CXN_060112_1556_Quan hệ Quốc Phòng Mỹ – Việt là con số không to tướng

Châu Xuân Nguyễn
Một tài liệu của Trường ĐH QP Mỹ, trường duy nhất là đầu mối chính của quan hệ QP Mỹ Việt  mô tả quan hệ QP Mỹ Việt cho tới giờ phút này chỉ có một (duy nhất một) SVSQ QĐND qua học bên đó và có 1 SV Mỹ qua VN (không nói là đến giai đoạn này chưa).
VN xin mua phụ tùng của những cơ giới của VNCH để lại Mỹ còn chưa bán cho tới khi Nhân quyền được cải cách thì nói gì đến vũ khí sát hại. Hồi trước 75, SQ VNCH đi Mỹ học bay, học tham mưu, HQ đi học những khóa thuyền trưởng, nhận tàu v.v..Cố vấn Mỹ có mặt khắp chiến trường VN, đó mới là quan hệ song phương.
Người dân VN lại bị gạt, ngỡ rằng Mỹ đang thân thiện với VN, bé cái nhầm lớn rồi.
Melbourne
01.06.2012
Châu Xuân Nguyễn
————————————————–
Đại học Quốc phòng:
Xây dựng quan hệ chiến lược với Việt NamBởi Lewis M. SternTóm tắt

Đại học Quốc phòng Mỹ (NDU) đã đóng góp cho quan hệ “đối tác chiến lược “mới bắt đầu với Việt Nam qua các chuyến thăm của các quan chức quốc phòng cấp cao của Việt Nam, giúp đỡ Washington để thực hiện một truyền thống của các nước là chia sẻ thông tin về mỗi quốc gia đào tạo và trang bị cho lực lượng của mình và thực hiện việc đó. NDU cũng mong muốn trở thành cơ sở đón tiếp thường trực những khách mời từ VN trong tương lai. Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã có một cuộc nói chuyện với Hiệu Trưởng trường đại học NDU Phó Đô đốc Ann E. Rondeau và một phiên họp toàn thể với các nghiên cứu sinh cao cấp trong năm 2009, và Học viện Quốc phòng Chỉ Huy Trưởng Trung tướng Võ Tiến Trung đã đến thăm vào năm 2011, tiến hành các cuộc họp tại NDU và tiểu ban quốc hội về quan hệ quốc phòng song phương. Cả hai trường đều ước muốn tham gia vào nhiều trao đổi hơn về học tập, nghiên cứu chung, thông tin liên lạc giữa các chuyên gia, và những chuyến viếng thăm của nhà lãnh đạo, sinh viên và giảng viên. Tất cả là nhờ vào những nỗ lực của NDU dùng cách tiếp cận mới cho vấn đề cũ. (CXN: NDU tự tâng bốc mình)

Tải về PDF
Trước | Tiếp theo
Chúng tôi là một trường học. Chúng tôi ở đây là giáo sư và sinh viên, và các nhà nghiên cứu. Nhiều người trong chúng ta bận quân phục với nghĩa vụ quốc phòng và an ninh, nhưng cuối cùng chúng tôi vẫn là một trường học với tất cả mọi thứ như các thư viện, bài tập, máy tính, nghiên cứu, ấn phẩm, và điểm xếp hạng cuối khóa. . . . Chúng tôi có sự hiểu biết chung về tầm quan trọng của chuyện học tập liên tục, và đó là những gì chúng ta nên xem là lực thúc đẩy trong mối quan hệ của chúng tôi.

-Buổi lể chào mừng Học viện Quốc phòng Việt Nam (NDA), Chỉ Huy Trưởng Đại tướng Võ Tiến Trung bởi NDU Hiệu Trưởng Phó Đô đốc  Ann E. Rondeau , tháng 10 2011, Fort McNair Lesley J., Washington, DC.

Đối với các quốc gia đã có tổ chức quân đội, mối quan hệ song phương được đánh dấu bằng cách trao đổi nhân sự và kiến thức làm thế nào từng QG được tổ chức, đào tạo, và được trang bị. Hoa Kỳ đã hưởng lợi và giúp các quốc gia khác thông qua trao đổi như vậy. Một trong những trường hợp đáng chú ý nhất của những trao đổi này là sự phát triển của một mối quan hệ quân sự-với-quân sự giữa Hoa Kỳ và nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (SRV). Khi mối quan hệ quốc phòng song phương phát triển, và cả hai bên đã tìm ra một phương tiện đưa các nội dung chiến lược vào tương tác, mối quan hệ giữa Đại học Quốc phòng Mỹ (NDU) tại Washington, DC, và Học viện Quốc phòng VN (NDA) tại Hà Nội đã hình thành. Các bằng chứng gần đây nhất của sự thành công trong quan hệ quốc phòng ngày càng mạnh mẽ là chuyến thăm Washington của Chỉ Huy Trưởng NDA Trung tướng Võ Tiến Trung vào đầu tháng 10 năm 2011. Ông đã có các cuộc họp tại NDU và hội thảo với các nhân viên quốc hội về quan hệ quốc phòng song phương, nhấn mạnh lý do địa chính trị  quan trọng là nền tảng cho sự nhiệt tâm gần đây của Hà Nội để cải thiện an ninh quốc phòng và chiều sâu của mối quan hệ song phương.
Mối quan hệ giữa NDU và NDA đã được xây dựng trên các cuộc thảo luận để đáp ứng nhu cầu của cả hai quốc gia. NDU, dẫn đầu bởi Hiệu Trưởng Phó Đô đốc  Ann E. Rondeau , đã đóng một vai trò quan trọng trong mối quan hệ quân sự-to-quân sự giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, đặc biệt là khi cả hai nước đã tìm cách để nâng cao mức độ tương tác. Bộ quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ (DOD) thấy mối quan hệ như là một phương tiện tăng cường hợp tác giữa quân đội hai nước. Hơn nữa, cả hai trường được cam kết tăng số lượng trao đổi học thuật, nghiên cứu chung, thông tin liên lạc giữa các chuyên gia, và các chuyến thăm của lãnh đạo, giảng viên, và nhân viên chuyên môn, nghiệp vụ của giáo dục quân sự. Là một phần của một mối quan hệ lớn hơn, tham gia học tập này có rất nhiều hứa hẹn, nhưng nỗ lực này đã không đạt được qua đêm. Để nhìn được những bối cảnh của nỗ lực này, chúng ta cần phải đi trở lại gần một thập kỷ.Thiết lập bối cảnhTrong thời gian đầu của những năm 2000, là cơ hội để cải thiện mối quan hệ QG hình thành, các quan chức cấp cao VN trong Bộ Quốc phòng VN (MND) và Ngoại giao Việt Nam (MFA) luôn đề xuất một số điểm quan trọng về quan hệ Mỹ-Việt, cung cấp một công thức để cải thiện quan hệ song phương và định vị Hoa Kỳ trong những vấn đề khu vực trong đó phản ảnh vai trò chiến lược của Hoa Kỳ đối với Đông Nam Á. Cốt lõi của mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vẫn là vấn đề tin cậy lẫn nhau, vẫn là một điểm phức tạp cản trở hướng đi tới trong nhiều lãnh vực. Đó là thực tế đòi hỏi phải có chủ ý, tập trung vào công việc thuyết phục Việt Nam rằng quan hệ với Hoa Kỳ là có giá trị đầu tư.

Bắt đầu với chuyến thăm năm 2005 của Thủ tướng đương nhiệm Phan Văn Khải đến Washington, tuyên bố chung Mỹ-Việt phát hành vào thời điểm đó thừa nhận “chủ quyền” Của Việt Nam, hành động này chứng minh cho lãnh đạo của Hà Nội là mở rộng song phương chiến lược ngày càng tăng là khả thi. Ngay sau lễ nhậm chức của Tổng thống Barack Obama,  Việt Nam truyền đạt thông điệp của họ rằng họ thấy sự cần thiết và tầm quan trọng cho chính quyền của ông để xây dựng một mối quan hệ hiệu quả hơn với Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), trong đó có Việt Nam. ASEAN có tầm quan trọng trong khu vực hiện tại nhiều hơn trong quá khứ và ngày càng hệ trọng hơn trong mối quan hệ với các quốc gia khác và các đối tác chiến lược của Washington, như Ấn Độ và Nam Á. Ngoài ra, từ quan điểm của Hà Nội, Hoa Kỳ nên sẵn sàng có sự hiện diện nhiều hơn trên Biển Đông và các vấn đề của nó, HK có thể là QG tiên phong trước sự đồng thuận ASEAN bằng cách cảnh báo Trung Quốc về những hậu quả chính trị của việc tiếp tục quỹ đạo của TQ về vấn đề này đối mặt với một ASEAN thống nhất.
NDU President Vice Admiral Ann Rondeau welcomes General Phung Quang Thanh, Minister of Defense, Vietnam, to NDU, December 14, 2009

NDU  Hiệu Trưởng Phó Đô đốc  Ann E. Rondeau đón chào Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Việt Nam, NDU, ngày 14 tháng 12 năm 2009

NDU

Cùng với những vấn đề địa chính trị, Việt Nam đã liên tục tìm sự công nhận của Mỹ rằng chất độc da cam là một vấn đề được sự ủng hộ rộng rãi tại Việt Nam, tạo ra các áp lực cho Quốc Hội trong nước với những hậu quả cho chính sách quan hệ quốc tế. Một mối quan tâm trong việc tăng cường quan hệ với Hoa Kỳ là Việt Nam nhận thức rằng Quốc hội Mỹ liên tục tung những trừng phạt về nhân quyền của Việt Nam và chính quyền Obama đã không  tích cực chống lại các chuyện này.

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn đầu tư vào cải thiện quan hệ song phương, một điểm chứng minh rõ ràng trong Báo cáo Chính trị Đại hội toàn quốc lần thứ 11 của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tháng 1 năm 2011. Trong bối cảnh này, vai trò tích cực cho các trường đại học quân sự hàng đầu của mỗi quốc gia là một động thái tích cực.Các nỗ lực đầu tiênCác khái niệm của một mối quan hệ giữa NDU và NDA lần đầu tiên được đề cập trong chuyến thăm Washington của một phái đoàn NDA trong năm 2003, và đã được Hà Nội đề cập một lần nữa trong chuyến thăm Hà Nội năm 2005 của Trợ lý Ngoại trưởng Quốc phòng về an ninh quốc tế Peter Rodman. Đoàn đại biểu Việt Nam đã được thông báo về cơ hội học bổng quốc tế có thể đặt một ứng cử viên Việt Nam tại trường Cao đẳng Chiến tranh Quốc gia. Phái đoàn cũng đã có cơ hội để tham gia trong một trao đổi thường xuyên các ấn phẩm được sản xuất bởi Viện Nghiên cứu Chiến lược quốc gia (INSS). Các thành viên NDA tham gia chấp nhận các ý tưởng đặt ra tại cuộc họp NDU, nhưng không có bất kỳ bước tiến nào để có một mối quan hệ chính thức.

Trong năm 2008 và 2009, khả năng của một mối quan hệ chính thức giữa NDU và NDA đã được đưa ra bởi phía Hoa Kỳ ở các cấp độ cao cấp trong một số cuộc họp quan trọng. Các vấn đề của một mối quan hệ giữa các trường đại học đã được tóm lược cho quan chức cao cấp của Văn phòng của Bộ trưởng Quốc phòng HK (OSD), Vụ Chính sách và đại diện Bộ Ngoại Giao vào tháng mười năm 2008 hội nghị chính trị và quân sự, một cuộc đối thoại đầu tiên giữa Bộ Quốc phòng và Ngoại giao về phía Hoa Kỳ, MND và MFA về phía Việt Nam. Tháng 6 năm 2009 cuộc đối thoại về Chính trị và quân sự giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, được tổ chức bởi Bộ Ngoại giao HK, tập trung vào môi trường an ninh khu vực và toàn cầu, vấn đề an ninh song phương, các chương trình nhân đạo, và hợp tác quốc phòng. Quyền Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Greg Delawie dẫn đầu phái đoàn Hoa Kỳ gồm đại diện của Ngoại Giao, Bộ Quốc phòng, Bộ Thương mại, Nhân viên nhà Trắng, và Bộ chỉ huy Thái Bình Dương (USPACOM). INSS trình bày trường hợp của một chương trình khởi điểm về cam kết giữa trường đại học quốc phòng Mỹ và Việt, và nhắc lại lời mời từ lâu để gửi một viên chức Việt Nam theo học Trường Cao đẳng Chiến tranh Quốc gia như là một phần của chương trình học bổng quốc tế.Trong tháng 9 năm 2008, NDU mở một cuộc thảo luận không chính thức hàng quý giữa các học giả INSS và nghiên cứu sinh cao cấp từ NDU và các quan chức từ Văn phòng Tùy viên Quốc phòng CHXHCN Việt Nam và Chính trị Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam Section.1 SRV Đại sứ Lê Công Phụng hỗ trợ sáng kiến này, làm cho nó ngày càng dễ dàng cho Bộ Quốc phòng để nắm lấy một số sáng kiến liên quan đến đối thoại chiến lược và chính sách, các cuộc thảo luận bàn tròn tại NDU, và các chương trình tại Hà Nội để truy cập vào các nhóm nghiên cứu INSS. Hơn nữa, Đại sứ quán CHXHCN Việt Nam đã mời INSS dạ tiệc khiêu vũ cho đoàn đại biểu chính thức trong tương lai khi ghé Washington. Ở mức tối thiểu, điều này có nghĩa là hàng năm Hoa Kỳ tham gia với hai ủy ban Quốc Gia, Ngoại Giao cùng Quốc Phòng, cũng như của phó giám đốc của Tổng tham mưu. Tham gia trực tiếp và hoạt động giữa NDU và NDA sẽ xảy ra trong năm tới.
Trong đầu tháng 11 năm 2009, bên lề lần 13 Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) Hiệu trưởng các trường Đại học Quốc phòng, Cao đẳng, tổ chức Hội nghị (HDUCIM) ở Bangkok,  Hiệu Trưởng Phó Đô đốc  Ann E. Rondeau sau đó đã gặp chỉ huy của NDA, Tướng Nguyễn Như Hoạt. Họ đồng ý rằng bước đầu tiên cần được báo cáo chất lượng và giai điệu tích cực của cuộc họp đầu tiên này đến chính quyền của họ, tiếp theo là nỗ lực ở cấp làm việc để phác thảo các khả năng tăng cường quan hệ song phương giữa hai tổ chức. Điều quan trọng là, hai nhà lãnh đạo đồng ý xem xét kế hoạch cho một cuộc họp giữa các nhân viên của mình và các chuyên gia chịu trách nhiệm nghiên cứu, giảng dạy, phát triển chương trình giảng dạy, tiếp cận cộng đồng quốc tế, sản xuất ấn phẩm, và tổ chức nghiên cứu khu vực cho các mục đích của một “trao đổi thông tin.”
Tướng Hoạt đồng ý với ý tưởng của 1 mối quan hệ song phương mạnh mẽ hơn và nhấn mạnh một quan tâm đến hợp tác về “nghiên cứu chiến lược”. Ông đồng ý để mời Hoa Kỳ gửi một sinh viên của khóa học của Việt Nam NDA quốc tế ‘và tuyên bố sẵn sàng gửi một sinh viên sĩ quan đi NDU. Ông đồng ý rằng các bước hợp lý tiếp theo sẽ là xác định một cơ hội cho giảng viên và nhân viên để đáp ứng và chia sẻ thông tin cơ bản về cơ cấu tổ chức tương ứng, chương trình giảng dạy, thực tiễn giảng dạy, và các quy tắc và quy định cho sinh viên và giảng viên Tướng Hoạt. nghĩ rằng NDU và NDA nên nhìn vào một loạt các tương tác bao gồm các học giả-học giả, trao đổi học bổng sinh viên tại các ĐH quốc phòng tương ứng trong bối cảnh quan hệ quốc phòng song phương.Tường trình lên cấp Bộ trưởngTrong tháng 12 năm 2009, Đại tướng Phùng Quang Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng CHXHCN Việt Nam, trở thành bộ trưởng quốc phòng thứ hai đến thăm NDU.2 Tướng Thanh đã thông qua phương pháp tiếp cận như các cuộc thảo luận giữa  Hiệu Trưởng Phó Đô đốc  Ann E. Rondeau  và Tướng Hoạt ở Bangkok, bày tỏ sự tin tưởng với giám đốc NDA của mình . Tướng Thanh mời Hiệu Trưởng Phó Đô đốc  Ann E. Rondeau  thăm Việt Nam, một lời mời đã được nhắc lại trong cuộc gặp với Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates bên lề Đối thoại Shangri-La hàng năm ở Singapore, được tổ chức bởi Viện Quốc tế Nghiên cứu Chiến lược Tháng Năm / Tháng sáu 2.010,3 cam kết của mình về quan hệ NDU, NDA là động lực để tiến về phía trước với sáng kiến này.

Trong tháng 8 năm 2010, một đoàn liên ngành dẫn đầu bởi Phó Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng (DASD) cho châu Á và Thái Bình Dương, an ninh, Robert Scher đi thăm Hà Nội để tham gia buổi khai mạc Đối thoại đầu tiên Mỹ-Việt Nam về Chính sách Quốc phòng. Trung tướng Nguyễn Chí Vinh, Thứ trưởng Quốc phòng, dẫn đầu phái đoàn Việt Nam. Cuộc họp bắt nguồn từ sự cam kết của BT Quốc phòng HK với Tướng Thanh để thiết lập một cơ chế giữa OSD và MND để trao đổi quan điểm chính sách về các vấn đề song phương, khu vực và toàn cầu cùng mà 2 bên cùng quan tâm. Tầm quan trọng của việc thiết lập kết nối thể chế giữa hai trường đại học quốc phòng cấp quốc gia là một phần của cuộc đối thoại quân sự song phương này và sẽ được phản ảnh trong một biên bản ghi nhớ chính thức của sự đồng thuận đó và sẽ được trình bày tại Việt Nam tháng sau và mở mang các cuộc thảo luận tiếp theo tại NDU.

Vai trò của trường Đại học Quốc phòng

Ngày 19 tháng 9 năm 2011, Ông DASD vùng Nam và Đông Nam Á (chính sách OSD) và Thứ trưởng Quốc phòng Vinh đã ký biên bản ghi nhớ cho Tài liệu này xác định 5 lĩnh vực mà trong đó cả hai bên sẽ làm việc để mở rộng hợp tác “thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương.” : hợp tác an ninh hàng hải , hợp tác tìm kiếm cứu nạn, các hoạt động gìn giữ hòa bình, nhân đạo và cứu trợ thiên tai, và hợp tác giữa các trường đại học quốc phòng và các viện nghiên cứu.

Tài liệu nói đến các nguyên tắc của hợp tác, chủ yếu gìn giữ các sự quan tâm của VN về tình hữu nghị, tin tưởng, tôn trọng lẫn nhau, và không liên kết “độc lập, tự chủ và chủ quyền”, và nhắc lại mối quan tâm của Mỹ rằng mối quan hệ cùng có lợi và tạo ra tiếng vang tích cực về an ninh quốc phòng khu vực. Cung cấp một “khuôn khổ” hợp tác nhằm mở rộng sự tham gia thực tế song phương trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh và thúc đẩy một “tầm nhìn chung cho hợp tác quốc phòng và thành lập một” cơ chế ” xác định và thực hiện các lĩnh vực mới cho hợp tác quốc phòng. Điều này có thể đơn giản như các cơ sở liên ngành hiện có cho việc ra quyết định chính sách hoặc sự xuất hiện của một liên ngành của Bộ Quốc phòng, Ngoại giao và các nhà hoạch định USPACOM và các cố vấn sẽ là những người điều hợp chính.Thỏa thuận được đề xuất đã được phê duyệt ở cấp Thủ Tướng. Bộ trưởng quốc phòng VN có “tam giác cố vấn”-Viện Chiến lược quân sự (MSI), Viện Quan hệ Quốc phòng Quốc tế  (IDIR), và Quan hệ Đối ngoại, đã được tham gia trong việc rà soát các văn bản Hoa Kỳ đề xuất, đưa ra những đề xuất đối kháng của Việt Nam, và tổ chức các cuộc thảo luận để dẫn đến sự hoàn thành của biên bản ghi nhớ (MSI đã được đổi tên thành Viện Nghiên cứu Quốc phòng năm 2011). Trong văn bản của các tài liệu liên quan đến quan hệ trường đại học quốc phòng , Hoa Kỳ đã tìm cách để bao gồm các tổ chức và các đối tượng vượt ra ngoài mối quan hệ NDU-NDA Tìm cách thực thi những mối quan hệ như vậy, ngôn ngữ tham chiếu về tương tác song phương giữa Mỹ và Việt Nam là “tổ chức nghiên cứu,” có nghĩa là duy trì các liên kết ban đầu được chính thức hóa giữa INSS và MSI. Quan điểm của NDU là nên ưu tiên về trao đổi đoàn, học sinh, và các ấn phẩm của hai bên cùng quan tâm, thúc đẩy sự tham gia và tương tác giữa các giảng viên, nhân viên, và học sinh, phát triển cuộc đối thoại giữa các chuyên gia của Hoa Kỳ và Việt Nam, và thúc đẩy việc trao đổi của ý tưởng và nguồn lực.
Điều quan trọng là, động lực cho các thỏa thuận quốc phòng (một khuôn khổ hợp tác giữa các quan chức quốc phòng cấp cao) đến từ các cuộc thảo luận giữa Bộ trưởng Gates và Thủ tướng Nguyễn Dũng Tân trong chuyến thăm Lầu Năm Góc năm 2008, khi cả hai nhà lãnh đạo nhất trí thành lập một cơ chế giữa OSD và MND để trao đổi quan điểm chính sách về các vấn đề cùng quan tâm. Các phiên khai mạc cuộc đối thoại đã diễn ra trong tháng 8 năm 2010 và thành lập cơ sở cho cuộc thảo luận về cách để cải thiện hợp tác quốc phòng song phương trong các lĩnh vực. Hoa Kỳ, sau phiên họp đã có suy nghĩ rằng các cuộc thảo luận đã xảy ra một cách thẳng thắn và cởi mở, và xác định một sự quyết tâm mới của Việt Nam để thúc đẩy hợp tác song phương qua các hình thức tập trận chung.
Trong những tháng đầu năm 2011, OSD thảo một tài liệu Khung Chiến lược Quốc phòng quan hệ Mỹ-Việt Nam  đã được luân chuyển ngày 01 Tháng Tư 2011. Tài liệu này có nguồn từ những đề nghị đầu tiên trong chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh tới Washington vào ngày 14-15 Tháng Mười Hai, 2009, sau khi dừng chân ở Hawaii, nơi ông đã gặp các chỉ huy USPACOM. Trong phần Washington của chuyến đi của ông Thanh, Bộ trưởng Quốc phòng Thanh gặp Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, và đống ý một thỏa thuận về nguyên tắc liên quan đến các điều khoản để mở rộng hợp tác song phương trong năm lĩnh vực chính: thiết lập đối thoại cấp cao thường xuyên giữa Bộ Quốc phòng Mỹ và MND VN, an ninh hàng hải , tìm kiếm và cứu nạn, các hoạt động gìn giữ hòa bình, và hỗ trợ nhân đạo và thiên tai relief.4
Làm việc thực tiễnNgày 28 Tháng Chín, 2010,  Hiệu Trưởng Phó Đô đốc  Ann E. Rondeau  chào đón Trung tướng Nguyễn Chí Vịnh như là một khách mời của NDU. Trung Tướng Vịnh đã tới Washington trong một chuyến viếng thăm 4 ngày với mục tiêu thảo luận sự hỗ trợ của Việt Nam cho Hội nghị ASEAN sắp tới của các Bộ trưởng Quốc phòng, được tổ chức tại Hà Nội tháng 10.2010 và trong các tháng vài cuối cùng của nhiệm kỳ của Việt Nam là chủ tịch ASEAN. Đây là cuộc họp đầu tiên của nhóm này của các nhà lãnh đạo quốc phòng khu vực cộng với các đối tác đối thoại, trong đó có Hoa Kỳ. Trong khi tham dự sự kiện này tại Hà Nội, Bộ trưởng Gates đã tiến hành các cuộc đàm phán đối tác với lãnh đạo của các cơ sở quốc phòng Việt Nam.Mục đích thứ cấp của Trung Tướng Vĩnh đến Washington để thảo luận với NDU khả năng của một mối quan hệ chính thức giữa INSS và hai viện của Bộ Quốc phòng, IDIR và MSI. Thứ trưởng đồng ý xem xét các cuộc họp giữa các nhân viên và các chuyên gia chịu trách nhiệm nghiên cứu, giảng dạy, chương trình phát triển, tiếp cận cộng đồng quốc tế, sản xuất ấn phẩm, và nghiên cứu tổ chức khu vực cho các mục đích “trao đổi thông tin”. Mặc dù ông khuyến khích mối quan hệ chặc chẻ với NDU và nhấn mạnh quan tâm đến hợp tác trên các hội nghị trong lĩnh vực “nghiên cứu chiến lược”, ông đã không hoàn toàn sẵn sàng để cam kết hợp tác nghiên cứu. Ông đồng ý rằng cả hai bên nên tìm kiếm cơ hội đăng cai tổ chức các đoàn đại biểu của đội ngũ nhân viên và các chuyên gia, và đã đồng ý mời Hoa Kỳ để gửi một sinh viên tham gia khóa học tiếp của NDA chương trình sinh viên quốc tế. Trung Tướng Vịnh nói sẵn sàng để gửi một sinh viên sĩ quan trường Cao đẳng Chiến tranh Quốc gia trong năm 2011 và xác định giám đốc IDIR là ứng cử viên có khả năng tham gia. Ngoài ra, nói chung, Tướng Vịnh rất sinh động khi nghĩ về một khóa sinh VN tham dự West Point.5

Hỗ trợ cấp caoTrong cuộc họp Bộ trưởng Gates tháng 10 năm 2010 với Bộ trưởng Quốc phòng Thanh bên lề Đối thoại Shangri-La, hai bên thông qua kết quả của cuộc họp ngày 28 tháng chín, trong đó đưa ra các mối quan hệ chính thức giữa các INSS, IDIR, và MSI. Bộ trưởng Quốc phòng Thanh lưu ý rằng ông đã mời Chủ tịch NDU thăm Việt Nam lúc Ông đi thăm Fort McNair J. Lesley trong tháng 12.2009, và yêu cầu Bộ trưởng Gates để truyền đạt lời mời lại. BT Gates trả lời rằng ông sẽ yêu cầu Hiệu Trưởng Phó Đô đốc  Ann E. Rondeau lên kế hoạch thăm Việt Nam càng sớm càng tốt.
Trong ARF HDUCIM 14, được tổ chức bởi NDU của Việt Nam trong tháng mười một 2010, Đại tướng Võ Tiến Trung thay thế Tướng Hoạt, chính thức mời Hiệu Trưởng NDU thăm Việt Nam và NDA trong năm 2011. Tướng Trung và  Hiệu Trưởng Phó Đô đốc  Ann E. Rondeau  thảo luận thúc đẩy quan hệ giữa các trường thông qua trao đổi đoàn, sinh viên, và các ấn phẩm. Hai nhà lãnh đạo cũng đã thảo luận làm thế nào NDU có thể góp phần tăng cường đối thoại chiến lược học tập về những vấn đề trong khu vực Đông Nam Á.
Tướng Trung thảo luận về đề nghị Việt Nam tạo ra một Viện ASEAN An ninh Quốc tế học, mà  các thành viên ARF hợp tác chặt chẽ hơn bằng cách làm việc với nhau để nghiên cứu những thách thức phi truyền thống và tăng cường chia sẻ thông tin giữa các tổ chức khu vực.  Hiệu Trưởng Phó Đô đốc  Ann E. Rondeau sẵn sàng làm việc song phương với Việt Nam về đề nghị này để xem nếu NDU có thể giúp đẩy nhanh quá trình thành lập một viện nghiên cứu như vậy, lưu ý rằng Ấn Độ và Hàn Quốc đã quan tâm đến phát triển tương tự như các học viện khu vực và có thể có một cách để đạt được kết quả bằng cách làm việc với các bên quan tâm trong cơ quan này.6
NDU President Vice Admiral Ann Rondeau gives presentation to class at Vietnam’s National Defense AcademyNDU  Hiệu Trưởng Phó Đô đốc  Ann E. Rondeau giảng thuyết lớp học tại Học viện Quốc phòng Việt NamNDU

Một cuộc thăm viếng thân thiện

Hiệu Trưởng Phó Đô đốc  Ann E. Rondeau và đoàn đại biểu từ NDU đã đến thăm Việt Nam trong tháng 4 năm 2011.Đây là một chuyến thăm được tổ chức tốt, điều này chứng minh mức độ chân thành của Việt Nam về mối quan hệ. Báo chí tường thuật các cuộc họp của đô đốc với Bộ trưởng Quốc phòng nhấn mạnh sự quan tâm lẫn nhau trong nỗ lực nhằm thêm chiều sâu chiến lược của mối quan hệ quốc phòng song phương, nó cũng công nhận niềm tin ngày càng tăng rằng các nhà tư tưởng chiến lược và giáo dục quân sự chuyên nghiệp đang thực hiện các bước cần thiết để hội tụ những nhà trí thức quốc phòng, nhà chiến lược, và sinh viên về quốc phòng và an ninh với nhau để đạt được các mục tiêu thảo luận trong cuộc họp giữa Bộ trưởng Quốc phòng Gates và Bộ trưởng Quốc phòng Thanh.2010 tháng mười  7

Trong thời gian chuyến thăm, Hiệu Trưởng NDU nhấn mạnh rằng mỗi trường đại học quốc phòng cần phải xác định một chuyên gia có thể tương tác lẫn nhau, đại diện cho cộng đồng tương ứng để đóng góp và trao đổi thông tin hàng tháng về phát triển của trường đại học, về  các khóa học được cung cấp, thay đổi cách tổ chức, giảng viên mới, tổ chức hội nghị, hội thảo kế hoạch, và đi công du bởi các giảng viên và nhân viên nước ngoài. Làm được vậy là một điểm khởi đầu trong việc xây dựng một cơ sở cho việc giao tiếp giữa hai trường, và giúp cho mỗi bên nhận thức những phát triển, kế hoạch, và mục đích trong lĩnh vực giáo dục quân sự và nghiên cứu chiến lược.Tập trung vào liên kết này sẽ tăng thêm kết nối cho mối quan hệ mà nếu không sẽ phụ thuộc vào những cuộc viếng thăm bất thường, và làm cơ sở cho sự tương tác.

Đoàn đại biểu NDU nói với đối tác của chọ rằng họ muốn học giả quốc phòng Việt Nam và Mỹ liên hệ bán chánh thức, so sánh ý tưởng, chia sẻ các ấn phẩm, phát triển các mối quan hệ cá nhân, và tạo một động lực cho các cuộc đối thoại liên tục giữa người giáo viên và giữa các nhà nghiên cứu. Để phục vụ lợi ích đó, đoàn đề nghị theo đuổi ý tưởng đó và hoán chuyển danh sách các đoàn làm việc và các nhóm nghiên cứu mỗi bên.Nhận thức một bước quan trọng trong mối quan hệ của họ, Hiệu Trưởng Phó Đô đốc  Ann E. Rondeau  nói với chủ nhà của mình rằng NDU đang mong chờ sự nhập khóa của Đại tá Hà Thanh Chung, sĩ quan Quân đội nhân dân, người sẽ là một thành viên của khóa 2012 của trường Cao đẳng Chiến Tranh Quốc gia.  Hiệu Trưởng Phó Đô đốc  Ann E. Rondeau xác nhận đã có một nhóm hỗ trợ sẽ có trách nhiệm làm việc với đại tá trong thời gian cư trú của mình ở Washington để đảm bảo rằng ông có thể tận dụng tối đa cơ hội học và làm việc này. Đoàn đại biểu NDU nhấn mạnh tầm quan trọng của nguyên tắc có đi có lại, lập luận rằng Hoa Kỳ mong muốn được làm việc với NDA để gửi một sĩ quan quân đội Mỹ hoặc trí thức dân sự của NDU để tham gia hội thảo cho người nước ngoài tại học viện NDA.Trong chuyến thăm Việt Nam, đoàn đại biểu NDU gặp người đứng đầu mới của Khoa kinh tế và nghiên cứu, và nhận được một cuộc thông báo về nhiệm vụ của quân đội Việt Nam và tổ chức lãnh đạo.  Hiệu Trưởng Phó Đô đốc  Ann E. Rondeau đã nắm lấy cơ hội để tái khẳng định tình hữu nghị của các nhà lãnh đạo cấp cao đã đến thăm Việt Nam. Một cuộc viếng thăm Bộ trưởng và một cơ hội để gặp gỡ với Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh đã giúp xác định khoảnh khắc quan trọng trong mối quan hệ đó. Đoàn đại biểu NDU nhận được một cuộc họp đầy đủ tại NDA và thăm viếng hệ thống giáo dục quân sự của Quân đội nhân dân. Cuối cùng, Phó đô đốc thuyết trình tại NDA. Trong bài phát biểu của mình, bà đặt sự quan trọng trong việc xúc tiến giao thiệp giữa 2 bên, các chuyên gia giáo dục quân sự của Mỹ và VN. Bà còn xác định tầm quan trọng của việc thiết lập một kênh liên lạc chính thức.

Trong phần cuối của chuyến thăm này, Hiệu Trưởng NDU và nhân viên của bà đã gặp IDIR và đó là cơ hội để thảo luận về kế hoạch cho sự trao đổi thường xuyên các ấn phẩm giữa INSS, IDIR, và MSI, và khuyến khích có đi có lại trong mối quan hệ, thiết lập cơ sở cho việc giao tiếp liên tục, thảo luận về các điều khoản tham chiếu hỗ trợ các chuyến thăm cấp nhóm làm việc giữa Hoa Kỳ và Việt Nam, và khuyến khích MND để gửi các sĩ quan quân đội Việt Nam vào học viện quân sự Mỹ. Sau chuyến đi này, lãnh đạo NDU tập trung vào việc thực hiện một số mục tiêu và các bước để duy trì các chương trình hiện tại, bao gồm cả đối thoại INSS-Đại sứ quán SRV, INSS-Học viện Quốc phòng của Việt Nam, sự khởi đầu đối thoại INSS với IDIR, và những nỗ lực để nâng cấp các mối quan hệ hướng tới hợp tác nghiên cứu / tuyên bố chung / tổ chức các cuộc hội thảo / sự tương tác liên tục giữa các nhóm nghiên cứu du học.

Giám Hiệu NDA thăm NDUNDA Chỉ Huy Trưởng Trung tướng Võ Tiến Trung đã đến thăm Washington vào đầu tháng 10 năm 2011, tiến hành các cuộc họp tại NDU, và tham luận với nhân viên quốc hội Hoa Kỳ về quan hệ quốc phòng song phương.Trung Tướng Trung, “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” và là cựu chỉ huy phó của khu vực quân sự 5, là thành viên QH đại diện cho tỉnh Phú Yên. Ông được sinh ra vào một gia đình với truyền thống cách mạng.. Cha ông là Võ Mien , Chủ tịch ủy ban ND của làng Duy Mỹ, huyện Duy Xuyên, tham gia cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945.

Tại NDU, trọng tâm của chuyến thăm của Trung tướng Trung là phát triển một kế hoạch làm việc toàn diện cho năm tiếp theo sẽ thực hiện những cam kết nêu trong biên bản ghi nhớ thúc đẩy hợp tác quốc phòng song phương. Kế hoạch công tác là tính năng hợp tác song phương về gìn giữ hòa bình, trợ giúp nhân đạo và cứu trợ thiên tai như là điểm trọng tâm cho hai trường đại học. Ngoài việc phục vụ lợi ích chiến lược tổng thể của mối quan hệ bằng cách gánh vác trách nhiệm gìn giữ hòa bình, trợ giúp nhân đạo và cứu trợ thiên tai như là điểm kết nối trong biên bản ghi nhớ, NDU tìm cách để tiếp tục tập trung thực tiễn vào chiến lược xây dựng một mối quan hệ đáng tin cậy giữa các trường bằng cách khuyến khích các cuộc thảo luận về các vấn đề của chương trình giảng dạy , làm việc về các dự án nghiên cứu chung, chia sẻ các ấn phẩm, các đoàn đại biểu trao đổi, thảo luận về nghệ thuật và khoa học giáo dục quân sự chuyên nghiệp, và cơ hội trao đổi quan điểm giữa các nhà tư tưởng chiến lược.

Trung Tướng Trung phát biểu trước tập thể NDU giảng viên, sinh viên, và khách mời về Sách Trắng QP, tháng 12 năm 2009, “Quốc phòng quốc gia của Việt Nam,” trong đó đã cung cấp các tường thuật cơ bản cho các lãnh đạo quốc phòng cấp cao Việt kể từ đầu năm 2010. Ông đã nói về kỷ lục lịch sử của sự hình thành của một dân tộc Việt Nam, xung đột kéo dài bắt nguồn từ ý định lịch sử của “các quốc gia phía Bắc” đã buộc các thế hệ người Việt Nam chống lại quân xâm lược, đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân và công cuộc giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, và chiến đấu bảo vệ biên giới phía Tây Nam và miền Bắc 1977-1989.
Vị tướng nói về “sức mạnh quốc phòng quốc gia của Việt Nam” và đặc tính dân tộc (không đo lường được) xử dụng “Quốc phòng nhân dân”, kết hợp hài hòa sự phụ thuộc vào tổ chức (và cơ giới) và linh hồn quốc gia, nhân vật, và lịch sử đấu tranh để bảo vệ đất nước của họ. Ông cũng mô tả các tính toán của các tổ chức quân sự Việt Nam và tập trung bền vững về quốc phòng địa phương, đơn vị lực lượng dân quân (ở cấp xã và phường), và các tổ chức tự vệ. Điều quan trọng là, Trung Tướng Trung mô tả cam kết của Việt Nam để tăng cường khả năng phòng thủ quốc gia trong một phong cách cùng công nhận sự đóng góp của cả hai tài sản vô hình và hiện đại hóa lực lượng với mục tiêu tạo ra một lực lượng quân sự có khả năng chuyên nghiệp:Dựa trên quan điểm nếu trên, tăng cường tiềm năng quốc phòng của Việt Nam phải được thực hiện toàn diện, không chỉ sức mạnh chính trị, sức mạnh kinh tế, mà còn khoa học và công nghệ tiềm năng và tiềm lực quân sự. . . . Chúng tôi giữ quan điểm cho rằng trong bất kỳ sự cứu rỗi quốc gia, yếu tố con người là quyết định, vũ khí và thiết bị đóng một vai trò quan trọng, hai yếu tố là phụ thuộc lẫn nhau. . . . Để xây dựng sức mạnh chính trị và tinh thần, trước hết chúng ta củng cố tình đoàn kết quốc gia toàn bộ, xây dựng một hệ thống chính trị lành mạnh với một chính quyền của nhân dân, vì nhân dân, do nhân dân.Vị tướng nói các cuộc xung đột xưa với Trung Quốc, đề cập đến sự liên quan của các tranh chấp hiện nay trên biên giới đất và biển đảo, và mô tả mục tiêu quốc gia của Việt Nam là đạt được một hệ thống quốc phòng có khả năng đối phó với sự xâm nhập và tranh chấp mà cốt lõi là ý thức của chủ quyền Việt Nam.

Theo đó, nỗ lực của mình để xác định sự mở rộng và hợp tác an ninh và phòng với Hoa Kỳ và các nước khác, ít nhất một phần có thể được giải thích như là một nỗ lực của Việt Nam phải dè chừng cược trong một cuộc thi đấu với một Trung Quốc quyết đoán và mạnh mẽ, tập trung vào duy trì ổn định môi trường ngoại vi và khuyến khích các mối quan hệ kinh tế vì nó sẽ góp phần hiện đại hóa quân đội. Người Việt Nam, trong lập luận rằng, việc chấp nhận các hình thức của các mối quan hệ quốc phòng là một trong những cách để đối phó với các ý đồ chiến lược của Trung Quốc (gia tăng ảnh hưởng của TQ ở Đông Á). Những nỗ lực của Bắc Kinh để ngăn ngừa sự “ngăn chặn” Trung Quốc, từ đó có thể giải thích rằng, bắt buộc Việt Nam phải tham gia vào một mối quan hệ gần gũi hơn và nhiều hơn nữa với Hoa Kỳ (tới mức độ bình thường hóa), đặc biệt là trong lĩnh vực quốc phòng và an ninh.

Dường như rằng vào thời điểm này, lợi ích của Việt Nam trong hợp tác quốc phòng được tăng cường với các quốc gia kể cả Hoa Kỳ được giải thích bởi sự chú ý tập trung vào Quân đội nhân dân để hiện đại hóa quân đội và hợp lý hoá các mối quan hệ quốc phòng của nó để đưa lực lượng vào thế kỷ 21 .Trung Tướng Trung tóm tắt những ý tưởng trong tài liệu tham khảo của mình rằng quân đội đang dốc toàn lực vào “xây dựng và phát triển thành một lực lượng tinh nhuệ, chuyên nghiệp và từng bước hiện đại hóa”Lieutenant General Trung of Vietnam’s National Defense Academy lectures to students and faculty at NDU
Trung Tướng Trung Học viện Quốc phòng của Việt Nam thuyết trình cho sinh viên và giảng viên tại NDUQuân đội Mỹ (Jose Velazquez)

Sau chuyến thăm Hoa Kỳ của Trung tướng Trung, công việc giữa NDU và NDA đã được tập trung vào việc đạt được cơ sở để thỏa thuận một kế hoạch làm việc toàn diện cho năm 2012 sẽ thực hiện những cam kết nêu trong biên bản ghi nhớ. Ngoài phục vụ các lợi ích chiến lược tổng thể của mối quan hệ bằng cách gánh vác trách nhiệm cho việc phát triển khả năng trong các lĩnh vực gìn giữ hòa bình, trợ giúp nhân đạo và cứu trợ thiên tai như miêu tả trong các biên bản ghi nhớ-NDU tiếp tục tập trung vào các giải pháp thực tế để xây dựng một mối quan hệ đáng tin cậy giữa các trường quốc phòng.

NDU Phó Chủ tịch Nghiên cứu và Ứng dụng Học Hans Binnendijk viếng thăm Hà Nội vào đầu tháng 12 năm 2011, và đã ký một thỏa thuận với IDIR tập trung vào sự tham gia của INSS trong một dự án nghiên cứu chung về các vấn đề an ninh hàng hải và tập trận gìn giữ hòa bình. Đoàn đại biểu NDU nhận được một tài liệu thứ hai thiết lập tham số cho một mối quan hệ NDU-NDA mở rộng sẽ có chữ ký của cả hai Trung tướng Trung và  Hiệu Trưởng Phó Đô đốc  Ann E. Rondeau cũng như cung cấp các cấu trúc để tham gia mở rộng giữa hai tổ chức quốc phòng.Kết luậnVai trò của Đại học Quốc phòng trong việc hình thành trao đổi cấp chiến lược, duy trì đối thoại về các vấn đề có tầm quan trọng chiến lược và phát triển các kết nối mạnh mẽ giữa các chuyên gia phải được xem như là một đóng góp quan trọng cho một “quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam.

NDU đã tiếp đón hai bộ trưởng quốc phòng Việt Nam và hy vọng sẽ tiếp tục là một bộ phận tiếp các quan chức quân sự cấp cao trong tương lai. Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh viếng thăm NDU trong Tháng Mười Hai năm 2009, có một buổi họp hiệu quả với Hiệu Trưởng NDU và một phiên họp toàn thể với các nghiên cứu sinh cao cấp từ NDU và National War College, một khoảnh khắc đặc biệt có ý nghĩa rằng NDU đã trở thành một phần của tất cả các- nổ lực của Chính phủ để xây dựng một mối quan hệ bền vững, tập trung với Việt Nam.

Điều quan trọng là phải nhớ rằng không có một khía cạnh nào của mối quan hệ này (hoặc bất kỳ một thành tích nào khác) thành công được nếu không nhờ vào những người tiên phong và sự ứng dụng những triết lý của họ, nếu họ cứ khư khư giữ những “khôn ngoan thông thường” và những triết lý cũ xưa về Đông Dương.

Chính nhờ những bước đi mạnh bạo ra khỏi vòng kim cô cũ của những người làm việc tiên phong mà chính sách của HK ở ĐNA mới thành công (CXN: DNA đang kể công đấy).
Phải ứng dụng một giải pháp mới cho một vấn đề cũ.
Bây giờ là tùy INSS và NDU muốn đầu tư bao nhiêu để có hiệu quả. JFQ

JFQ • JFQ-65 • National Defense University: Building Strategic Relations with Vietnam

National Defense University:
Building Strategic Relations with Vietnam

By Lewis M. Stern

Abstract

The National Defense University (NDU) has contributed to the emerging “strategic partnership” with Vietnam through visits from senior Vietnamese defense officials, helping Washington to carry on a tradition of countries sharing information on how each country trains and equips its forces and does things. NDU also aspires to be permanently on the itinerary of future visitors from that country. Defense Minister Phung Quang Thanh held a talk with university President Vice Admiral Ann E. Rondeau and a plenary session with senior fellows in 2009, and National Defense Academy Commandant Lieutenant General Vo Tien Trung visited in 2011, conducting meetings at NDU and conferring with congressional staffers on bilateral defense relations. Both schools seek to engage in more academic exchanges, joint research, communication between subject matter experts, and visits by institutional leaders, students, and faculty. All this is only possible because of NDU’s effort to explore fresh approaches to old problems.

We are a school. We here are teachers, and students, and researchers. Many of us are in uniform with obligations to our defense and security establishments, but in the end we are a school with everything that entails—libraries, homework, computers, research, publications, and end-of-term grades. . . . We have this common understanding of the central importance of continuous learning, and that is what we should take as the central motivating force in our institutional relationship.

—Toast in honor of Vietnamese National Defense Academy Commandant General Vo Tien Trung offered by NDU President Vice Admiral Ann E. Rondeau, October 2011, Fort Lesley J. McNair, Washington, DC.

For as long as nations have had organized militaries, bilateral relations have been marked by exchanges of personnel and knowledge on how each is organized, trained, and equipped. The United States has benefited and helped other nations through such exchanges. One of the most remarkable instances of this kind of exchange is the development of a military-to-military relationship between the United States and the Socialist Republic of Vietnam (SRV). As this bilateral defense relationship evolved, and both sides sought a means of infusing strategic content into the interaction, the relationship between the National Defense University (NDU) in Washington, DC, and the National Defense Academy (NDA) in Hanoi took shape. The most recent evidence of success in this increasingly sturdy defense relationship is the visit of Vietnam’s NDA Commandant Lieutenant General Vo Tien Trung to Washington in early October 2011. The general conducted meetings at NDU and conferred with congressional staffers on bilateral defense relations, underscoring significant geopolitical considerations driving Hanoi’s recent commitment to improve the defense and security dimension of the bilateral relationship.

The relationship between NDU and NDA has been built on careful discussions that meet the needs of both nations. NDU, led by President Vice Admiral Ann E. Rondeau, has played an important role in the military-to-military relationship between the United States and Vietnam, especially as both countries sought to elevate the level of interaction. The Vietnamese defense establishment and U.S. Department of Defense (DOD) see the relationship as a means of strengthening cooperation between the two militaries. Moreover, both schools are committed to increasing the number of academic exchanges, joint research, communication between subject matter experts, and visits by institutional leaders, faculty, and staffs to the other’s professional military education home. As a part of a larger relationship, this academic engagement has a great deal of promise, but this effort was not achieved overnight. To appreciate the full context of this effort, we need to go back almost a decade.

Setting the Context

During the early 2000s, as the opportunity for improved state relations appeared, senior Vietnamese officials in the Ministries of National Defense (MND) and Foreign Affairs (MFA) consistently made several key points about U.S.-Vietnamese ties, offering a recipe for improving bilateral ties and for positioning the United States in regional affairs in a manner that would echo the increasing strategic relevance of the United States for Southeast Asia. At the core of the relationship between Vietnam and the United States, the issue of mutual trust remained a sticking point that complicated moving forward in any area. That reality required deliberate, focused work to persuade Vietnam that relations with the United States were worth the investment.

Beginning with then Prime Minister Phan Van Khai’s 2005 visit to Washington, the U.S.-Vietnamese joint statement issued at the time embedded acknowledgment of Vietnam’s “sovereignty.” This mutual act demonstrated to Hanoi’s leadership that an expanded bilateral relationship suffused with increasing strategic meaning was possible. Soon after the inauguration of President Barack Obama, the Vietnamese communicated their belief in the need and importance for his administration to construct a more effective relationship with the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN), which includes Vietnam. ASEAN has far more regional importance than it used to and is increasingly relevant to relationships with other states and regions of strategic importance to Washington, such as India and South Asia. Additionally, from Hanoi’s perspective, the United States should be ready to take a higher profile position on South China Sea issues, perhaps moving out in front of an ASEAN consensus by cautioning China on the potential political consequences of continuing its trajectory on this issue in the face of a united ASEAN.

NDU President Vice Admiral Ann Rondeau welcomes General Phung Quang Thanh, Minister of Defense, Vietnam, to NDU, December 14, 2009

NDU President Vice Admiral Ann Rondeau welcomes General Phung Quang Thanh, Minister of Defense, Vietnam, to NDU, December 14, 2009

NDU

Along with these geopolitical issues, Vietnam has continually sought U.S. recognition that Agent Orange is an issue that galvanizes broad popular support in Vietnam, generates activism within specific constituencies that find legislative support, and promises to be a domestic issue with significant foreign policy consequences. Another concern to those seeking a basis for enhancing relations with the United States was the Vietnamese perception that the U.S. Congress keeps churning out punitive legislation that speaks to Vietnam’s human rights record and that the Obama administration has not been actively speaking against these initiatives.

Nevertheless, Vietnam was resolved to invest energy and resources to improve critical bilateral relations, a point evidenced in the key themes made explicit in the Political Report to the 11th National Congress of the Vietnamese Communist Party in January 2011. Within this context, an active role for each nation’s top military universities offered a path for forward movement.

First efforts

The notion of a relationship between NDU and NDA was first broached during a visit to Washington by an NDA delegation in 2003, and was raised again during Assistant Secretary of Defense for International Security Affairs Peter Rodman’s 2005 visit to Hanoi. The Vietnamese delegation was briefed on the International Fellowship opportunity that could place a Vietnamese candidate in the National War College. The delegation was also offered the chance to engage in a regular exchange of publications produced by the Institute for National Strategic Studies (INSS). NDA participants embraced the ideas laid out at the NDU meeting, but did not take any steps to act on the potential for a formal relationship.

During 2008 and 2009, the possibility of a formal relationship between NDU and NDA was raised by the U.S. side at senior levels during several critical meetings. The matter of a relationship between the universities was briefed to senior-level Office of the Secretary of Defense (OSD) for Policy and Department of State representatives for the October 2008 Political Military Talks, a first dialogue between DOD and State on the U.S. side, and the MND and MFA on the Vietnamese side. The June 2009 Political Military Dialogue between the United States and Vietnam, hosted by the State Department, focused on the regional and global security environment, bilateral security issues, humanitarian programs, and defense cooperation. Acting Assistant Secretary of Defense Greg Delawie led the U.S. delegation consisting of representatives from State, DOD, Department of Commerce, the Joint Staff, and U.S. Pacific Command (USPACOM). INSS presented the case for an entry-level program of engagement between the U.S. and Vietnamese defense universities, and reiterated the longstanding invitation to send a Vietnamese officer to the National War College as part of the International Fellowship program.

In September 2008, NDU developed an informal quarterly discussion between INSS scholars and senior fellows from NDU and officials from the SRV Defense Attaché’s Office and SRV Embassy Political Section.The SRV Ambassador Le Cong Phung lent his support to this initiative, which made it increasingly easy for the defense ministry to embrace some of the initiatives involving strategic and policy dialogue, roundtable discussions at NDU, and programs in Hanoi for visiting INSS study groups. Moreover, the SRV embassy was primed to include INSS on the dance card for future official delegations that passed through Washington. At a minimum, this meant annual U.S. engagement with the two committees of the National Assembly— Foreign Affairs and National Defense, as well as the General Staff ’s deputy director. A more direct and active engagement between NDU and NDA would occur in the next year.

In early November 2009, on the margins of the 13th ASEAN Regional Forum (ARF) Heads of Defence Universities, Colleges, Institutions Meeting (HDUCIM) in Bangkok, Vice Admiral Rondeau met with then commandant of the NDA, General Nguyen Nhu Hoat. They agreed that the first step should be reporting the substance and positive tone of this first meeting to their respective headquarters, followed by working-level efforts to outline the possibilities for enhancing bilateral relations between the two institutions. Importantly, the two leaders agreed to consider planning a meeting between their respective staff and specialists responsible for teaching, research, curricula development, international outreach, publication production, and regional studies institutions for the purposes of an “information exchange.”

General Hoat agreed with the idea of a more robust bilateral relationship and stressed an interest in cooperating on “strategic studies.” He agreed to invite the United States to send a student to the next iteration of Vietnam’s NDA international students’ course and stated his readiness to send an officer student to NDU. He agreed that the next logical step would be to define an opportunity for selected faculty and staff to meet and share basic information about respective organizational structure, curriculum, teaching practices, and rules and regulations for students and faculty. General Hoat thought that NDU and NDA should look at a range of interactions including scholar-toscholar exchanges and student fellowships at the point where the respective defense establishments were prepared to accept such activity in the context of bilateral defense engagement.

Making the Case at the Ministerial Level

In December 2009, General Phung Quang Thanh, SRV minister of defense, became the second defense minister to visit NDU.General Thanh endorsed the approach that emerged from the discussions between Vice Admiral Rondeau and General Hoat in Bangkok, voicing confidence in his NDA director. General Thanh invited Vice Admiral Rondeau to visit Vietnam, an invitation that was reiterated during his meeting with Secretary of Defense Robert Gates on the margins of the annual Shangri-La Dialogue in Singapore, hosted by the International Institute for Strategic Studies in May/June 2010.His commitment to the notion of NDU relations with NDA was the motivation for pressing forward with the initiative.

In August 2010, an interagency delegation led by Deputy Assistant Secretary of Defense (DASD) for Asian and Pacific Security Affairs, Robert Scher traveled to Hanoi to participate in the inaugural U.S.-Vietnam Defense Policy Dialogue. Lieutenant General Nguyen Chi Vinh, deputy defense minister, led the Vietnam delegation. The meeting derived from the Secretary of Defense’s commitment to General Thanh to establish a mechanism between OSD and MND to exchange policylevel perspectives on bilateral, regional, and global issues of mutual concern. The importance of establishing institutional connections between the two national level defense universities was part of this bilateral military dialogue and would be ref lected in a formal memorandum of understanding that would be presented to Vietnam the following month and amplified in subsequent discussions at NDU.

Role of Defense Universities

On September 19, 2011, the DASD for South and Southeast Asia (OSD Policy) and Vietnam’s Deputy Defense Minister Vinh signed a memorandum of understanding for “advancing bilateral defense cooperation.” The document identifies five areas in which both sides will work to expand cooperation: maritime security cooperation, search and rescue cooperation, peacekeeping operations, humanitarian and disaster relief, and cooperation between defense universities and research institutes.

The document speaks to the principles of cooperation, essentially enshrining the Vietnamese preoccupation with friendship, trust, mutual respect, and nonalignment (“independence, self-reliance and sovereignty”), and reiterating the U.S. concern that the relationship is mutually beneficial and resonates positively with regional defense and security equities. It provides a “framework” for cooperation aimed at expanding practical bilateral engagement in the defense and security realm and calls for the promotion of a “common vision” for defense cooperation and the establishment of a “mechanism” to identify and implement new areas for defense cooperation. This could be as simple as the existing interagency paraphernalia for policy decisionmaking or the emergence of an ad hoc alliance of DOD, State, and USPACOM planners and policy advisors who would do the brunt of the coordination.

The proposed agreement was approved at the prime ministerial level. The defense minister’s “informal” triangle of policy advisors—the Military Strategy Institute (MSI), Institute for Defense International Relations (IDIR), and External Relations Department— was involved in reviewing the proposed U.S. text, hammering out Vietnamese counterproposals, and managing the discussions that led to the emergence of the memorandum (the MSI was renamed the Institute for Defense Studies in 2011). In the text of the document regarding defense university relations, the United States sought to encompass institutions and entities beyond just the NDU–NDA relationship. Seeking to operationalize what was intended by such a relationship, the language referenced bilateral interaction between U.S. and Vietnamese “research institutions,” which was meant to signal abiding interest in sustaining the link originally formalized between INSS and MSI. From the perspective of NDU, such engagement should place a primacy on exchanging delegations, students, and publications of mutual interest; promoting interaction and engagement among faculty, staff, and students; developing dialogue between U.S. and Vietnamese subject matter specialists; and promoting the exchange of ideas and resources.

Importantly, momentum for the idea of a defense cooperation framework agreement between senior defense officials resulted from the discussions between Secretary Gates and Prime Minister Nguyen Tan Dung during his mid-2008 visit to the Pentagon, when both leaders agreed to establish a mechanism between OSD and MND to exchange policylevel perspectives on issues of mutual concern. The inaugural session of that dialogue took place in August 2010 and established the basis for discussion of ways to improve bilateral defense cooperation in several areas. The United States came away from the session with the sense that the discussion was open and candid, and identified a newfound willingness on the part of the Vietnamese to advance bilateral cooperation in the form of joint exercises.

In the first months of 2011, OSD drafted a U.S.-Vietnam Strategic Defense Framework document that was circulated on April 1, 2011. This document derived, ultimately, from the initiatives first suggested during Vietnamese Defense Minister Phung Quang Thanh’s visit to Washington on December 14–15, 2009, following a stop in Hawaii where he met with the USPACOM commander. During the Washington portion of his trip, Defense Minister Thanh met with the Secretary of Defense, and struck an agreement in principle regarding the terms for expanding bilateral cooperation in five key areas: establishing regular, high-level dialogues between DOD and MND, maritime security, search and rescue, peacekeeping operations, and humanitarian assistance and disaster relief.4

Getting Down to Business

On September 28, 2010, Vice Admiral Rondeau welcomed Lieutenant General Nguyen Chi Vinh as a distinguished guest to NDU. Lieutenant General Vinh came to Washington for a 4-day visit with the goal of discussing Vietnam’s support for the upcoming ASEAN Defense Ministers Meeting, which was held in Hanoi the following month and occurred during the last few months of Vietnam’s tenure as the ASEAN chair. This was the first meeting of this group of regional defense leaders plus dialogue partners, including the United States. While attending this event in Hanoi, Secretary Gates conducted counterpart talks with the leadership of the Vietnamese defense establishment.

Lieutenant General Vinh’s secondary purpose in coming to Washington was to discuss with NDU the possibility of a formal relationship between INSS and two defense ministry institutes, the IDIR and MSI. The deputy minister agreed to consider meetings between staffs and specialists responsible for teaching, research, curricula development, international outreach, publication production, and regional studies institutions for the purposes of “information exchange.” While the general endorsed the idea of a more robust bilateral relationship with NDU and stressed an interest in cooperating on conferences in the area of “strategic studies,” he was not quite ready to commit to joint research. He agreed that both sides should look for opportunities to host delegations of staffs and specialists, and agreed to invite the United States to send a student to the next iteration of Vietnam’s NDA international students’ course. Lieutenant General Vinh stated his readiness to send an officer student to the National War College in 2011 and identified the IDIR director as the likely candidate. Additionally, the general seemed animated at the thought of a Vietnamese cadet attending West Point.5

High-level Support

During Secretary Gates’s October 2010 meeting with Defense Minister Thanh on the margins of the Shangri-La Dialogue, the two endorsed the results of the September 28 meeting, which launched official relations among INSS, IDIR, and MSI. Defense Minister Thanh noted that he had invited the NDU president to visit Vietnam during his December 2009 appearance at Fort Lesley J. McNair, and asked Secretary Gates to convey the reiterated invitation. The Secretary replied that he would ask Vice Admiral Rondeau to make plans to visit Vietnam as early as possible.

During the 14th ARF HDUCIM, hosted by Vietnam’s NDU in November 2010, General Hoat’s replacement, General Vo Tien Trung, formally invited the NDU president to visit Vietnam and NDA in 2011. General Trung and Vice Admiral Rondeau discussed promoting relations between the institutions through exchanges of delegations, students, and publications. The two leaders also discussed how NDU could contribute to enhancing the strategic academic dialogue on these issues in Southeast Asia.

General Trung discussed the Vietnamese proposal to create an ASEAN Institute for International Security Study, which would allow ARF members to cooperate more closely by working together to study nontraditional challenges and enhance information-sharing among regional academic institutions. Vice Admiral Rondeau offered to work bilaterally with the Vietnamese on this proposal to see if NDU could help accelerate the process in establishing such an institute, noting that India and South Korea were interested in developing similar regional institutes and that there might be a way to gain some momentum by working with interested parties within this organization.6

NDU President Vice Admiral Ann Rondeau gives presentation to class at Vietnam’s National Defense Academy

NDU President Vice Admiral Ann Rondeau gives presentation to class at Vietnam’s National Defense Academy

NDU

A Friendly Visitation

Vice Admiral Rondeau and a delegation from NDU visited Vietnam in April 2011. This was a well-organized visit marked by a constructive itinerary that demonstrated Vietnamese seriousness about the relationship. Press coverage of the admiral’s meeting with the minister of defense underscored the mutual interest in efforts aimed at adding strategic depth to the bilateral defense relationship; it also underscored the increasing recognition that strategic thinkers and professional military educators were in a good position to take the steps necessary to bring defense intellectuals, strategists, and students of defense and security affairs together to achieve the goals discussed during the October 2010 meeting between Secretary of Defense Gates and Defense Minister Thanh.7

During her visit, the NDU president stressed that the defense universities each need to identify a single subject matter specialist who can draw on relations throughout his or her respective communities to contribute to a monthly exchange of news about university developments—courses offered, organizational changes undertaken, new faculty, conferences held, seminars planned, and travel by faculty and staff to foreign countries. Agreeing to that arrangement as a starting point would overcome the most obvious objection to pursuing this first step in building a basis for communication between the two schools, which should be aimed at keeping each side aware of developments, plans, and intentions in the area of professional military education and strategic studies. Focusing on this link should add a level of connectivity to a relationship that would otherwise depend on infrequent and irregular visits by delegations, for example, as the basis for interaction.

The NDU delegation told its interlocutors that the university was looking to develop informal communications between Vietnamese and American national defense scholars who are intent on comparing notes, sharing publications, cultivating personal relationships, and developing a momentum that would be the basis for a continuous dialogue between teachers and between researchers. To serve that interest, the delegation recommended following through on the initiative aimed at receiving working-level delegations and study groups from the respective sides.

Acknowledging a key step in their relationship, Vice Admiral Rondeau told her hosts that NDU was looking forward to the arrival of Senior Colonel Ha Chung Thanh, the People’s Army officer who would be a member of the National War College class of 2012. Vice Admiral Rondeau identified a support group that will be responsible for working with the senior colonel during his residence in Washington to ensure that he has the chance to make the most of this opportunity. The NDU delegation stressed the importance of reciprocity, arguing that the United States looks forward to working with the NDA to send a U.S. military officer or civilian academic from NDU to participate in seminars for foreign participants offered at the academy.

During its visit to Vietnam, the NDU delegation met with the new head of the Economics and Research Department, and received a briefing on the Vietnamese military’s mission and leadership organization. Vice Admiral Rondeau seized the chance to reaffirm friendship with senior leaders who had visited Vietnam. A courtesy call on the minister and a chance to meet with Vice Defense Minister Nguyen Chi Vinh helped anchor the visit to important moments in the relationship up to that point. The NDU delegation received a full briefing at NDA on the People’s Army military education system and a tour of the facility. Finally, the admiral addressed the NDA. In her remarks, she placed appropriate primacy on allowing American professional military education specialists to meet their counterparts and on the importance of establishing a formal channel of communication.

As a final part of the visit, the NDU president and her staff met with the IDIR for a session that was yet another opportunity to discuss plans for a regular exchange of publications between INSS, IDIR, and MSI, and to encourage reciprocity in the relationship, establish the basis for continuous communication, discuss the terms of reference for supporting working-level study group visits between the United States and Vietnam, and encourage the MND to send Vietnamese military officers to U.S. military academies. After this trip, NDU leadership focused on the working-level initiatives intended to operationalize some of the goals and took steps to sustain the existing programs of engagement, including the INSS–SRV Embassy Informal Dialogue, INSS–Defense Academy of Vietnam relationship, emergence of an INSS dialogue with IDIR, and efforts to move the relationship toward joint research/ joint publication/hosting of seminars and workshops/continuous interaction between traveling study groups.

NDA Commandant Visits NDU

NDA Commandant Lieutenant General Vo Tien Trung visited Washington in early October 2011, conducted meetings at NDU, and conferred with U.S. congressional staffers on bilateral defense relations.

Lieutenant General Trung, a “Hero of the People’s Armed Forces” and former deputy commander of Military Region 5, is a member of the National Assembly representing Phu Yen Province. He was born into a family with a revolutionary tradition. His father was Vo Mien, the chairman of the committee of Duy My village, Duy Xuyen District, responsible for direct action during the August revolution in 1945.

At NDU, the focus of Lieutenant General Trung’s visit was on developing a comprehensive work plan for the next year that would operationalize the commitments contained in the memorandum of understanding for advancing bilateral defense cooperation. The work plan was to feature bilateral cooperation on peacekeeping, humanitarian assistance, and disaster relief as the focal point for the two academic institutions. Beyond serving the overall strategic interests of the relationship by shouldering the responsibilities for peacekeeping, humanitarian assistance, and disaster relief as articulated in the memorandum, NDU sought to continue to focus on the nuts and bolts of building a credible relationship between schools by encouraging discussions about curriculum issues, working toward joint research projects, sharing publications, exchanging delegations, discussing the art and science of professional military education, and organizing opportunities for the exchange of viewpoints between strategic thinkers.

Lieutenant General Trung’s speech to an assembly of NDU faculty, students, and invited guests derived from the December 2009 white paper, “Vietnam’s National Defense,” which has provided the basic narrative for the senior Vietnamese defense leadership since early 2010. He spoke about the great and sprawling historical record of the formation of a Vietnamese nation, the prolonged conf lict deriving from the historic intentions of “northern countries” that has compelled generations of Vietnamese to fight invaders, the struggle against colonialism and the contests waged to liberate the South and unify the nation, and the fight to protect the southwestern and northern borders from 1977 to 1989.

The general spoke about Vietnam’s “national defense strength” and the intangible dimension of the national character that places a primacy on “all People Defense,” an approach that integrates reliance on organization and machinery as much as on national soul, character, and the vigorous historic spirit that drives the Vietnamese to protect their nation. He also described the calculus of Vietnamese military organization and its sustained focus on local defense, militia units (at the commune and precinct level), and self-defense organizations. Importantly, Lieutenant General Trung described Vietnam’s continuing commitment to enhancing national defense capabilities in a fashion that recognized the contribution of both intangibles and modernizing forces to the goal of creating a capable, professional military force:

Based on the foresaid viewpoints, enhancement of Vietnam’s national defense potentials must be realized comprehensively, not only political strength, economic strength, but also science and technology potentials and military potentials. . . . We hold the view that in any national salvation, human factor is decisive, weapons and equipment play an important role; those two elements are interdependent. . . . In order to build the political and spiritual strength, firstly we fortify the whole national solidarity, building a wholesome political system with a government of the people, for the people and by the people.

The general spoke to the ancient conflict with China, mentioned the relevance of current disputes over land borders and maritime and territorial claims, and described Vietnam’s national goal of achieving a defense capable of coping with intrusions and disputes that go to the core of Vietnam’s sense of sovereignty.

Accordingly, his effort to define the basis for expanded defense and security cooperation with the United States and other countries can at least in part be explained as a Vietnamese attempt to hedge bets in a contest with an assertive and aggressively inclined China focused on maintaining a stable environment on its periphery and encouraging economic relationships that will contribute to modernization. The Vietnamese, in that argument, see the acceptance of the formality of defense relationships as one way of coping with China’s strategic intentions of increasing its inf luence in East Asia. Beijing’s efforts to prevent “containment” of China have, from the perspective of that explanation, compelled Vietnam to enter into a closer and more completely normal relationship with the United States, especially in the realm of defense and security.

It seems that at this point, much more of Vietnam’s interest in enhanced defense cooperation with countries including the United States is explained by focused attention of the People’s Army to modernize the military and rationalize its defense relationships in order to bring the force into the 21st century. Lieutenant General Trung summarized these ideas in his reference to the army’s concerted effortsto “construct and develop into ‘a professional, elite and gradually modern force.’”

Lieutenant General Trung of Vietnam’s National Defense Academy lectures to students and faculty at NDU

Lieutenant General Trung of Vietnam’s National Defense Academy lectures to students and faculty at NDU

U.S. Army (Jose Velazquez)

After Lieutenant General Trung’s visit to the United States, the work between NDU and NDA was focused on achieving the basis for agreement to a comprehensive work plan for 2012 that would operationalize the commitments contained in the memorandum of understanding. Beyond serving the overall strategic interests of the relationship—by shouldering the responsibilities for developing capabilities in the areas of peacekeeping, humanitarian assistance, and disaster relief as articulated in the memorandum—NDU seeks to continue to focus on the nuts and bolts of building a credible relationship between the defense schools.

NDU Vice President for Research and Applied Learning Hans Binnendijk visited Hanoi in early December 2011, and signed an agreement with the IDIR focused on the involvement of INSS in a joint research project on maritime security issues and a possible peacekeeping operations simulation. The NDU delegation received a second document setting the parameters for a broadened NDU– NDA relationship that will bear the signature of both Lieutenant General Trung and Vice Admiral Rondeau as well as provide the structure for expanded engagement between the two defense institutions.

Conclusion

The role of National Defense University in shaping strategic-level exchanges, sustaining dialogue on issues of strategic importance, and developing sturdy connections between subject matter experts must be featured as an important contribution to the emergence of a “strategic partnership” with Vietnam.

NDU has now hosted two Vietnamese defense ministers and hopes to be a permanent part of the itinerary of future senior military officials. Defense Minister Phung Quang Thanh visited the NDU campus in December 2009 for a fruitful talk with the NDU president and a plenary session with senior fellows from NDU and the National War College, a particularly meaningful moment that suggested NDU had become part of the all-of-government effort to build a sustained, focused relationship with Vietnam.

It is important to remember that no aspect of this relationship—or any other policy achievement for that matter—would have emerged as a potentially important connection and a clear dividend for U.S. policy in Southeast Asia had those involved in the earliest efforts to broach military relations with Hanoi accepted conventional wisdoms, or unquestioningly embraced the priorities that guided and structured U.S. defense thinking about Indochina. None of this would have emerged as a possibility had working-level Vietnamese and U.S. counterparts failed to understand the need to step outside the box and explore new ways of thinking about old problems. It is now up to INSS and the NDU community to determine the level of investment necessary to make a difference. JFQ

5 comments on “CXN_060112_1556_Quan hệ Quốc Phòng Mỹ – Việt là con số không to tướng

  1. *** Ai ai cũng biết rõ rằng vấn đề “Kết liên minh là vấn đề sinh tử của một quốc gia” nhưng mà nó lại cũng là vấn đề “không thể chỉ muốn là được” !?

    Tỉ như, hiện nay, Mĩ chỉ có thể bán cho ĐCSVN vũ khí hiện đại cỡ máy ném đá mà thôi . Bán
    vũ khí thực sự hiện đại, thì ‘ông em’ đưa cho ‘ông anh 16 chữ vàng’ nghiên cứu thì có mà lỗ…sặc tiết !!!

    *** Bài phân tích có nhan đề “Gói an ninh trong quan hệ quốc phòng với Hoa Kỳ” của tác giả Đoàn Hưng Quốc 20/09/2011 sẽ lý giải cho chúng ta về sự kiện đó:

    Tất cả các quốc gia khi xây dựng quan hệ quốc phòng với nước Mỹ thường phải theo một tiến trình tạm gọi là gói an ninh (security package) bao gồm ba khía cạnh:
    – Tập dượt quân sự chung với quân đội Hoa Kỳ
    – Mua trang thiết bị quân sự của Mỹ
    – Cho phép Hoa Kỳ đặt căn cứ quân sự trên lãnh thổ của họ

    Bước đầu thường qua những chuyến viếng thăm của tàu chiến Mỹ về y tế hay ngoại giao. Sau đó hai bên có thể cùng tập trận chống khủng bố, hay hợp tác chuẩn bị phòng thiên tai. Kế tiếp tiến đến thao diễn quân sự chung trong khu vực.

    > Khi quan hệ cần được nâng lên tầng mức cao hơn một nước thường tìm mua thiết bị quân sự của Mỹ. Bắt đầu là những trang bị không bạo lực như quân xa, hệ thống truyền tin. Tiến lên một nấc nửa là các vũ khí như máy bay, tàu chiến, hoả tiển, v.v…

    Cuối cùng một quốc gia vì nhu cầu an ninh chung có thể đề nghị hay đồng ý để Hoa Kỳ đóng căn cứ quân sự trên lãnh thổ của họ. Sự hiện diện của lính Mỹ được xem có giá trị biểu tượng rất cao về chính trị như một sự bảo đảm mặc nhiên của Hoa Kỳ để trực tiếp bảo vệ an ninh cho nước họ.

    Việt-Mỹ hiện đang ở giai đoạn đầu của tiến trình này.

    > Thí dụ về bước hai là Đài Loan hiện đang vận động mua chiến đấu cơ F-16 của Hoa Kỳ. Cho dù loại phi cơ này không còn vượt trội so các máy bay tiêm kích đời mới của Âu Châu và Nga nhưng mọi mua bán vũ khí đều mang ý nghĩa thắt chặt quan hệ quốc phòng với Mỹ
    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2011/09/110922_china_taiwan.shtml

    > Trường hợp điển hình cho phép Hoa Kỳ đóng căn cứ quân sự là Ba Lan vận động để Mỹ đặt một trung đoàn hoả tiển chống phi đạn trên nước họ. Trên danh nghĩa là nhằm phòng hờ trường hợp Iran bắn đạn đạo sang Âu Châu, nhưng thực tế là Ba Lan cần sự hiện diện của lính Mỹ như tấm bình phong ngăn chận các toan tính bành trướng của nước Nga.

    Việc đồn trú lính Mỹ tại một nước có tác động an ninh lên toàn khu vực nên thường gặp nhiều phản ứng gay gắt từ nhiều phía. Thí dụ Nga đã chống đối và đe doạ trả đủa nếu Mỹ đặt căn cứ quân sự ở Ba Lan; Iran, Saudi Arabia, Kuwait, v.v.. đều có những lập trường đối nghịch về sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ tại Iraq.

    Trong hoàn cảnh Mỹ đang gặp khó khăn về tài chánh thì Hoa Kỳ còn kèm theo các yêu cầu chia xẻ chi phí chung cho việc đồn trú quân đội nơi nước ngoài

    (còn tiếp)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s