Thư số 7: Gởi người lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

 

Phạm Bá Hoa

Tôi tên Phạm Bá Hoa, chào đời năm 1930 tại đồng bằng sông Cửu Long. Tôi phục vụ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 21 năm trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc, sau đó, tôi bị tù không án 12 năm 3 tháng trong các “trại tập trung” mà lãnh đạo của Các Anh gọi là “trại cải tạo”. Hiện cư ngụ tại Hoa Kỳ. Tôi chưa bao giờ, và sẽ không bao giờ về Việt Nam khi mà quê hương cội nguồn của tôi chưa có dân chủ, tự do, và nhân quyền thật sự. 

Xin được gọi “Người Lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam” là Các Anh để tiện trình bày. Chữ “người lính” mà tôi sử dụng ở đây, bao gồm từ người lính đến các cấp chỉ huy, ngoại trừ lãnh đạo cấp Sư Đoàn, Quân Đoàn, Quân Chủng, Bộ Tổng Tham Mưu, và Bộ Quốc Phòng, gọi chung là “cấp lãnh đạo quân đội”. Là người lính trong quân đội “Nhân Dân”, chắc rằng Các Anh phải có trách nhiệm bảo vệ Tổ Quốc Nhân Dân, vì Tổ Quốc & Nhân Dân là trường tồn, trong khi đảng cộng sản hay bất cứ đảng chính trị nào cũng chỉ là một giai đoạn của lịch sử. Và nội dung tôi gởi đến Các Anh được đặt trên căn bản đó.

Thời gian đang là tháng 5 năm 2012, nhớ lại tháng này năm 1975 là tháng bắt đầu cho thời gian hơn 20 năm của gần hai triệu người Việt Nam đã phải chấp nhận “vượt lên sự chết để tìm sự sống”, sống tự do, sống cho bản thân, cho các con, cho thế hệ mai sau, và sống cho quê hương dân tộc. 

Các Anh có biết tại sao không? Với thư này, tôi giúp Các Anh nhìn lại 37 năm trước, kéo dài đến nay và chưa biết còn bao lâu nữa, để có nét nhìn thiện cảm -không phải nét nhìn thù hận của người cộng sản- và trân trọng nhau trong tình đồng bào cùng là da vàng máu đỏ, cùng âm thanh tiếng nói Mẹ Việt Nam, qua những tài liệu từ cơ quan Liên Hiệp Quốc. Các Anh cũng sẽ nhận ra những đắng cay của lãnh đạo cộng sản quốc tế và quốc nội, khi nói về chủ nghĩa cộng sản. Nhưng trọng tâm của tôi là muốn giúp Các Anh thêm một lần nữa, nhận ra bản chất của nhóm lãnh đạo cộng sản Việt Nam.  

Trước khi vào bài, tôi nghĩ là Các Anh cần nhớ lại sự kiện 58 năm trước. Đó là nửa cuối năm 1954 ngay sau Hiệp Định Geneve chia đôi lãnh thổ Việt Nam trở thành hai quốc gia, sự kiện 875.478 người dân miền Bắc đã ào ạt chạy trốn cộng sản độc tài, vào miền Nam lập lại đời sống mới trên đất nước tự do, đã nói lên một cách hùng hồn về tính chất tàn bạo sắt máu của cộng sản mà trường hợp điển hình là chiến dịch “Cải Cách Ruộng Đất 1954-1956” đã giết 172.008 nạn nhân tại 3.563 xã. (Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-2000 của Viện Kinh Tế CSVN ấn hành). Với cuộc di cư vĩ đại nhất trong lịch sử Việt Nam đến lúc bấy giờ, “là cuộc bỏ phiếu bằng chân” của người dân nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, đã chứng minh mạnh mẽ sự chối bỏ một chế độ độc tài tàn bạo dưới sự cai trị của đảng CSVN.     

Nếu Các Anh là thế hệ trẻ, hãy hỏi lại người thân để hiểu thêm sự thật, giúp cho sự suy nghĩ của Các Anh có được nét nhìn chính chắn về sự kiện chính trị nói trên, để có kết luận theo nét nhìn của con người bình thường với những quyền căn bản mà Công Ước Quốc tế công nhận. Bây giờ mời Các Anh vào nội dung …

Chiến tranh Việt Nam là giải phóng hay xâm lăng?

Trong một cuốn sách mỏng (không nhớ tên) của xã hội chủ nghĩa mà “Đoàn 776 quân đội nhân dân” Các Anh bắt chúng tôi đọc hồi năm 1977 khi bị giam tại Trại Cốc, trong một thung lũng nhỏ phía nam thị xã Yên Báy khoảng 6 cây số. Nội dung cuốn sách cho thấy lãnh đạo của Các Anh đã chuẩn bị “chiến tranh xâm lăng” Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) chúng tôi từ cuối những năm 50 dưới dưới lớp võ “giải phóng miền Nam”, nối tiếp hành động đã giấu lại trên lãnh thổ VNCH chúng tôi hằng chục ngàn đảng viên cộng sản khi thực hiện kế hoạch rút quân (mà lãnh đạo của các anh gọi là tập kết) về xã hội chủ nghĩa trên đất Bắc theo qui định trong Hiệp Định Geneve tháng 7/1954. Điều này cho thấy lãnh đạo Các Anh bắt đầu chiến tranh xâm lăng VNCH từ đó, và bành trước qua từng giai đoạn cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 …   

Các Anh  hãy nhớ lại, …

“Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa” (VNDCCH) các anh theo chế độ cộng sản độc tài, đã thiết lập bang giao (mà các anh gọi là quan hệ) với 15 quốc gia (năm 1960), và đã trao đổi những cơ quan ngoại giao giữa thủ đô Hà Nội với thủ đô các quốc gia đó. Đây là sự thật.

“Nước Việt Nam Cộng Hòa” chúng tôi theo chế độ dân chủ tự do, đã thiết lập bang giao với 81 quốc gia (năm 1960), và đã trao đổi cơ quan ngoại giao giữa thủ đô Sài Gòn với thủ đô các quốc gia đó. Đây là sự thật.

Trong bang giao quốc tế, không có vấn đề tình cảm mà chỉ có quyền lợi quốc gia, huống chi là giữa VNCH chúng tôi với VNDCCH các anh không có bang giao, nên quyền lợi quốc gia càng mạnh mẽ hơn nữa. Vì vậy, quân của nước VNDCCH đánh chiếm nước VNCH, ngoài hai chữ xâm lăng ra, không có nhóm chữ nào khác sử dụng được trong trường hợp này. Đây là sự thật. Những nhóm chữ mà lãnh đạo Các Anh đã sử dụng qua từng giai đoạn để chỉ cuộc chiến tranh này, đều là tuyên truyền và dối trá.

Các Anh hãy nghe ông Mikhail Gorbachev, một thời là Tổng Bí Thư đảng cộng sản Liên Xô, vừa hối hận vừa than thở, khi ông nói: “Tôi đã bỏ một nửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản, ngày hôm nay tôi phài đau buồn mà nói rằng, đảng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá”. Chưa hết, ông Vladimir Putin,một thời là Tổng Thống nước Nga (năm 2012 lại đắc cử Tổng Thống lần nữa), quả quyết hơn: “Kẻ nào tin những gì cộng sản nói, là không có cái đầu (chắc là ông muốn nói kẻ đó ngu. PBH). Kẻ nào làm theo lời của cộng sản, là không có trái tim (chắc là ông muốn nói kẻ đó vô cảm. PBH).

Còn nữa, nhà văn Nguyễn Khải (trong nước) trong bài viết như vừa tâm sự, vừa tự hào ẩn chứa nỗi đắng cay của người cộng sản trước khi nhắm mắt xuôi tay: “… Là một chuyên gia nói dối có tổ chức, có chỉ đạo suốt gần 30 năm trời, tôi quá rành 1001 kiểu nói dối mà chính bản thân tôi đã nói dối lem lẻm, nói dối cứ như chuyện thật, nói dối một cách tự nhiên đến mức trở thành nhiệm vụ hàng ngày. Ngay cả khi biết mình đang nói dối với đồng bào, nhưng vẫn cứ phải nói dối, vì không nói dối mà nói thật thì mất miếng cơm, mất chiếc ghế, và .. mất mạng như chơi!”

Và đây là vài oạn trích trong bài viết của nhạc sĩ Tô Hải (cũng trong nước) thật rõ ràng và thằng thắn: “Trong lịch sử Việt Nam, chưa bao giờ trên đất nước này lại có một xã hội giáo dục cho công dân đừng sống trung thực, mà phải biết nói dối. Nói dối tỉnh bơ, nói dối không biết ngượng, nói dối càng giỏi càng đạt  nhiều thành tích!”…..  một đoạn khác, ông viết: “… Cuộc Nói Dối Vĩ Đại nhất là cuộc chiến tranh giải phóng Miền Nam khỏi tay Đế Quốc Mỹ Xâm Lược! Sự Thật đã bị đánh tráo quá trắng trợn! Hàng triệu con người đã mất xác mà đến nay đa số vẫn chưa tìm ra được, hàng vạn thương phế binh của cả hai miền, hàng triệu gia đình mẹ mất con, vợ mất chồng, con mất cha, chỉ vì Tổng Bí Thư Lê Duẫn đã từng nói rằng: “… Ta đánh đây là đánh cho Liên Xô, cho Trung Quốc”….

Lời của ông Lê Duẫn không phải là chính ông ấy, mà là trong ý nghĩa câu nói của ông Khroutchev, một thời là nhân vật đứng đầu đảng cộng sản Liên Xô.Ông Khroutchev đọc bản báo cáo tại đại hội các đảng cộng sản vào tháng 11/1960, có đoạn: “… Người cộng sản và giai cấp công nhân, sẽ cố gắng đấu tranh để đạt tới mục tiêu vĩ đại là chủ nghĩa cộng sản thống trị thế giới”…Tháng sau đó, khi thăm thủ đô Austria (Áo quốc), trong bài phát biểu của ông Khroutchev có dòng chữ ngắn: “Đời vắn lắm. Tôi ước ao sống tới ngày được nhìn thấy lá cờ đỏ bay phất phới trên toàn thế giới …”   

Dưới đây là trích vài đoạn trong bài viết không tên của Blogger  Huỳnh Thục Vy (trong nước) ngày 20/4/2012:

… “Kết quả là, “sự nghiệp giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước” đã không khiến Việt Nam trở nên hùng mạnh hơn, dân tộc ta trở nên kiêu hãnh hơn, mà đơn giản chỉ là biến một miền Nam trước “giải phóng” hơn hẳn Hàn Quốc, sau gần bốn mươi năm thống nhất, cùng với cả nước lẹt đẹt chạy theo sau cả Thái Lan. Nếu ta lấy cứu cánh là sự phồn thịnh của quốc gia, là an sinh hạnh phúc, là tự do nhân phẩm của mỗi một người dân làm chuẩn, thì liệu sự thống nhất ấy có nghĩa lý gì?”

“Đó là khi vấn đề được đặt dưới lăng kính lý luận. Còn thực tế thì mọi sự đã quá rõ ràng. Cái mà người ta gọi là “kháng chiến chống Mỹ cứu nước” ấy thực chất chỉ là để giúp Trung Quốc “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”. Hay như Lê Duẩn từng nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc, cho các nước, cho cả nhân loại”. Nói cho rõ ra, đó là cuộc chiến giúp cho chủ nghĩa Cộng sản bành trướng xuống Đông Nam Á theo tinh thần Quốc tế Cộng sản bất chấp tinh thần dân tộc, là giúp cho Trung Cộng dễ dàng Hán hoá một Việt Nam suy yếu sau cuộc chiến tương tàn khốc liệt”.

“Đã ba mươi bảy năm trôi qua kể từ ngày “giải phóng”, giải phóng miền Nam khỏi mối quan hệ đồng minh với Mỹ, để trở thành chư hầu hèn mọn của Trung Cộng. Sự thống nhất, sự giải phóng đó mới đau đớn làm sao! Gần bốn thập niên đã qua đi, dấu vết chiến tranh trên mảnh đất quê hương Việt Nam đã dần phai nhạt, nhưng những tổn thương của lòng người vẫn còn hằn sâu, thậm chí ngày càng sâu hơn”….

Trong thư số 1 gởi Các Anh hồi tháng 11/2011, phần đầu của Kết Luận là nhận định của tôi: “Chiến tranh 1946-1954, CSVN đánh thực dân Pháp không phải giành độc lập tổ quốc, mà là nhuộm đỏ một nửa giang sơn phía Bắc với chế độ độc tài tàn bạo hơn thời bị thực dân Pháp cai trị. Chiến tranh 1954-1975, nước Viêt Nam Dân Chủ cộng Hòa đánh chiếm nước Việt Nam Cộng Hòa, không phải để thống nhất đất nước, mà là nhuộm đỏ toàn cõi Việt Nam theo mục tiêu của cộng sản quốc tế là thống trị toàn thế giới”. 

Tôi dẫn lời của một số nhân vật một thời là lãnh đạo cộng sản quốc tế và trí thức trong nước, để chứng minh thật rõ ràng và xác định: “Nước cộng sản Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa của các anh, đã xâm lăng nước Việt Nam Cộng Hòa tự do của chúng tôi, trong mục đích cuối cùng là cộng sản thống trị toàn thế giới, mà CSVN là cánh tay nối dài của cộng sản quốc tế trong  vùng Đông Nam Á Châu”. Các Anh nhận ra rồi chớ?  

Vì xâm lăng nên thẳng tay chiếm đoạt tài sản.

Sau khi chiếm xong VNCH chúng tôi, lãnh đạo của các anh: (1) Nhanh chóng cướp 16 tấn vàng (gồm 1.234 thoi, mỗi thoi nặng từ 12 đến 14 kí lô) và hơn1.000 tỷ đồng tiền giấy dự trữ trong ngân khố quốc gia Việt Nam Cộng Hòa, do ông Huỳnh Bửu Sơn người giữ chìa khóa, và ông Lê Minh Kiếm người giữ mật mã các cửa hầm bạc, hướng dẫn và giao toàn bộ vàng bạc và sổ sách cho Hoàng Minh Duyệt. Cùng lúc, cướp những máy điện tử tối tân sử dụng trong các cơ quan cũng như tại các nhà ở, chuyển về Hà Nội và tất cả biến thành tài sản cá nhân. (2) Vô cùng tàn nhẫn khi đẩy hơn chục ngàn thương binh VNCH đang điều trị trong các Quân Y Viện và Tổng Y Viện ra đường phố, bất cứ họ có đi được hay không đi được! (3) Dối trá dưới lớp võ “tập trung cải tạo” để đẩy gần nửa triệu quân nhân viên chức VNCH cũ vào trong hơn 200 trại tập trung từ đồng bằng Cửu Long, núi đồi heo hút miền Trung, rừng già Lạng Sơn Yên Báy, đến trại Cổng Trời sát biên giới Việt-Trung, đày đọa 17 năm ròng rã mà không qua một cơ quan luật pháp nào, vừa thỏa lòng thù hận vừa cướp đoạt tài sản. (4) Đánh gục xã hội VNCH đang sung túc, xuống ngang bằng xã hội nghèo khổ đến tận cùng của Miền Bắc 20 năm xã hội chủ nghĩa, để thực hiện chính sách cướp đoạt nhà cửa, đất đai vườn ruộng, tiền bạc vòng vàng, cơ sở sản xuất, kinh doanh, thương mãi, vận chuyển, …. (5) Đào xới mồ mả trong các nghĩa trang quân đội VNCH chúng tôi, để tranh nhau từng khu đất nghĩa trang làm tài sản cá nhân.

Xin hỏi: “Các Anh có bao giờ nghe nói đến những sự kiện đó không?” Dĩ nhiên, đây mới là vài sự kiện trong hằng ngàn hằng chục ngàn sự kiện cướp đoạt tàn nhẫn của hằng triệu người dân VNCH chúng tôi, những người đã góp phần tạo nên một xã hội sung túc và phóng khoáng trong chế độ dân chủ tự do, rồi đày đọa  họ trong các trại tập trung như những Người Lính chúng tôi thua trận!

Kẻ xâm lăng là vậy đó, Các Anh nhận ra sự thật chưa?

Nhưng trên đây mới là nguyên nhân nhìn thấy từ bên ngoài, đã dẫn đến tình cảnh hằng triệu người VNCH cũ phải vượt biên vượt biển tìm tự do, đã để lại những dòng sông đẫm máu và xác người nhấp nhô trên biển cả mệnh mông, đến mức thế giới phải kinh hoàng trước sự can đảm tột cùng của người Việt Nam tự do, đồng thời cảnh tỉnh thế giới về chủ nghĩa cộng sản. Đây là cuộc chạy trốn cộng sản độc tài lần thứ 2 trong lịch sử Việt Nam.

Thống kê năm 2000 của cơ quan Cao Ủy Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, cho thấy những con số dưới đây:

Thứ nhất. Trong đợt di tản trong những ngày cuối tháng 4/1975, khoảng150.000 người thoát khỏi Việt Nam.

Thứ nhì. Vượt biên vượt biển là cuộc chạy trốn đông đảo nhất và bi thảm nhất trong lịch sử nhân loại nói chung, và lịch sử Việt Nam nói riêng, ròng rã trong 20 năm kể từ tháng 5/1975 đến năm 1995, chia làm 4 giai đoạn với 839.200 người đến bến bờ tự do tị nạn:        

Giai đoạn 1, từ tháng 5/1975 đến cuối năm 1979, có 14.600 người vượt biên giới trên đất liền, và 311.400 người vượt biển mà thế giới rất xót xa khi gọi là “Thuyền Nhân”. Cộng chung của giai đoạn 1 là 326.000 người tị nạn.

Giai đoạn 2, từ năm 1980 đến năm 1984, có 11.000 người vượt biên giới và 242.000 người vượt biển. Cộng chung của giai đoạn 2 là 253.100 người tị nạn.

Giai đoạn 3, từ năm 1985 đến năm 1989, có 10.500 người vượt biên giới và 186.500 người vượt biển. Cộng chung của giai đoạn 3 là 197.000 người tị nạn.

Giai đoạn 4, từ năm 1990 đến năm 1995, có 6.700 người vượt biên giới và 56.400 người vượt biển. Cộng chung của giai đoạn 4 là 63.100 người tị nạn.

Không một cơ quan quốc tế nào có đủ dữ kiện về số người Việt Nam vượt biên vượt biển đã bị bỏ xác trong rừng sâu và trên biển cả, mà các cơ quan truyền thông quốc tế, sau khi tiếp xúc phỏng vấn hằng chục ngàn người tị nạn tại các trại tạm trú Thái Lan, Mã Lai, Nam Dương, Phi Luật Tân, Hong Kong, họ ước tính cứ 3 người Việt Nam vượt biên vượt biển thì 2 người đến bến bờ tự do và 1 người chết. Như vậy, có khoảng từ 400.000 đến 500.000 người chết mất xác trên đường chạy trốn chế độ cộng sản độc tài!

Vào những ngày cuối tháng 3 năm 2005, một phái đoàn qui tụ nhiều thành phần xã hội trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn, từ nhiều quốc gia khác nhau mà đông nhất là từ Hoa Kỳ, cùng đến Mã Lai và Nam Dương là hai quốc gia đã đón nhận cưu mang khoảng 700.000 đến 800.000 đồng bào Việt Nam chúng tôi trong thời gian tạm trú, chờ đi định cư các quốc gia thứ ba. Một trong những câu chuyện cảm động nhất là lời thuật của người Mã Lai, rằng: “Khi chúng tôi hay tin tàu chở người Việt Nam vượt biển bị chìm, chúng tôi cùng kêu gọi nhiều người nữa ra biển vớt được “130 xác thuyền nhân Việt Nam”, và chôn trong một cái hố!”

Các Anh thử hình dung cái quang cảnh 130 xác người Việt Nam bập bềnh trên sóng nước vịnh Thái Lan? Các Anh nghĩ gì nếu như trông thấy 130 xác đồng bào lớn nhỏ nhầy nhụa ngổn ngang bị quẳng vào cái mồ chôn tập thể? Thật là thê lương! Thật là bi thảm! Nhóm lãnh đạo CSVN độc tài là nguyên nhân duy nhất đẩy dân tộc vào nỗi thê lương bi thảm này khi họ cai trị tàn bạo nghiệt ngã sau khi chiếm VNCH chúng tôi!  Không lẽ Các Anh lại vô cảm đến mức không một chút xót xa thương cảm nào gợn lên trong lòng Các Anh, trong khi Họ là những người có “chứng minh nhân dân do nhà nước nước Cộng Hòa XHCN Việt Nam của các anh cấp”?  Nếu vô cảm đến như vậy, Các Anh hãy nghe ông Boris Yeltsin, một thời là Tổng Thống Nga phát biểu: “Cộng sản không thể nào sửa chữa, mà cần phải đào thải nó”.                                

Và thứ ba. Với các chương trình Đoàn Tụ Gia Đình, Cựu Tù Nhân Chính Trị (HO), Con Lai, ..v..v…, bắt đầu từ năm 1990, dù rằng những năm trước đó lác đác đã có chương trình Đoàn Tụ Gia Đình. Số người thuộc các chương trình này đến Hoa Kỳ từ năm 1990 đến năm 2002 là 481.245 người, trong số đó có 112.000 cựu tù nhân chính trị. 

Cộng Đồng chúng tôi tị nạn CSVN vươn cao hơn dự tưởng.

Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại Hoa Kỳ, theo thống kê năm 2010 là 1.548.946 người, bằng 1.7%  dân số trong nước là 86.000.000 người. Làm chủ 229.000 cơ sở kinh doanh thương mãi, với doanh thu 28 tỷ 800 triệu mỹ kim (năm 2008), bằng 32.3% tổng sản lượng 89 tỷ mỹ kim của nước CHXHCNVN (năm 2008). Nên nhớ, khi chúng tôi đặt chân đến Hoa Kỳ chỉ là những bàn tay trắng, vì bị nhóm lãnh đạo cộng sản xâm lăng cướp đoạt hết rồi.

Về khối nhân lực quí giá trong Cộng Đồng chúng tôi, các anh sẽ rõ khi đọc hai đoạn trong bài viết “Khơi Dậy Nguồn Lực Chất Xám Của Việt Kiều” dưới đây của ông Nguyễn Phú Bình, năm 2005 là Thứ Trưởng Ngoại Giao nước Việt Nam cộng sản, kiêm Chủ Nhiệm Ủy Ban Về Người Việt Ở Nước Ngoài:    

 “… Trong số gần 3.000.000 người Việt Nam sinh sống định cư ở nước ngoài, ước tính có khoảng 300.000 người được đào tạo ở trình độ đại học và công nhân kỹ thuật cao, có kiến thức cập nhật về văn hoá, về khoa học, công nghệ, về quản lý kinh tế. Trong đó có nhiều người đạt vị trí quan trọng  trong các Viện Nghiên Cứu, Trường Đại Học, Bệnh Viện, Công Ty kinh doanh của các nước, và các tổ chức quốc tế. Tiềm lực khoa học và công nghệ của các thế hệ người Việt Nam ở nước ngoài không ngừng phát triển. Trong đó, một thế hệ trí thức mới, người nước ngoài gốc Việt, đang hình thành và phát triển,nhất là ở các nước Bắc Mỹ, Tây Âu, và Châu Đại Dương. Đội ngũ này tập trung ở nhiều lãnh vực khoa học chuyên ngành và kinh tế như tin học, viễn thông, điện tử, vật liệu mới, chế tạo máy, điều khiễn học, sinh học, quản lý kinh tế, ngân hàng, chứng khoán, ..v..v.. Theo ước tính, chỉ số học vấn đại học và trên đại học của người Việt Nam tại các nước công nghiệp phát triển gần ở mức trung bình của người dân sở tại….”

“……Chính thế hệ trẻ Việt Nam ở nước ngoài, đang làm thay đổi cơ cấu Cộng Đồng từng bước thay thế lớp người lớn tuổi. Thế hệ trẻ này đang trở thành một thành phần quan trọng của công tác vận động nhằm động viên khuyến khích sự hợp tác, đóng góp của họ vào công cuộc xây dựng quê hương đất nước. Thế mạnh của đội ngũ trí thức người Việt Nam ở nước ngoài là được đào  luyện, tiếp cận môi trường khoa học công nghệ tiên tiến, và nắm bắt được phương pháp quản lý kinh tế vĩ mô và chuyên ngành. Họ có khả năng phát kiến sáng tạo, có năng lực tổng hợp thông tin, tư vấn và tạo dựng mối quan hệ với các cơ sở khoa học, cơ sở kinh tế ở nước sở tại. Từ trước đến nay, đội ngũ trí thức kiều bào vẫn được các cơ quan chức năng trong nước đánh giá là thế mạnh của người Việt ở nước ngoài, là một nguồn lực có thể góp phần tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước….”

Tôi nhấn mạnh với Các Anh về khối nhân lực có trình đại học trở lên mà ông Nguyễn Phú Bình ước tính trong bài viết là 10% (300.000 trong tổng số 3.000.000 người). Về phẩm chất giáo dục (các anh gọi là chất lượng) ở bậc đại học Hoa Kỳ được công nhận là tân tiến trên thế giới, vì vậy mà số sinh viên từ các quốc gia đến Hoa Kỳ du học là 690.923 sinh viên trong năm học 2009-2010. Trong số đó, Việt Nam có 13.112 sinh viên. Vậy là Các Anh có thể tự mình đánh giá phẩm chất giáo dục của tuổi trẻ tốt nghiệp đại học Việt Nam với tuổi trẻ hải ngoại tốt nghiệp đại học tại Hoa Kỳ nói riêng và thế giới nói chung, để nhận ra sức mạnh về kiến thức của Cộng Đồng chúng tôi tị nạn cộng sản tại hải ngoại mà ông Thứ Trưởng Ngoại Giao các anh đã nhận định và mơ ước….   

Mời Các Anh đọc tiếp đoạn ngắn dưới đây nhà văn Dạ Ngân (trong nước), để có thêm dẫn chứng:

“… Nếu cứ đùa dai với truyền thống hiếu học thì sẽ còn chuyện học sinh đi du học hết. Các ông bố, bà mẹ hiện đại ở các đô thị, đang có xu hướng “ấn” con mình đi du học càng sớm càng tốt? Xu hướng này phản ánh điều gì về tâm lý và sự thay đổi trong xã hội hiện nay?

“Xin đừng quên người Việt mình rất chăm con, bất đắc dĩ người ta mới chịu xa con sớm và họ biết rõ, con mình sẽ “lóng ngóng” ở xứ người một thời gian dài. “Nhưng tại sao có tâm lý đua nhau cho con đi sớm” Chỉ vì cung cách của nền giáo dục không còn khiến người ta an tâm. Tính hiếu học của người Việt đang bị thách thức. Những người có tiền, không dại gì để con mình chịu đựng sự thể nghiệm mãi của những nhà cải cách và phải học theo kiểu “nhồi sọ” ở trường, lại còn phải học thêm học thêm mãi ….Ngày nay, nhiều người Việt ra nước ngoài là để tị nạn giáo dục”.

Chưa hết. Với bài “Trào Lưu Du Học Sớm” đăng trên Tiền Phong chủ nhật 24/4/2012 tại Hà Nội, cô học sinh Phạm Tâm Anh, lớp 10A trường trung học phổ thông ngoại ngữ, tháng 7 /2012 này sẽ du học Hoa Kỳ ở bậc trung học. Bài báo cho rằng: “Đây là một thách thức với nền giáo dục trong nước”. Quan điểm này cùng quan điểm với nhà văn Dạ Ngân là  “du học để tị nạn giáo dục”.    

Nhớ lại lúc tôi bị giam trong trại tập trung Long Giao cuối năm 1975, Thượng Tá công an tên Bình đã “dạy” chúng tôi rằng: “Tư bản chủ nghĩa đang giãy chết tại dinh lũy cuối cùng của nó là đế quốc Mỹ..” Có điều lạ là tư bản chủ nghĩa đã giãy 37 năm rồi mà chưa chết, trái lại càng giãy càng hùng mạnh hơn lên, đến mức nhóm lãnh đạo “đỉnh cao gian trá” m à Các Anh gọi là đỉnh cao trí tuệ, thay phiên nhau lặn lội nửa vòng trái đất để cầu lụy giúp đỡ. Trong cầu lụy này còn có chương trình cho sĩ quan các anh sang “đế quốc đang giãy chết” học sử dụng vài loại vũ khí, trong khi tuổi trẻ Việt Nam đua nhau sang Hoa Kỳ “tị nạn giáo dục” như lời của nhà văn Dạ Ngân.

Đến đây Các Anh đã nhận ra mức độ tệ hại của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa như thế nào rồi. Hãy nhìn xa hơn nữa để hình dung nền giáo dục này sẽ tác hại ra sao với những thế hệ sau Các Anh?  Và liệu đất nước Việt Nam sẽ như thế nào nếu nhóm lãnh đạo “đỉnh cao gian trá” cộng sản độc tài vẫn tồn tại? Tùy Các Anh …

Dưới đây là tóm lược bài “Cả Nước Đã Bị Lừa” của Châu Hiển Lý, là “bộ đội tập kết 1954”, để Các Anh có thêm nét nhìn nữa. Người Việt Nam tự do chúng tôi, khi nhìn vào sự kiện nào cũng nhìn từ nhiều phía với những tranh luận tìm đến nết nhận định chung, chớ không như “Các Anh chỉ được nhìn duy nhất một phía” do đảng cho nhìn”.

“ … Nhìn lại Việt Nam sau hơn nữa thế kỷ dưới chế độ cộng sản, hàng loạt các câu hỏi được đặt ra: (1) Năm 1954 sau khi thắng Pháp, tại sao gần 1 triệu người Bắc phải bỏ lại nhà cửa ruộng vườn di cư vào miền Nam? (2) Sau năm1975 , tại sao dân miền Nam không ồ ạt di cư ra Bắc sinh sống để được hưởng những thành quả của chủ nghĩa xã hội, mà chỉ thấy hàng triệu người Bắc lũ lượt kéo nhau vào Nam lập nghiệp? (3) Tại sao sau khi được “giải phóng khỏi gông cùm của Mỹ Ngụy”, hàng triệu người phải vượt biên tìm tự do trong cái chết  gần kề trên biển cả mênh mông? (4) Tại sao nhân viên trong các phái đoàn CSVN đi công tác hay đi tranh giải thể thao, thường hay trốn lại ở các nước tư bản dưới hình thức tị nạn chính trị? (5)  Tại sao đàn ông của các nước tư bản Châu Á có thể đến Việt Nam để chọn vợ như người ta đi mua một món hàng? (6) Tại sao Liên Xô và các nước Đông  Âu sụp đổ? (7)Tại sao có cuộc sống cách biệt quá xa giữa Đông Đức cộng sản  với Tây Đức tự do, giữa Bắc Hàn cộng sản với Nam Hàn tự do, và giữa Miền Bắc Việt Nam cộng sản với Miền Nam Việt Nam tự do? (8) Tại sao các lãnh đạo CSVN lại gởi con đi du học tại các nước tư bản thù nghịch “đang giãy chết”?

“Hỏi tức là trả lời. Người Việt Nam đã “bỏ phiếu bằng chân” từ bỏ một xã hội phi nhân tính. Mọi lý luận phản biện và tuyên truyền của nhà nước cộng sản đều trở thành vô nghĩa…. Sự thực đã quá hiển nhiên nhưng đảng cộng sản không dám công khai nhìn nhận, đó là họ đã hy sinh bốn triệu sinh mạng trong một cuộc chiến sai lầm, chỉ vì họ được đào tạo để chỉ biết có bài bản cộng sản, cho nên từ ba dòng thác cách mạng chuyên chính vô sản, lãnh đạo CSVN đã hy sinh hơn bốn triệu người, để rồi đi lòng vòng gần nửa thế kỷ, lại phải rập khuôn theo mô hình tư bản “đang giãy chết” để tồn tại…. “

“Con người có thể sống trong nghèo nàn, thiếu thốn. Nhưng người ta không thể sống mà không suy nghĩ, không nói lên ý nghĩ của mình. Không có gì đau khổ hơn là buộc phải im lăng, không có sự đàn áp nào dã man hơn là bắt người ta phải từ bỏ các suy nghĩ của mình và “nhai lại” suy nghĩ của kẻ khác…. Và tương lai nào sẽ dành cho dân tộc và đất nước Việt Nam, nếu cái tốt phải nhường chỗ cho cái xấu? Một xã hội mà cái xấu cái ác nghênh ngang, dương dương tự đắc, trong khi cái tốt cái thiện phải lẩn tránh, phải rút vào bóng tối, thì tương lai dân tộc này sẽ đi về đâu? Mượn 2 câu thơ sau đây củanhà thơ Bùi Minh Quốc, diễn tả xã hội ngày nay: “Quay mặt phía nào, cũng phải ghìm cơn mửa. Và một thời, đểu cáng đã lên ngôi!” Hết phần tóm lược.

Mời Các Anh nghe vài câu hát của nhạc sĩ Việt Khang Việt Nam ơi thời gian quá nửa đời người. Và ta đã tỏ tường rồi. Và nhận định của Khang: “Chiến tranh xảy ra tại Việt Nam mà không ở đâu khác, chỉ vì Việt Nam có đảng cộngsản”. Nghe tiếp 2 câu thơ của nhà thơ Trần Dần: “Tôi đi giữa phố phường. Chỉ thấy nước mắt sa trên nền cờ đỏ”. Và nhận định của ông Trần Độ, cựu Trung Tướng quân đội nhân dân Các Anh trong quyển nhật ký Rồng Rắn: “Tại sao chỉ có từ các nước xã hội chủ nghĩa và đặc biệt là từ xã hội chủ nghĩa Việt Nam, đến hằng mấy triệu người bất kể hiểm nguy sống chết khi ra đi tìm đường sống ở các nước khác?”

Các Anh hãy nhìn lại lịch sử thế giới từ đầu thế kỷ 20 khi đảng cộng sản lật đổ chế độ Nga Hoàng đến nay, có người dân nào từ các nước tự do chạy sang quốc gia do đảng cộng sản cầm quyền xin tị nạn không? Chắc chắn là KHÔNG. Từ đó, có khi nào Các Anh tự hỏi “tại sao không?” Nếu chưa bao giờ, thì hãy tự hỏi bản thân Các Anh, rồi đọc lại nội dung thư này sẽ có giải đáp cho Các Anh.            

Kết luận.

Như nói ở trên, điều mà tôi muốn gởi đến Các Anh trong thư này là bản chấtcủa cộng sản mà nhóm lãnh đạo Các Anh đã và đang thực hiện. Bản chất của đảng cộng sản là độc tài. Vì biết rằng không một dân tộc nào trên thế giới chấp nhận độc tài nói chung, và dân tộc Việt Nam nói riêng, nên phải che giấu bằng chính sách dối trá mà phương tiện là hệ thống giáo dục và hệ thống truyền thông trong tay đảng. Độc tài dẫn đến quyền lực, vì không có bất cứ cơ quan nào kiểm soát. Từ quyền lực dẫn đến độc đoán khi quyết định những chính sách ngang qua Quốc Hội dưới quyền lãnh đạo của đảng gọi là luật, tạo điều kiện cho một hệ thống tham nhũng bằng bất cứ hình thức nào mà mọi cấp mọi nơi cho là thích hợp khi áp dụng những văn bản đó, và quyết định độc đoán cao nhất là Hiến Pháp. Cuối cùng của độc tài là đạt đến quyền lợi cá nhâncho các đảng viên trong hệ thống tổ chức đảng với nhà nước ngày nay, và tùy lúc tùy nơi tùy từng vụ mà cấp lãnh đạo Các Anh “sẽ nhân danh bảo vệ đảng” để che chắn cho nhau bằng những cách mà họ cho là thích hợp.               

Một góc nhỏ của quyến lợi cá nhân trong bản chất của đảng cộng sản mà nhóm lãnh đạo CSVN “đã và đang nhiệt tâm” vơ vét bằng nhiều cách khác nhau, nhưng cách cưỡng chiếm đất đai đồng ruộng ao hồ của người dân, mà điển hình gần đây của những vụ dã man nhất trong lịch sử Việt Nam là vụ Tiên Lãng (Hải Phòng) ngày 5/1/2012, Văn Giang (Hưng Yên) ngày 24/4/2012, và Vụ Bản (Nam Định) ngày 8/5/2012.

Tôi gởi sự suy nghĩ này đến Các Anh, hãy bình tâm nhận định một chuỗi sự kiện mà  Các Anh vừa đọc qua, và suy nghĩ từ chiều sâu tâm hồn của chính mình chớ không phải tâm hồn của người đảng viên cộng sản. Mong Các Anh đừng đứng nhìn một cách vô cảm nữa mà hãy hành động “như một đầu tàu”, kéo theo 89 triệu bà con trên quê hương Việt Nam thân yêu, và mạnh dạn đứng lên giành lại quyền làm người từ tay cộng sản độc tài tàn bạo, một chế độ đã tạo nên một xã hội băng hoại bắt nguồn từ chính sách dối trá, ngu dân, để cùng nhau xây dựng một nền văn hoá khai phóng, nhân bản, khoa học, và phát triển một xã hội dân chủ pháp trị mà mọi người được hưởng một cách tự nhiên những quyền căn bản của mình. Nếu Các Anh “không thể đứng dậy làm đầu tàu” thì khi người dân đứng dậy, Các Anh hãy đứng về phía đồng bào mà hành động.

Tôi vững tin rằng, bà con trong Cộng Đồng Việt Nam tị nạn cộng sản tại hải ngoại -đặc biệt là Những Người Gốc Lính Chúng Tôi- vẫn hết lòng hỗ trợ Các Anh và quí vị đồng bào, những thế hệ làm nên lịch sử.

Xin hãy nhớ rằng  “Tự Do, phải chính chúng ta tranh đấu, vì Tự Do không phải là quà tặng”.


Texas, tháng 5 năm 2012 
Phạm Bá Hoa

2 comments on “Thư số 7: Gởi người lính Quân Đội Nhân Dân Việt Nam

  1. Đã qua được giai đọan ” phỏng giái” rồi!
    Nhìn lại cả chặng đường dân tộc Việt Nam chúng ta đã đi qua quả là gian khó quá
    Hy sinh cũng nhiều thật !
    Đau lòng quá khi nhìn lại quá khứ xa xưa
    Nhưng tôi vui lòng một điều là, cả dân tộc Việt Nam đều thức tỉnh với cái gọi là ” cộng sản”
    Ngày nay cộng sản chỉ là tiêu biểu cho ” sự lừa dối người ngu muội”, là chế độ tàn ác nhất trong các chế độ cũa loài người,…….và là ” thảm họa mà nhân dân các nước đã kinh qua và đang nguyền rủa chúng,….
    Không tuyên truyền nào có thể làm được điều ” giác ngộ ” này cho dân tộc Việt nam chúng ta bằng thực tế đang kinh qua
    Quả là đáng giá, cho sự hy sinh cũa bao nhiêu tinh hoa cũa dân tộc Việt Nam
    Không ai muốn điều này, nhưng lịch sử vẩn xoay và hy sinh vẩn có
    Tôi kính cẩn nghiên mình trước sự hy sinh cao cả cũa bao đồng bào và các chiến sỉ Quân lực Việt Nam đã hy sinh mình vì Tổ Quốc!

    Vì dân tộc Việt nam trường tồn, hy sinh!!

  2. – “BỌN TUI KHÔNG CÓ NGÁN ( SỢ ) ĐÂU !”
    – NHƯNG CHÍNH PHỦ MÌNH THÌ NGÁN TỤI NÓ LẮM !
    CÁM ƠN SỰ DŨNG CÃM CỦA CÁC BÁC NGƯ DÂN , NẾU CÁC BÁC NGÁN TỤI NÓ MÀ Ở NHÀ THÌ DÂN THÀNH THỊ TỤI TUI LÀM GÌ CÓ CÁ BIỂN MÀ ĂN .

    Ngư dân tiếp tục bám biển mưu sinh

    Những ngày này, từng đoàn tàu đánh cá ở khu vực miền Trung vẫn ngày ngày dong buồm ra khơi đánh bắt và mang về những khoang cá đầy…

    “‘Ôi, biển của mình thì mình ra đánh cá. Hoàng Sa hay Trường Sa gì cũng vậy hết. Ai cấm? Bọn tui không có NGÁN đâu!’ Thuyền trưởng Võ Nam, quê ở thôn Tây, xã An Hải, huyện đảo Lý Sơn – Quảng Ngãi nói giọng chắc nịch”.

    http://sgtt.vn/Kinh-te/164088/Ngu-dan-tiep-tuc-bam-bien-muu-sinh.html

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s