết tin tức gì về di tản. Tôi đi theo Vượng như cái máy. Gặp bà Nguyễn Thị Huyền, tức bà Vượng, cũng không buồn hỏi thăm tin tức. Đến 1 giờ sáng, bà Huyền nói nhỏ với tôi: – Cậu Kỳ đi họp rồi. Cậu ấy cho biết máy bay phải di tản trước 2 giờ. Tin tình bảo cho biết Việt Cộng sẽ pháo kích lối sáng sớm nay. Ngay khi đó. trung tá Nguyễn Văn Phương, hoa tiêu trưởng vận tải cơ C123 xuất hiện lấy danh sách bà con di tản. Nhiều người bị loại. Trong danh sách những người được đi có gia đĩnh tôi. Phòng khách khá rộng, không đèn tối âm u, chật ních những người. Chỉ có tiếng xì xào rất nhẹ. Mỗi người mang nặng một tâm tư. Khoảng bốn giờ sảng ngày 29-4-75, những tiếng rít bay xẹt qua như xé không gian, tiếp đến những tiếng nổ long trời lở đất. Hỏa tiễn đang pháo tới tấp vào phi trường. Gạch, cát bay tứ tung, rơi rào rào trên mái nhà. Căn nhà gần đó trúng hỏa tiễn cháy rực sáng ngút trời. Tất cả mọi người đều nằm rạp xuống đất. Người nào ở đâu ở nguyên đấy vĩ không biết chạy đi đâu để trú ẩn. Tôi không thấy sợ hỏa tiễn, mà chỉ sợ cái chết vô ích, vô nghĩa nếu hỏa tiễn rơi trúng… Hỏa tiễn vẫn nổ vang rần, liên tiếp trong hơn hai tiếng đồng hồ. Trời sáng rõ thì hỏa tiễn ngừng hẳn. Phi công Nguyên văn Phương biến đi đâu mất. Nguyễn Cao Kỳ trở về nhà lúc 7 giờ sảng, cho mọi người biết trực thăng sẽ chở bà con xuống Cần Thơ rồi từ đó baỵ ra Côn Sơn để lấy máy bay đi Phi, hoặc bay thẳng tới Guam. Kỳ đứng ngay cửa ra vào, tôi không muốn lại gần hỏi thăm cho biết rõ tình hình. Để khỏi phải mất thời giờ chọn lựa đắn đo, tôi giục nhà tôi và các con rời ngay phi trường trở về nhà. Ra đến cồng phi trường, nhà tôi nói nhỏ với tôi: – Cậu Kỳ trấn an bà con, bảo cứ yên tâm. Phi trường Tân Sơn Nhất được phòng thủ rất mạnh. Cộng Sản có tấn công cũng phải mất 10 ngày mới chiếm nổi. Hỏa tiễn lại bắt đầu pháo tiếp. Những vùng quanh phi trường như Phú Nhuận, Chi Lăng… đều bị pháo. Có rất nhiều người chết. Một trực thăng rơi, bốc cháy ngay trên đường Lý Thái Tổ gần Ngã Bảy. Khoảng 4 giờ chiều ngày 29-4-75, chiếc Mercedes quen thuộc ngừng ngay trước cửa nhà. Trần Đình Trường trao cho tôi một văn thư, vẻ mặt nghiêm trọng khác thường: – Thuyền trưởng là người duy nhất có giấy phép này. Đây là giấy phép của bộ Nội Vụ trưng dụng tầu Trường Xuân chở đồng bào tị nạn đi Phú Quốc. Thuyền trướng xử dụng tầu Trường Xuân hoàn toàn theo quyền ông. Xếp máy Lê Hồng Phi sẽ xuống tầu… Chào ông, tôi sẽ di tản bẵng trực thăng. Dứt lời, Trường lên xe di ngay. Tôi cầm giấv phép của bộ Nội Vụ trong tay, vừa hy vọng, vừa lo. Trận pháo kích gần về sáng ngày 29-4-75 mở màn tấn công phi trường Tân Sơn Nhất đã khiến Trường thay đổi ý kiến đột ngột. Tác giả phân tích hết được các lý do miền Nam sụp đổ “Mặc dù hiệp định Paris được ký kết, tôi vẫn không tin miền Nam có thể đứng vững. Một phần vì xã hội nhiều thối nát, lãnh đạo thiếu khả năng, không tìm gây thực lực tự chính mình mà chỉ biết dựa vào người, hàng ngũ quốc gia lại chia rẽ. Bèo bọt bám quanh thân cây gỗ. Cây gỗ trườn đi, bèo bọt cũng trôi văng đi mất. Bèo bọt chỉ là thân phận bèo bọt. Người lảnh đạo thì ích kỷ, chỉ nghĩ đến quyền lợi cá nhân, gia đình hơn là nghĩ đến quyền lợi chung của Tổ Quốc. Bạn đồng minh thì muốn bỏ chạy. Phải đương đầu với Cộng Sản tinh quái, nham hiểm, miền Nam có chính nghĩa nhưng đã để mất chính nghĩa. Người yêu nước chân chính thì không có cơ hội lèo lái vận mệnh dân tộc…” Trốn Chạy Quê Hương Hỏa tiễn không ngớt pháo vào vùng lân cận Sàigòn. Ngoài phố không có bóng một quân nhân hay cảnh sát. Bất kể lệnh giới nghiêm, ngoài đường người ta vẫn kéo nhau chạy. Ai cũng nghĩ trận đánh thủ đô sẽ khốc liệt nên tìm đường lánh nạn. Cầm trong tay tờ giấy phép chở đồng bào tỵ nạn đi Phú Quốc tôi thấy vững dạ, nhưng không thể nào kìm chế được hồi hộp. Lâm chở tôi ra tới Kho Năm đã 6 giờ chiều. Tàu Trường Sinh từ Singapore về hôm 25-4-1975, đậu ngay cạnh. Tình thế đang lúc khẩn trương, máy cái của tàu Trường Sinh lại tháo ra tu sửa. Trường Sinh nằm im lìm trên bến, và đã bị bỏ lại ở Sàigòn. Bước chân lên Trường Xuân lần này, không như những lần trước, tim tôi đập dồn dập. Có cái gì khác thường đang xảy ra, sẽ xảy ra? Không một bóng người trên boong. Cửa xuống phòng máy cũng đóng kín. Lâm lặng lẽ đi theo tôi, không nói một lời. Vào những ngày rối ren cuối tháng 4- 75, đi đâu hai bố con cũng đi cùng. Trời chạng vạng tối. Tôi muốn nán lại để gặp Phi. Đang phân vân không biết nên ở lại đợi Phi hay ra về thì Chất từ dưới phòng chạy lên, báo rằng: – Xếp máy Phi đã xuống tàu từ lúc 4 giờ chiều nay, cho biết tàu có thể khởi hành trưa mai sau khi xem xét lại máy, Phi trở về nhà để đưa gia đình ra tàu. – Thủy thủ có ai đi không? Sao không ai có mặt phiên trực? Tôi hỏi cho có lệ. Quân đội đang tan rã. Luật pháp trật tự, kỷ luật cũng đang tan rã theo. Đối xử với nhau bây giờ chỉ còn nể vì, chỉ còn tình nghĩa mà thôi! Tôi lấy phấn, tự tay viết lên bảng treo ở ngay đầu cầu thang lên xuống: TRƯỜNG XUÂN rời SÀIGÒN 11giờ 30 sáng ngày 30.4.75 Tôi không ghi rõ tàu chạy đi đâu, đến đâu. Dự tính rằng nếu công cuộc chống Cộng sản xâm chiếm miền Nam vẫn tiếp tục, Trường Xuân sẽ chở đồng bào tỵ nạn đi Phú Quốc. Trường hợp miền Nam bại trận, đầu hàng Cộng sản, Trường Xuân chở đồng bào tỵ nạn ra nước ngoài. Đưa được đồng bào thoát nạn Cộng sản nhiều chừng nào hay chừng nấy, nhưng chuyến ra đi này phải hoàn toàn tự ý, tự nguyện. Đồng bào phải tự xác định thái độ để không bị hối hận. Ra đi khi nào không muốn ở lại. Tôi rời tàu 8 giờ đêm. Sàigòn giới nghiêm 24/24. Cổng thương cảng đóng im ỉm. Phố xá vắng tanh vắng ngắt. Từ Khánh Hội về khu sân banh Cộng Hòa, Lâm chở tôi trên một chiếc xe hơi nhỏ, chạy qua những con đường quen thuộc: Trịnh Minh Thế, Hàm Nghi, Lê Văn Duyệt, Hồng Thập Tự, Lý Thái Tổ; qua Trần Quốc Toản, rẽ vào Nguyễn Kim rồi đến Tân Phước, những con đường này tôi đã đi lại không biết bao nhiêu lần, gần suốt cuộc đời hàng hải. Đạn pháo kích vẫn nổ dòn… Kể từ ngày Việt Minh cướp chính quyền năm 1945, đã nhiều lần tôi chạy nạn. Rời bỏ quê làng cuối năm 1946. Bỏ Hải Phòng khi quân Pháp đổ bộ. Năm giờ chiều, rời Hà Nội về Hà Đông thì nửa đêm 19-12-46 cuộc tổng tấn công của quân đội Pháp xảy ra, phải tản cư đi Nho Quan, Hòa Bình, Việt Trì, ở men rừng núi vùng Chàng Sào thuộc Phú Thọ, bên bờ sông Lô. Rồi đến 1954, sau khi đất nước chia đôi, gia đình tôi bỏ đất Bắc xuôi Nam, để 21 năm sau lại phải chạy một lần nữa… Về tình cảm, cái mất mát lớn nhất vẫn là mất quê làng. Đi giữa thủ đô miền Nam trong đêm hoang vắng đến rợn người, trí óc tôi không lúc nào thoát bỏ được ý nghĩ đến chuyến đi ngày mai. Đi Phú Quốc, hay bỏ nước ra đi vĩnh viễn? Đi! Liệu Phi có khắc phục nổi những phá hoại? Tôi rùng mình tưởng đến con tàu dật dờ trôi ngoài khơi, máy hoàn toàn tê liệt… Đói và khát hành hạ. Rối loạn, chém giết, hãm hiếp… Về tới nhà, tôi cho ngay nhà tôi và các con biết Trường Xuân khởi hành sáng hôm sau, nhắc kiểm điểm lại hành lý phải mang đi. Nói là hành lý, thực ra mỗi người chỉ có một cái xách tay nhỏ đựng vài bộ quần áo, ít thuốc cảm, đau bụng, giấy tờ tùy thân và những hình ảnh kỷ niệm. Tin tàu chạy cũng được loan báo cho bà con lối xóm để tùy ai muốn đi thì đi. Trung tá Nguyễn Văn Nghệ ở gần nhà thuộc lực lượng đặc biệt tình nguyện lấy hai GMC chở bà con. Trần Đình Thăng lo lập danh sách để đề phòng cảnh sát thương khẩu làm khó dễ. Lê Đình Vượng tối hôm trước từ phi trường Tân Sơn Nhất ra Tân Phước đón gia đình tôi di tản bằng máy bay… thì bây giờ lại chuẩn bị để đi Trường Xuân. Lê Văn Tỵ giầu nhất xóm được đề cử lo về “ngoại giao”. Suốt đêm không chợp mắt được một phút. Thần kinh căng thẳng, người mệt rã rời. Mong mỏi một chuyến đi, muốn được chở đồng bào tỵ nạn, bỏ dở chuyến hải trình vòng Đông Nam Á để trở về với hy vọng nhỏ bé là đóng góp được gì lúc đất nước bị đổ vỡ để khỏi mang hận suốt đời, tuy không mất hứng khởi, nhưng phải đối phó với nhiều khó khăn, nguy hiểm, tôi chỉ thấy hơi chùn bước. Khuya rồi, mấy người cháu ở vùng Phú Nhuận còn điện thoại báo tin quân Cộng sản đã lọt vào rất nhiều nơi khiến tôi thêm quyết tâm phải đi, bất cứ giá nào. Trước mặt chỉ còn có con đường một chiều, không còn chọn lựa nào khác. Ngày 30.4.75, năm giờ sáng, tôi bảo Tuấn Sơn sang khu Triệu Đà gọi hai gia đình các cháu Phạm Quân Hồng, Lê Tấn Đạt sửa soạn gấp để di tản. Tôi cùng Thuyên và Lâm sang thương cảng để xem kỹ lại tình trạng của tàu, tất cả mọi người được dặn dò chờ tôi về hãy khởi hành. Đi ngả Thành Thái ra Trần Hưng Đạo, đường bị cản bởi công sự chiến đấu. Trở lại đường Minh Mạng ra Phan Thanh Giản, xe cũng bị án ngữ không chạy được. Sau đó xe phải trở về Trần Quốc Toản, ra Lê Văn Duyệt, tới Hàm Nghi rồi qua Trịnh Minh Thế. Bảy giờ rưỡi sáng, boong tàu có lác đác dăm ba người. Một thanh niên biết tôi là thuyền trưởng, thuộc binh chủng Nhảy Dù, tên Lộc, gặp lại năm 1977 ở Kansas City, lại gần hỏi: – Tàu có chạy không ông? – Chạy chớ. Tôi vừa nói vừa gật đầu. Tôi không mời bất cứ người nào đi, trừ những bà con thân thuộc đã có kinh nghiệm với Cộng sản. Tôi cũng không từ chối bất cứ người nào muốn đi, đến với Trường Xuân. Ra đi phải phản ảnh ý định trung thực của mình. Hai gia đình Phi và Chất đã ra bến tàu đêm hôm trước, than phải trả tiền mới lọt qua được cổng Kho Năm. Phi xác nhận tàu có thể chạy như giờ đã ghi. Không thấy có mặt một thủy thủ nào. Trường hợp đặc biệt này, thủy thủ ai muốn đi thì đi, có bắt ép cũng không được. Lâm ở lại tàu. Dương, em Chất, lấy xe chở tôi và Thuyên về lại nhà. Hai xe GMC còn đậu ở ngã tư Tân Phước – Nguyễn Kim đông nghẹt người, có gia đình tôi cùng các cháu họ, và bà con lối xóm. Đông ước khoảng gần 200 người. Thuyên hướng dẫn tài xế theo đúng lộ trình ra bến tàu, sợ bị lạc. Tôi trở lại thăm nhà lần chót, căn nhà đã ở được hai mươi năm. Làm nghề hàng hải đã lâu năm, căn nhà vẫn nhỏ bé, rộng 3 mét 30 phân, dài hơn 7 mét. Có cái hiên lấn ra hè đường để lấy chỗ ngồi hóng gió vào những buổi tối. Hiên tuy nhỏ hẹp nhưng cũng trồng được một cây khế. Cứ đến mùa, hoa khế nở rất nhiều. Hoa khế tím chen lẫn cánh lấm tấm trắng cho tôi cảm tưởng được sống ở một khu vườn nào…. Bỏ ra đi, bỏ căn nhà thật khiêm tốn, tôi thấy đau xót. Căn nhà nhỏ đã giữ biết bao nhiêu kỷ niệm. Tuy ở “khu nhà lá” này, tôi vẫn được tiếng là giàu nhất họ. Họ Phạm chúng tôi di cư vào Nam khoảng hai chục gia đình, phải nói là một họ có lẽ nghèo nhất. Không một người nào dư dả không phải chạy ăn hàng ngày, nên không ai có khả năng tài chánh giúp đỡ người khác. Tôi là người độc nhất có đồng lương khá cao nhưng phải lo ăn học cho chín người con nên chẳng dư tiền mua nhà lầu, xe hơi sang trọng như các bạn đồng nghiệp. Quanh năm phải đi xe buýt, xe lam, xe lô. Đang tần ngần bên gốc khế thì anh Kha lại từ giã tôi. Nhìn dáng anh gầy yếu, thiểu não, tôi thương anh vô cùng. Anh gửi hai con trai, Tuấn Sơn và Tuấn Hưng đi theo tàu. Con lớn là thiếu tá phi công hôm trước phải bỏ lại vợ và bốn con để di tản cùng ban tham mưu xuống Cần Thơ. Anh đã ở trại Đầm Đùn hai năm vì “âm mưu lật đổ chính phủ”, nên tôi không dám nghĩ đến số phận anh khi quyết định ở lại. Hai anh em nắm tay nhau khi từ giã, tôi không dám nhìn anh để tránh xúc cảm, bàng hoàng, không còn nhớ rõ hình dáng người anh tôi thương mến rất nhiều lúc vĩnh biệt. Anh tôi không nói một lời, lặng lẽ quay lưng bước vào nhà lúc này chỉ còn có một mình. Hai hôm trước đến thăm, tôi biếu anh 20 đô la trong số 200 đô la mà tôi có. Số tiền này do đại lý ở Singapore tặng. Nhà tôi dắt lưng được hơn một trăm ngàn bạc số lương vừa lãnh, ngoài mấy cái nhẫn, cái vòng đeo trên người, còn có thêm một lạng vàng duy nhất. Gia đình tôi đi chạy nạn, gia tài chỉ có bấy nhiêu. Đối với tôi, vàng bạc lúc này chả còn giá trị gì nữa. Đổ vỡ, mất mát về tình cảm, về tinh thần mới thật quan trọng. Trong vòng mười lăm phút về thăm nhà, nói chuyện với người anh lần cuối, tôi bước lên xe. Dương và Thuyên ngồi đợi ngoài cửa. Chúng tôi tới Kho Năm thì hai xe GMC cũng vừa tới. Đằng Giao, cháu gọi tôi bằng chú, chở gia đình Lê Tất Đạt cũng vừa đến nơi. Cổng thương cảng vẫn không chịu mở. Vợ chồng Đạt vẫn còn ngồi bất động trên xe. Tôi nói lớn: – Xuống đi chứ! Leo tất cả lên GMC. Tám đứa con và vợ chồng Lê Tất Đạt vừa loạng choạng bước ra khỏi xe thì Hòa lẹ đưa tay kéo giật đứa nhỏ nhất lôi lên xe GMC. Vợ Đạt la lớn: – Giời đất ơi, đồ đạc của tôi làm sao đây chú Hòa? Hòa cũng hét to: – Giời với đất! Hãy cứu lấy người đã… Lên mau! Đồ đạc nào mang theo được thì mang, không thì bỏ. Đằng Giao lại gần tôi: – Chú cho ông Chu Tử và gia đình thằng em nhà cháu đi với chú. – Ừ! Anh về đưa ông Chu Tử và gia đình ra ngay. Anh không đi à? Tôi đợi. – Cháu không đi. Tôi lại gần viên cảnh sát gác cổng, yêu cầu mở cửa để hai xe GMC vào. – Xe chở ai? – Xe chở gia đình tôi và đồng bào chạy nạn. Tôi có giấy phép chở đồng bào tỵ nạn đi Phú Quốc. – Không được! Gia đình ông sao mà đông thế, những hai trăm người! – Sao lại không được. Tôi có quyền chở bất cứ ai đi Phú Quốc lánh nạn. Tại sao những người kia được đi vào cửa bên? Hùng, con Nghệ, là một trung úy Lực Lượng Đặc Biệt, dắt trong mình một khẩu súng nhỏ, nóng lòng muốn có phản ứng bằng võ lực. Lê Văn Tỵ vội vàng rút từ cặp ra một bao bì lớn đưa cho nhân viên cảnh sát, tức thì cánh cổng được mở toang, dây kẽm gai được kéo sang bên. Hai xe GMC chuyển bánh vượt qua cổng thì một số đồng bào chực sẵn bám sát theo xe lọt được vào trong. Trong số đồng bào này có Lê Văn Giệp, một kiến trúc sư cùng chạy với em trai. Vào khoảng 9 giờ sáng, số đồng bào đứng dưới bến vào khoảng ba bốn trăm. Tàu để ngỏ, ai muốn lên thì lên. Nhiều người nhao nhao hỏi tôi: – Tàu có chạy không? Bao giờ tàu chạy? Tôi trả lời gọn: – Chạy! Đồng bào lục tục leo lên tàu, bằng cầu thang hay qua các cần trục thuê kéo sắt vụn mấy tuần trước vẫn còn nằm ở bến. Tôi lên tàu cũng phải bước qua cái xe cần trục này. Bà Phạm Xuân Mai điện thoại lúc sáng sớm xin giúp chạy nạn, đã có mặt trên tàu nói với tôi: – Cô Lan ra tàu tìm ông, hình như trở ra cổng rồi. Tôi vội vàng xuống bến, chạy ra đường tìm em gái nhưng không gặp. Lan gửi theo tàu đứa con trai lớn. Cảnh tượng ngoài Kho Năm khác hẳn lúc một giờ trước. Người ta hốt hoảng xô nhau chạy, người chạy tới, kẻ chạy lui, chắc phải có chuyện gì bất thường. Sỹ quan vô tuyến điện, Nguyễn Văn Diệt gặp tôi phân trần: – Gia đình tôi không được phép vào, còn đứng ngoài cổng. – Tôi sẽ can thiệp với cảnh sát. Tôi và Diệt vội chạy ra cổng. Làn sóng người tràn vào trong thương cảng bất chấp dây thép gai. Cảnh sát bắn thị uy. Làn sóng người đứng khựng lại. Người nào cũng hớt hải, sợ hãi, mặt tái ngắt. Tìm không thấy gia đình, Diệt nói: – Gia đình chạy lạc đâu mất rồi, tôi phải ở lại. Lời Diệt làm tôi choáng váng, nhưng cố giữ bình tĩnh: – Không đi được thì thôi…, đành chịu. Diệt vừa đi khỏi, Nguyễn Ngọc Thanh, sĩ quan vô tuyến trên một tàu khác cùng hãng tình nguyện thay Diệt. Tôi mừng quá. Thanh đi với một con trai. Vợ và mấy đứa con khác còn kẹt lại nhà. Tôi vững dạ có được hai chuyên viên cần thiết nhất: Cơ khí trưởng Phi và sĩ quan vô tuyến điện Thanh vào phút chót. Mười giờ hai mươi lăm, tiếng nói từ đài phát thanh làm choáng váng mày mặt, mắt hoa lên. Dương Văn Minh đầu hàng không điều kiện, kêu gọi quân đội hạ khí giới! Tin thật kinh hoàng, gieo tuyệt vọng cho mọi người. Tôi nhìn ra sông. Hàng đoàn thuyền, tàu lớn bé của tư nhân, của Hải Quân hối hả rời bến Bạch Đằng, chạy qua thương cảng để đi ra biển khiến sông nổi sóng như có cơn giông. Ba mươi năm khói lửa… đã chấm dứt trong uất hận và khiếp đảm. Để khỏi mất tinh thần, gây thêm hoang mang, tôi yêu cầu tắt tất cả máy thu thanh. Không còn chọn lựa nào khác là phải khởi hành, khởi hành sớm chừng nào tốt chừng nấy. Không có một bạn đồng nghiệp nào để phụ giúp. Không thể trao trách nhiệm cho bất cứ ai, mà cũng chẳng tìm được người nào đáng tin cậy để giao phó. Tôi cứ tự nhủ luôn: Phải bình tĩnh, phải quyết tâm, đừng run sợ…, để tinh thần thêm vững vàng. Tự an ủi để thêm tin tưởng rằng mình đã có cái may đặc biệt, được làm thuyền trưởng một chuyến tàu thật hi hữu. Thượng Đế đã ban cho ân huệ này chăng? Ân huệ được sống với đồng bào trong giờ phút đau này, nghĩ lại, không hiểu sao tôi lại có thể bình tĩnh đến thế. Từ cổng Kho Năm, như nước vỡ bờ, đồng bào ùa vào thương cảng, hướng đến chiếc phao cứu rỗi Trường Xuân mỗi lúc một đông. Phía ngoài sông, phía trong bờ, sau lái, quanh mũi, đồng bào leo thang, leo dây, cõng nhau, công kênh nhau lên vai, trèo lên lưng nhau để leo lên tàu bằng đủ mọi cách, bằng đủ mọi phương tiện có thể có. Thi sĩ Bảo Vân, một nhà giáo lão thành được đồng bào kéo từ dưới ghe lên, đến năm lần bảy lượt. Đồng bào càng hoảng hốt, tôi càng cần phải giữ bình tĩnh, trách nhiệm trước mặt quá nặng nề. Tôi giục Phi: – Đốt cho lửa lò cháy mạnh để sớm có hơi kéo neo chứ. Khói lò càng bốc lên cao, càng tỏa rộng, đồng bào ở xa có thể nhìn thấy và chạy lại. Tiếng gọi vô thanh kêu gọi hợp đoàn này thực hữu hiệu, thật nhiệm màu! Bóng dáng nhiều binh chủng lẫn trong đám đông đồng bào dân sự. Các anh đã chiến đấu oanh liệt. Đầu hàng đưa các anh đến ngõ cụt! Nét mặt các anh, tôi quan sát và nhớ thật rõ. Buồn thảm, hốt hoảng đến cùng cực. Cả một đời chiến đấu oanh liệt để giờ này phải bó tay, cúi đầu chạy. Tôi đứng khuất sau cánh cửa phòng chỉ huy, không dám nhìn thẳng các anh, những người mà tôi yêu mến và kính phục, vì nếu bắt gặp ánh mắt các anh tôi có thể òa lên khóc. Bị dằn vặt và ám ảnh nặng nề về lời báo cáo của Chất có âm mưu phá hoại. Tôi biết tôi phải làm gì, hành động thế nào để đưa thoát đồng bào rời khỏi đất nước thương yêu mà trước kia chúng ta bám vào để sống. Không sợ hiểm nguy nhưng tôi lại có nhược điểm dễ bị xúc động. Ngăn chặn được giọt nước mắt lúc này sao quá khó khăn. Không bình tĩnh, không nén được xúc động, sẽ mất hết đồng bào, mất hết những người thân yêu. Hoang mang, mất tinh thần dễ dẫn đến rối loạn. Cần phải bình tĩnh, không hoảng hốt, không sợ hãi, tôi cứ phải tự nhủ thế. Nhờ nhiều năm đi biển, quen với sóng gió, con người dễ điềm đạm, không điềm đạm cũng không được vì thuyền trưởng mà nhút nhát, lo cuống cuồng trong lúc biến thì chỉ huy được ai! Cuộc đời hàng hải cũng cho tôi thêm nhiều tình cảm. Tình cảm trở nên thắm thiết với quê hương, với gia đình vì phải xa nước luôn. Tính ra suốt đời thủy thủ, thời gian tôi xa nhà cộng lại đến mười bốn, mười lăm năm. Anh em thủy thủ thường nói với nhau không biết thật hay đùa: “Tình vợ chồng thủy thủ thường thắm thiết và lâu bền (?) vì chưa kịp chán ghét, cãi cọ nhau thì tàu đã tách bến chạy đi xa rồi”. Một trung đội cảnh sát dã chiến còn nguyên quân phục và khí giới leo lên tàu. Trung tá chỉ huy trưởng Lưu Bính Hảo, nói nhỏ với tôi: – Chúng tôi đang kéo ra vùng ngoại ô, sẵn sàng để ngăn giặc thì được tin đầu hàng nên đành phải rút lui. Dứt lời, Hảo gục đầu vào thành tàu, im lặng không nói gì thêm nữa. Thiếu tá Dù Đỗ Duy Nghĩa cùng mấy anh em dù khác, sau khi bắn hạ xe tăng địch ở ngã tư Bẩy Hiền cũng bỏ chạy vì mất liên lạc với cấp chỉ huy. Phan Thanh Bình cũng là một chiến sĩ Dù, bắn hạ T54 ở Bà Quẹo, chạy về Phú Lâm, định rút về Lục tỉnh thì đường lộ đã bị Cộng quân chiếm đóng phải chạy sang Khánh Hội. Theo làn sóng dân chạy nạn, Bình tới được Trường Xuân thật tình cờ. Trung tá phi công Đinh Quốc Hùng cùng vợ và bốn con, lách qua đám đông, lọt được vào phòng chỉ huy gặp tôi: – Tàu chạy không bác? – Chạy! Hùng người to lớn, giọng nói sang sảng, đôi mắt thật sáng. Hùng biết tôi vì Tuyết, em gái Hùng cùng bạn học với Đan Hà trường nữ Trưng Vương. Mắt anh nhìn tôi hơi khác thường, có vẻ như năn nỉ. Hùng nói, không có tiền, chỉ có một trăm đô la do bà mẹ chia cho gia đình anh sau khi bán căn nhà, nhưng đã phải “chi” ở dọc đường để có thể lọt xuống tàu. Tôi hiểu ý anh muốn nói gì, nên trấn an: – Còn người là quý rồi, có ai phải trả tiền đâu. – Bác cần gì cháu giúp bác. – Anh chẳng bay được trên trời thì giúp tôi đi biển vậy. Đang lúc rối ren, không thủy thủ, Hùng đến với tôi thật đúng lúc. Đồng bào tràn lên tàu mang theo tin xe tăng T54 đã vào dinh Độc Lập. Cộng quân đang tiến vào thành phố trấn đóng các nơi trọng yếu. Ngân hàng Quốc Gia cũng đã bị chiếm. Nghe tin Công quân đang chiếm thủ đô, như đứng trên đống lửa. Luôn luôn phải tự nhủ: “Phải bình tĩnh, hoảng hốt sẽ mất hết”. Tránh không dám gặp, không dám nhìn mặt vợ con. Tôi cố xua đuổi hình ảnh Cộng quân đang kéo vào Kho Năm tìm bắt tôi đưa ra bắn trước mặt những người thân… Đồng bào trên tàu bỗng trở nên im lặng, không một tiếng lao xao. Thù hận không giúp thêm can đảm. Tình thương yêu mới cho thêm quyết tâm. Chuyến đi phải được an toàn và thành công, tôi vẫn còn đủ sáng suốt để nghĩ như vậy. Mấy ngàn đồng bào, gia đình thoát được nạn Cộng sản đã là nguồn cảm hứng giục tôi phải nhiều cố gắng… Cơ khí trưởng Phi báo tin tàu có thể khởi hành 12g30. Chỉ trong vòng mười lăm phút, ban tham mưu hải hành đã được thành lập gồm có: – Trần Khắc Thuyên, thiếu tá thuộc căn cứ Vạn Kiếp. – Trần Văn Dương, giáo sư trường trung học Hồ Ngọc Cẩn. – Lê Đình Hòa, nha sĩ. – Phạm Trúc Lâm, sinh viên đại học Minh Đức. – Đinh Quốc Hùng, trung tá Phi Công. – Nguyễn Hữu Thống, luật sư. – Ngô Đình Thiện, thượng sĩ Hải Quân giải ngũ. Ban an ninh được trao cho anh em quân đội: – Trung tá Cảnh sát Dã Chiến Lưu Bính Hảo, trưởng ban. Phụ giúp có Đỗ Duy Nghĩa (thiếu tá Dù), Nguyễn Quang Hải (dân sự) và một số anh em quân đội trẻ như Vĩnh Ta, Bùi Ngọc Hòa…. Về y tế chưa biết có ai thì Bác sĩ Trần Văn Kim lên phòng chỉ huy, mang theo một túi thuốc, tình nguyện giữ ban cứu thương. Tất cả mọi người đều tự nguyện gia nhập vào các ban, không phải mời gọi. Trong cơn khốn cùng, chúng tôi đã đến với nhau, quân cũng như dân. Thật không ngờ ban tham mưu hải hành, ban an ninh, ban cứu thương lại có thể thành hình mau lẹ như thế, trong một thời gian kỷ lục. Sau này nghĩ lại, tôi đã có một khuyết điểm lớn là thiếu ban tiếp tế. Năm 1979, khi đến Ulm thuộc Tây Đức thăm thân hữu, thiếu tá dù Đỗ Duy Nghĩa, tâm sự với nhóm thân hữu hiện diện: “Ở binh chủng Dù, tôi là thằng ba gai, bướng có hạng, nhưng không hiểu sao ở trên tàu Trường Xuân, tôi đã răm rắp tuân theo kỷ luật”. Mọi người nghe Nghĩa nói phá lên cười. 12giờ 30 lệnh khởi hành được truyền ra. Tàu Trường Xuân và những người trốn chạy Đi Tầu Trường Xuân bữa ở Singapore về cặp nước ròng, mũi hướng về Nhà Rồng. Thuyên và Dương vừa mở hết dây mũi và lái thì máy tàu nổ, chạy chầm chậm. Tàu chạy lên quãng sông rộng để trở mũi. Tàu vẫn cứ chạy chậm dù lái sang phải. Lái bẻ hết bên phải mà mũi vẫn không nhúc nhích. Tay lái không ăn, tầu phải cho ngừng chạy, cột dây cặp bến trở lại. Phi tháo télémoteur tay lái, nhận thấy ống dầu có đầy nước. Biết có phá hoại, Phi đổi sắc mặt. Tôi thoáng nghĩ chuyến đi có lẽ phải bỏ. Máy tầu có tốt mà hỏng tay lái thì cũng chẳng làm gì được. [youtube=https://www.youtube.com/watch?v=tlSTnpyx9e8&w=593&h=334] Tôi lo lắng hỏi Phi: – Có thể thay dầu ngay được bây giờ không? Ngập ngừng một lát, Phi nói: – Phải sử dụng hệ thống lái “sơ cua”. Để tôi xem đã, rồi báo cáo thuyền trưởng sau. 15 phút…. rồi 15 phút nữa… Thời gian như ngừng đọng. Ruột như lửa đốt. Chờ đợi lúc này quả là một hình phạt. Phi cho biết tay lái “sơ cua” còn có thể sử dụng được. Ngay lúc đó một anh lính Hải quân tình nguyện điều khiển tay lái phòng hờ nằm trong một phòng kín mãi phía sau lái, cách xa nơi chỉ huy đến hai mươi thước. Nước bắt đầu lớn. Không bỏ lỡ cơ hội, tôi cho mở hết dây lái chỉ giữ lại dây dọc và dây mũi. Nước lớn từ từ đẩy lái xa dần bờ… Người đông như kiến. Những cuộn khói đen đốt lò bốc lên cao. Tin quân Cộng sản kéo vào thủ đô dồn dập đưa đến. Tôi nín thở khi trông thấy cả chiều dài con tàu nằm vắt ngang sông. Những ghe lớn nhỏ, cả mấy giang đỉnh Hải quân đầy nhóc người bám vào tàu, đổ người lên. Cứ mỗi lúc tàu mỗi đông thêm. Bàng Thành Đức cũng lên được tàu vào dịp này. Nước lớn đẩy lái tàu quay dần, quay dần cho đến lúc con tàu trở mình 180 độ. Tàu vẫn nằm trên bến, mũi hướng ra khơi. Phi nhận
  4. Hồi tưởng lại chuyến đi Định Mệnh của tàu Trường Xuân

    Phạm Ngọc Lũy –

    Tháng 11/1974, tàu Trường Xuân ra Hòn Khói lấy muối để chở đi Singapore. Gió Đông Bắc thổi mạnh, lùa từng cơn gió giật vào vịnh, khiến những ghe nhỏ không thể cặp vào tầu để vợi muối. Số muối dự định chở sang Singapore phải bỏ lại đến 1 phần 3.

    Tàu Trường Xuân rời Việt Nam đang lúc tình hình chiến sự nghiêm trọng. Giao kèo chuyên chở hàng hóa trong vùng Đông Nam Á đến hết tháng 6/75 mới có thể trở về Việt Nam. Tôi thật sự lo lắng miền Nam không thể đứng vững, vì đồng minh đã bỏ chạy, còn Bắc quân có cả một hậu phương rộng lớn: Trung Cộng và các nước trong khối Liên Xô. Trường Xuân đến Singapore, ghé Bangkok, rồi đi Phi Luật Tân… Hết Cebu đến Manila, qua Ternate Nam Dương rồi đến Balik Papan thuộc Borneo. Tình hình đất nước ngày một khẩn trương. Qua đài BBC, VOA, hết Quảng Trị, Đà Nẵng, Qui Nhơn, đến Nha Trang, miền Cao Nguyên Trung Phần rơi vào tay Cộng Sản. Quân đội miền Nam tiếp tục di tản, cảnh dân chạy loạn thật hỗn loạn, bi thảm. Những sà lan, những ghe thuyền chở đồng bào tị nạn từ miền Trung trôi dạt ngoài biển, không lương thực, không nước uống. Hình ảnh những bao rác đựng xác trẻ con đem từ các sà lan xếp thành hàng dài ngoài bãi biển Vũng Tàu cùng những hình ảnh bầy trẻ lạc cha mẹ trong các trại tị nạn đã gây nhiều bàng hoàng và xúc động mãnh liêt.

    Tôi không phải là một sĩ quan trong quân đội cầm súng chống quân thù. Tôi là một nhà hàng hải, có thể giúp được gì cho Quê Hương, cho đồng bào trong cảnh khói lửa điêu linh này? Tôi rất muốn được giúp đồng bào tôi, được cùng chia xẻ với đồng bào trong giờ phút đau thương này. Ngồi trên con tàu cách xa quê hương ngàn dặm mà lòng tôi bồn chồn như lửa đốt…

    Tôi cố hồi tưởng và viết lại những sự kiện đã giúp cho 3628 đồng bào chúng tôi bất chấp hiểm nguy, cùng nhau vượt biển khơi để tránh khỏi rơi vào tay Cộng Sản và đi tìm Tự Do. Sau đây là diễn tiến của nhiều việc đã đưa đến chuyến đi định mệnh của tàu Trường Xuân. Những sự kiện mà sau này lúc ngẫm nghĩ lại thì tôi thấy dường như đã được sắp đặt một cách huyền diệu để đưa tàu Trường Xuân ra khơi, để thử thách mọi người trên tàu phải phấn đấu để đạt được niềm ước vọng quí giá là hai chữ Tự Do. Tàu Trường Xuân rời bến Kho Năm, Khánh Hội, Saigon hồi 1 giờ 25 phút trưa ngày 30/4/1975 sau khi Tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, và quân Cộng sản tiến chiếm Saigon hồi 10 giờ sáng…

    (1) Ngày 3/4/75, đài phát thanh Úc loan tin: “Quân đội Cộng sản còn cách Thủ đô Saigòn 60 cây số và đang tiến về Thủ đô không gặp sự kháng cự nào.” Tàu cặp bến Pare Pare, tôi loan tin trên cho thủy thủ đoàn. Tất cả đều muốn về với gia đình. Tàu Trường Xuân quyết định chỉ ghé Singapore lấy hàng rồi quay trở về Saigon.

    (2) Lúc ghé Singapore, Cơ khí trưởng tàu Trường Xuân đi phố chơi, ăn nhậu say, khi về đến cổng thương cảng thì bị vấp ngã, bị thương ở đầu bất tỉnh nhân sự. Cảnh sát phải chở đi nhà thương điều trị. Tàu Trường Xuân về đến Saigon, Cơ khí trưởng xin tạm nghỉ việc để điều trị vết thương. Vị Cơ khí trưởng này thường phát biểu ý tưởng có nhiều thiện cảm với phe bên kia cho nên tôi nghĩ rằng nếu anh ta không gặp tai nạn thì đến ngày 30/4 chưa chắc anh ta đã chịu xuống tàu để di tản và đến giờ phút cuối cùng thì không dễ gì tìm được một người Cơ khí trưởng.
    (3) Tàu Trường Xuân về đến Saigon ngày 17/4/75, cặp bến Thương cảng Khánh Hội gặp nước ròng nên tàu cặp bến quay lái (phía sau tàu) ra biển. Tàu đã đến hạn lên ụ để tu sửa đại kỳ hàng năm. Vì công xưởng hải quân bận việc nên tàu chỉ tu sửa những bộ phận cần thiết ngay tại bến thay vì nằm ụ cả tháng trời. Tàu lấy hàng 300 tấn sắt vụn, lấy 80 tấn dầu, 100 tấn nước ngọt và 10 bao gạo để chuẩn bị đi Manila. Tàu có thể khởi hành ngày 24/4/75 nhưng tôi nấn ná chưa khởi hành vì tình hình đất nước mỗi ngày một nghiêm trọng…

    (4) Tôi xin Công Ty Vishipco tuyển dụng Cơ khí trưởng Lê Hồng Phi. Mãi đến sáng ngày 29/4/75 Công Ty mới chấp thuận cho Cơ khí trưởng Phi nhận việc.

    (5) 5 giờ chiều ngày 29/4/75, tôi xuống tàu không gặp Cơ khí trưởng Phi, và sĩ quan phụ tá cho biết là Phi đã về nhà đưa gia đình ra bến thương cảng để cùng di tản. Tôi dùng phấn viết lệnh rời bến lên bảng đen cho thủy thủ đoàn: “Tàu rời bến ngày 30/4/75 hồi 11:30 sáng.”
    (6) 6 giờ sáng 30/4/75, Trần Khắc Thuyên chở tôi ra tàu cùng với Phạm Trúc Lâm. Đường sang thương cảng Khánh Hội bị chắn nhiều khu phố. Sau khi quan sát tàu, Thuyên đưa tôi về nhà để hướng dẫn hai xe GMC chở khoảng 200 người gồm gia đình, thân nhân và bà con lối xóm, ra thương cảng…

    (7) Bình thường trước khi tàu khởi hành, sĩ quan phụ tá phải cho thử tay lái trên đài chỉ huy để bảo đảm chạy tốt, và chính tôi cũng thân hành tự kiểm soát lại. Tuy nhiên sáng 30/4/75, tôi nhớ là đã tự nhủ phải đi kiểm soát lại tay lái xem có gì trục trặc không, nhưng tôi lại quyết định không thử tay lái vì bụng bảo dạ: “Giờ này mà còn đi lo những việc nhỏ… Cộng quân đã tiến vào Saigon rồi… Việc thử tay lái đã có sĩ quan phụ tá lo…” Rồi tôi lại tự trách sao lại đi lo những chuyện không đáng lo. Và thực ra không hiểu vì sao chính sĩ quan phụ tá lần đó cũng quên thử tay lái trước khi nhổ neo, vì nếu được biết trước tay lái đã bị hỏng hay bị phá hoại thì tôi đã không dám cho tàu rời bến.
    (8) 9 giờ sáng, Sĩ quan Vô tuyến điện Nguyễn Văn Diệt yêu cầu tôi ra cổng thương cảng để can thiệp với nhân viên cảnh sát gác cổng cho gia đình anh vào trong lên tàu để di tản. Ra đến cổng thì thấy đồng bào chạy nhớn nhác như một đại nạn đang ập đến. Không thấy gia đình, Diệt xin nghỉ ở lại tìm gia đình…

    Một thủy thủ đoàn tối thiểu phải có Thuyền Trưởng, Cơ khí trưởng và Sĩ quan Vô tuyến, nhưng bây giờ Sĩ quan Vô tuyến đã xin ở lại. Tôi đành phải chấp thuận vì biết dù có ra lệnh buộc anh phải đi cũng chẳng được… (Ba năm sau anh Diệt di tản bằng thuyền, định cư ở vùng Virginia. Sau bị tai nạn xe cộ đã mất.)

    Tôi buồn bã trở về tàu, trong lòng hoang mang lo ngại vì không biết tìm đâu ra một Sĩ quan Vô tuyến điện trong giờ phút này. Vừa về đến tàu thì gặp anh Nguyễn Ngọc Thanh, Sĩ quan Vô tuyến điện của một tàu khác đến xin nhận việc. Tôi mừng rỡ nhận lời ngay và thầm cảm ơn Trời Phật sao đã khéo léo xếp đặt. (Anh Nguyễn Ngọc Thanh đã mất tại Pháp quốc.)

    (9) Khoảng 12 giờ trưa, dân cũng như quân ào ào đổ xuống tàu. Cầu thang để leo lên tàu đã bị gãy. Cơ khí trưởng Phi báo tin tàu có thể khởi hành và tôi ra lệnh khởi hành. Vừa mở giây buộc cho tàu tiến nhẹ, bẻ nhẹ tay lái sang phải, tàu chạy thẳng. Tay lái không ăn! Tàu ngừng chạy, cặp lại bến. Tôi mới nhận ra là tay lái đã bị hỏng. Hệ thống tay lái dùng dầu ép để điều khiển bánh lái, nhưng sau được biết hệ thống điều khiển bánh lái đã bị kẻ nào phá hoại trút dầu ra và cho nước vào. Thật là một sự kiện kinh hoàng đến choáng óc. Tôi đã thoáng nghĩ đến việc hủy bỏ chuyến đi… Cơ khí trưởng sau khi xem xét lại hệ thống lái, cho biết tay lái phòng hờ còn xử dụng được. Trong suốt cuộc đời làm Thuyền trưởng tôi chưa bao giờ phải xử dụng tay lái phòng hờ, mà bây giờ lại không có lấy được một người thủy thủ biết lái. Chưa biết đối phó với tình huống nan giải thì một người đứng gần đó tự nguyện nhận điều khiển tay lái phụ…

    (10) Khoảng 13 giờ, nước bắt đầu lớn – thủy triều lên. Tôi cho mở giây ở phía lái tàu để tàu tự động xoay 180 độ trên sông, hướng mũi ra khơi… Ngay lúc tàu vừa rời bến, một cơn gió nhẹ thổi từ bờ đẩy tầu ra giữa sông. 13 giờ 25 tàu khởi hành. Từ đài chỉ huy, tôi ra lệnh lái tàu qua một ống loa dài chừng 20 thước dẫn đến người bẻ bánh lái ngồi trong một cái chòi ở phía sau tàu. Lúc đầu tôi ra lệnh sang phải 10 độ thì tàu lại hướng sang phía trái. Tôi chợt nhận ra ngay là núm điều khiển tay lái phụ chỉ ngược chiều với hướng tàu chạy. Bắt đầu từ đó, muốn tàu sang bên phải thì tôi lại ra lệnh ngược lại. Cứ thế mà đi trên sông.

    (11) Đến khúc sông rộng, tàu đang chạy ngon trớn, bỗng Cơ khí trưởng hét lên qua ống loa: “Thuyền trưởng cho bỏ neo ngay! Phải ngừng máy đèn!” Ai bỏ neo bây giờ? Bỏ neo rồi làm sao kéo neo lên? Máy tàu ngưng, tàu vẫn chạy ngon trớn. Đầu óc rối như tơ vò! Nhưng lúc này cần phải bình tĩnh, không thể làm một quyết định sai lầm. Tôi biết rằng không thể bỏ neo ngay lúc này khi máy trên tàu bị hỏng và sẽ không dùng máy để kéo neo lên được. Cũng không thể để tàu chết máy nằm dọc bờ sông vì khi nước triều xuống thì tàu sẽ mắc cạn và tầu sẽ lật nghiêng. Cách còn lại duy nhất mà tàu có thể tự cứu vãn là tìm cách cho tàu lên cạn, mũi ghếch lên bờ, chân vịt chìm dưới nước. Chờ máy sửa xong thì tàu sẽ tự rút ra được.

    Chiều xuống, tàu vẫn đâm mũi vào bờ chờ sửa máy. Hỏa châu của Cộng sản mừng thắng trận nổ vang rền, sáng rực khu Rừng Sát. Tàu không thể rút ra được vì không còn hơi ép cho nổ máy. Cái nguy căn bản nhất là không còn hơi ép để cho chạy máy đèn. Máy đèn chạy mới có thể có hơi ép làm nổ máy cái. Cơ khí trưởng Phi cho biết nhân viên châm dầu đã tự ý khóa hệ thống làm nguội máy đèn… Đây có thể là một hành động vô ý thức hay là phá hoại, nhưng tôi nghĩ bây giờ không phải là lúc xét xử và điều tra mà phải làm sao cứu vãn được con tàu. Tàu ở tình trạng hiểm nghèo. Tôi đã phải tự trấn an: “Cần bình tĩnh! Nếu tàu nằm mắc cạn ở đây chắc chắn Cộng sản sẽ bắt hết mọi người. Cùng lắm chúng xử bắn mình là cùng…” Tự nhủ như thế để tâm trí không bị rối loạn vì nếu làm những điều sai lầm trong giờ phút này là mất hết.

    Tàu kéo Song An từ Vũng Tàu về đi ngang vào đúng lúc này. Nhiều người lên tiếng kêu cầu cứu nhưng Song An vẫn chạy thẳng. Trong lúc đó có một chiếc tàu Hải quân nhỏ chạy từ hướng Saigon đến. Tàu Hải quân thấy vậy bèn nổ một phát súng thị uy. Tiếng nổ ầm vang chấn dội lồng ngực, Song An quay trở lại. Sau nhiều lần cố gắng kéo tàu Trường Xuân giây kéo đều bị đứt. Đến gần tối thì nước lớn, Song An mới kéo được tàu Trường Xuân ra sông, rồi tiếp tục kéo cho mãi đến 8 giờ ngày 1/5/75 mới tới Vũng Tàu.

    (12) Rút kinh nghiệm di tản từ miền Trung đã có bạo động trên những xà lan, cho nên tàu vừa rời bến Saigon, tôi đã kêu gọi thành lập Ban Trật tự và Ban Cứu thương. Nhờ sự tận tâm của Ban Trật tự nên không xảy ra bạo động. Nhờ Ban Cứu thương, đã có em bé sinh ra trên tàu, giữa biển cả, được mẹ tròn con vuông.

    (13) Vừa tới hải phận quốc tế, lệnh hạ khí giới được triệt để tôn trọng.

    Tàu khởi hành ra khơi mà tám cần trục kéo hàng vẫn chưa được hạ xuống. Thật là may mắn khi chúng ta gặp biển lặng và sóng êm. Nếu biển động những dây buộc cần trục sẽ bị đứt. Cần trục nặng cả tấn sẽ rớt xuống tàu và nhiều người có thể bị thương hay bị thiệt mạng vì tai nạn khủng khiếp này.

    (14) Gần tối ngày 1/5/75, sau khi vớt được anh Vũ Văn Thụ, tôi cảm thấy yên tâm hơn. Tôi tin tưởng đồng bào đều chứng kiến việc làm đầy thiện chí, lo lắng cho sự an nguy của một nhân mạng, mà mọi người cũng sẽ từ bỏ lòng vị kỷ và nghĩ đến những người đồng cảnh ngộ với mình.

    (15) Nhờ có Sĩ quan Vô tuyến gửi đi những tiếng kêu cầu cứu nên con tàu thiên thần Clara Maersk đã đến cứu và đưa chúng ta đến bến bờ Tự Do.

    (16) Ngày 2/5/75, khi tất cả mọi người đã được chuyển sang tàu Clara Maersk an toàn thì một người từ phòng máy đi lên, thấy tôi vẫn đứng một mình trên đài chỉ huy. Lòng tôi vẫn luyến tiếc con tàu đã cứu bao nhiêu đồng bào và gia đình mặc dù họ đã phải trải qua những hoàn cảnh cực kỳ nguy hiểm. Thân hữu này nhìn tôi với cặp mắt thật buồn rồi nói: “Tôi vừa ở phòng máy lên, phòng máy đã ngập nước. Thuyền trưởng phải rời tàu ngay.” Nói xong anh lặng lẽ bước sang tàu Clara Maersk.

    Tôi đã đi nhiều nơi và gặp nhiều thân hữu Trường Xuân, có để ý tìm gặp vị thân hữu này nhưng vẫn chưa tìm ra.

    Hội Ngộ Trường Xuân 30 năm ở Houston vào đúng ngày 30/4/2005, tôi đã gặp Đại Úy Cơ khí trưởng Nguyễn Thế Phiệt, người đã tự nguyện xử dụng tay lái phụ.

    Ngày 12/6/2006, tôi được gặp lại Trưởng Ban Lực Lượng Đặc Biệt Bùi Đăng Sự đi trên chiếc tàu Hải Quân nhỏ từ Saigon chạy ra. Anh đã bắn phát súng thị uy bằng súng phóng lựu M79, nên tàu Song An đã quay lại đưa 3628 người chúng ta ra khơi. Anh Sự và một số người trên tàu Hải quân đã lên tàu Trường Xuân trong lúc tàu Song An buộc dây kéo tàu Trường Xuân ra khỏi cạn.

    34 năm đã trôi qua mà hình ảnh và diễn tiến chuyến đi định mệnh của tàu Trường Xuân vẫn còn in rõ trong tâm trí tôi. Những sự kiện dường như đã được tiền định để cho tất cả chúng ta cùng gặp nhau trên con tàu để phải cùng phấn đấu và cùng đến được bến Tự Do.

    Phạm Ngọc Lũy

  5. Tôi thấy đa đảng là cân thiết cho dân tộc việt nam, nhưng nói việt nam không có công sản thì không đúng rồi. Đất nước tự do mọi người có quyền chọn lựa đảng phái cho mình, khi có tư do thì sự phát triển sẽ đúng quy luật, những cái lỗi thời xấu xa tự nó sẽ bị đào thải. Tôi thiết nghỉ khi có tự do đa đảng rồi người việt sẽ đào thải hết những cái xấu xa đẻ phát triển đi lên cùng nhân loại thế giới!

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s