Lịch Sử Vinh Danh

“Chết mà vì nước, chết vì dân,

Chết đấng nam nhi trả nợ trần.
Chết buổi Đông Chu, hồn thất quốc,
Chết như Tây Hán lúc tam phân.
Chết như Hưng Đạo, hồn thành thánh,
Chết tựa Trưng Vương, phách hóa thần.
Chết cụ Tây Hồ danh chẳng chết,
Chết mà vì nước, chết vì dân.”

(trích thơ của Cụ Phan Bội Châu)

“Chết mà vì nước, chết vì dân,
Chết đấng nam nhi trả nợ trần.
Chết buổi Đông Chu, hồn thất quốc,
Chết như Tây Hán lúc tam phân.
Chết như Hưng Đạo, hồn thành thánh,
Chết tựa Trưng Vương, phách hóa thần.
Chết cụ Tây Hồ danh chẳng chết,
Chết mà vì nước, chết vì dân.”

(trích thơ của Cụ Phan Bội Châu)

Tháng Tư Đen.
Kính dâng những linh hồn Tử Sĩ VN.

Anh vẫn đó, oai hùng như dáng núi
Ánh căm hờn trong lũng mắt đau thương
Hăm mốt năm qua, trời sầu đất tủi
Nơi đáy mồ anh khóc chuyện quê hương !

Anh có nhớ trong niềm đau mất nước
Nhìn Hiền Lương máu ngập đến Cà Mau
Vẫn anh dũng, anh kiên cường tiến bước
Viên đạn thù tàn nhẫn réo thương đau ?!

Tuổi thanh xuân anh bừng bừng khí thế
Trái tim hồng đỏ thắm máu Tiên Long
Cổ thành xưa anh đã từng ngạo nghễ
Gương hào hùng oanh liệt bốn nghìn năm !

Ôm hoài bảo và tình yêu sông núi
Anh hiên ngang đối diện với quân thù
Dù ngã xuống, bia vàng không tên tuổi
Nhưng trong lòng dân tộc đã thiên thu !

Anh không chết, muôn đời anh không chết
Và muôn đời Tổ Quốc mãi ghi công
Hỡi các anh ! những người trai tuất kiệt
Lấy máu đào anh rửa hận non sông !

Tôi nợ anh một lễ nghi quốc táng
Lời tuyên dương, truy điệu bậc anh hùng
Hăm mốt năm qua làm thân tỵ nạn
Tôi cúi đầu nghe nước mắt rưng rưng …

Tôi nợ anh khúc quân hành rộn rã
Ánh đuốc thiêng và tiếng hát khải hoàn
Món nợ đó tôi rất mong được trả
Trả cho anh và Tổ Quốc VIỆT NAM !
Ngô Minh Hằng


Hai tay nâng mảnh khăn tang
Trăm năm thôi vĩnh biệt Chàng từ đây!
Vì đâu đến nước non này
Lệnh kia sao lại trói tay anh hùng?
Trước hờn bức tử non sông
Thiên thu đâu lẽ thẹn cùng cỏ cây!?
Mịt mù bốn phía trời mây
Tiếng gầm đại bác, tiếng cày xe tăng
Phút giây oan nghiệt bất bằng
Giận cơn hồng thủy cuốn phăng sơn hà
Âm thầm, Chàng bỏ lại ta…
Giữa trăm ngàn nỗi xót xa nghẹn ngào!
Kỳ đài, cờ rủ trên cao
Ngỡ ngàng nghe lệnh chiến hào bỏ không
Đau thương, nhìn lại xác chồng
Chàng đi theo nước, em không trách Chàng!
Xé manh áo, quấn khăn tang
Lên đầu con trẻ, hai hàng lệ rơi
Xa nhau!… Vĩnh biệt nhau rồi…
Mà không nói được một lời từ ly!
Mắt thần chẳng khép làn mi
Một dòng máu đỏ, tứ chi lạnh dần
Ôm chồng, thân ngã vào thân
Tứ bề pháo giặc xa gần ầm vang
Hai tay nâng lá cờ vàng
Phủ lên cho ấm lòng Chàng, lòng ta!
Tên Chàng dù chẳng sử hoa
Nhưng hồn Chàng đã nhập hòa núi sông
VÔ DANH VẠN THUỞ ANH HÙNG!!!
Ngô Minh Hằng

Hùng Ca Tưởng Niệm
Thiếu Tướng NGUYỄN KHOA NAM
Tư Lệnh Vùng IV Quân Khu IV

Phạm Bội Diệp & Trần việt Yên
Tưởng Niệm các Anh Hồn Tử Sĩ 30 – 4 – 75

Súng vang kết liễu mạng Anh Hùng
Dân lệ giang sơn động cửu trùng !
Trước địch không hèn , gan tướng dũng
Trong dân nể phục , tiết tôi trung !
Tinh thần Hoàng Diệu treo ngời rạng
Khí phách Khoa Nam nối sáng trưng
Vị quốc vong thân , người bất tử
Uy linh huyền sử dấu soi cùng , !

Phạm Bội Điệp

—————————————
Bài họa của Trần Việt Yên:

Tấm gương trung liệt thật hào hùng ,
Nước mắt lê dân nhỏ điệp trùng ,
Một thuở tung hoành oai hổ tướng
Muôn đời Vằng vặc tấm gương trung
Chết cùng Tổ quốc theo Hoàng Diệu
Sống với Non sông tựa Nhị Trưng
Chẳng thẹn lòng ai vô uý tử
Khoa Nam Lịch Sử khắc bia cùng !

———————————————–
Bài hưởng ứng của Trần Việt Yên :

I
-‘’ Đừng đem thành bại luận ANH HÙNG !! ‘
Tiếng súng liệt oanh động Cửu Trùng !
Chinh chiến tung hoành , gan tướng dũng
Thất cơ nguyện giữ , tiết tôi trung !
Theo chân Hoàng Diệu gương ngời rạng,
Nối bước Tri Phương vượt sáng trưng !
Thân hiến Quốc Gia Hồn bất tử
Vàng son Lịch Sử dấu soi chung *

II
Soi chung Lịch Sử dấu vàng son
Danh Tướng Khoa Nam mãi trường tồn ,
Khiếp viá Cộng nô Hoa Dù nở ,
Bay hồn quân địch chốn biên cương .
Tây Đô trấn nhậm , dân tin tưởng ,
Lục Tỉnh tảo trừ giữ nước non
Đến bước cuối cùng không úy tử
Thiên thu ngời sáng tấm lòng son !

I I I
Lòng son ngời sáng đến thiên thu
Thương tiếc ba quân nguyện kính thờ
Quốc phá thung dung thân tựu nghiã
Gia vong chẳng chịu lấm bùn nhơ
Theo chân Hoàng Diệu gương trung liệt
Nối bước Tri Phương , chí chẳng mờ
Dù thác tinh anh còn sống mãi
KHOA NAM hùng khí đến thiên thu,

IV
Thiên thu hùng khí Nguyễn Khoa Nam
Sống mãi trong hồn người Việt Nam
Thắp sáng toàn dân vì chính nghiã
Dục lòng quân sĩ cứu nhà Nam
Ngân vang tiếng súng đền ơn nước
Bay bổng hồn về với Tộc Nam
Quốc biến không màng chi mạng sống
Muôn đời Anh kiệt Nguyễn Khoa Nam

Đức độ tài năng đã rõ ràng
Báo đền nợ nước, NGUYỄN KHOA NAM
Nuí sông bức tử vào tay giặc
Thà chết vinh danh, chẳng nhục hàng!

———————————————-

Ngô Minh Hằng

“Tuẫn tiết theo thành khí phách thay!
Tướng Nam xứng đáng bậc râu mày
Ngửa nghiêng vận nước khôn chèo chống
Khắc nghiệt cơ trời khó chuyển xoay
Tư lệnh Quân Khu đành chọn thác
Chỉ huy vùng bốn chẳng cao bay
Vì dân vì nước tròn danh tiết
Lưu mãi ngàn thu nghĩa cử này.”

————————-

NHỊ VỊ TƯỚNG LÃNH
Nguyễn Khoa Nam – Lê Văn Hưng

“Vị quốc vong thân chết vẫn hùng
Hưng, Nam hai Tướng cặp bài trùng
Gia bần, nhà rõ lòng con hiếu
Quốc loạn, dân hay da. Tướng trung
Thà chọn thác vinh, gương sáng để
Chẳng ham sống nhục tiếng nhơ trưng
Anh hùng tử, khí hùng nào tử
Khí phách hiên ngang trận cuối cùng.”

———————————-

Thiếu Tướng LÊ VĂN HƯNG

Tư Lệnh Phó Quân Khu IV, Vùng IV Chiến Thuật

Anh hùng An Lộc đã danh vang
Chấp nhận làm sao được lệnh hàng
Vì nước, tướng hùng, lòng tiết khí
Chọn đường oanh liệt, chết vinh quang

Ngô Minh Hằng

———————————————

Thiếu Tướng Lê Nguyên Vỹ
Tư Lệnh Sư đoàn 5 Bộ Binh

Bình Long anh dũng góp tài năng
Làm tướng như Ông, mấy kẻ bằng
Quốc sĩ đầu hàng sao được giặc
Sân cờ Tư Lệnh, ánh sao băng!!!

Ngô Minh Hằng

—————————-

“Anh hùng hành động thật hùng anh
Tướng Vỹ coi thường chuyện tử sanh
Quốc kế khôn ngăn phường tráo trở
Dân tình khó cản bọn lưu manh
Tiền phương Quân sĩ còn ngăn giặc
Hậu tuyến trung ương đã nạp thành
Tư lệnh Sư Đoàn đâu chịu nhục
Sân cờ tuẫn tiết giữ thanh danh.”


“Chiều ấy Lai Khê u uất lắm
Đất trời cây cỏ ngập màu tang
Khi người nằm xuống, Người nằm xuống
Ta đã mất rồi! Mất Việt Nam.
Sáng Ba Mươi giặc tràn Phú Lợi
Quân ta về trấn thủ Bình Dương
Ta vẫn nghe tiếng Người trong máy
Lòng trung Tổ Quốc vẫn vang vang

… Đồi Bam-mốt Sư Đoàn bị bức tử
Đêm ba-mươi vang vọng những hồn oan
Bao nhiêu năm! cờ tang chưa xả
Sống lưu đày lòng đau nhục mang mang
Trời Tháng Tư vẫn nghẹn ngào trong nắng
Hởi hồn Người! Còn vang tiếng Việt Nam.

(Tưởng nhớ Tướng Lê NguyênVỹ) – Đăng Nguyên.

—————————————————–


Thiếu Tướng PHẠM VĂN PHÚ
Tư Lệnh Quân Khu II Vùng II Chiến Thuật

“Đất nước tôi trong trạng huống này
Làm sao có thể bỏ đi đây?
Tôi thà ở lại và cam chết
Không chạy, không hàng, nhục lắm thay !

Lời còn văng vẳng đâu đây
Của vị danh Tướng lòng đầy hiên ngang
Danh thơm ghi tạc sử vàng
Tri Phương, Hoàng Diệu theo đàng người đi

Thác vinh sử sách mãi ghi
Đâu thèm sống nhục, bấc chì mỉa mai
Thân danh là một tướng tài
Lẽ đâu khuất phục với loài sói lang
Tướng thà chết quyết không hàng
Tấm gương bất khuất, vẻ vang đời đời.”

————————————-

Chuẩn Tướng TRẦN VĂN HAI
Tư Lệnh SĐ7 BB

“Nghe Tướng Khoa Nam tuẫn tiết rồi
Tướng Hai cố nén lệ sầu rơi
Tình hình ngó thấy khôn chèo chống
Cuộc diện nhìn xem, khó vãn hồi

Vận nước thế thời, cam phải thế
Lòng người thôi thế, cũng đành thôi
Ông đem cái chết đền ơn nước
Bất khuất, hiên ngang khác mọi người

Bất khuất, hiên ngang khác mọi người
Ông coi cái chết tựu đi chơi
Sống nêu gương sáng trong Quân đội
Thác để danh thơm lại với đời

Úy tử đẫu hàng không thể chọn
Tham sinh trốn chạy khó mà noi
Tri Phương, Hoàng Diệu, đi theo bước
Nêu tấm gương hùng, hậu thế soi.”

Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh
Yêu dân, yêu lính trước yêu mình
Quê hương bức tử vào tay giặc
Thà chết cho tròn cái chết vinh !

Ngô Minh Hằng

——————————-

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn

Ngũ Hổ U Minh
Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện

“Trung dũng cang cường chẳng kém ai
Tên anh “Ngọc Cẩn” quả không sai
Ba bông mai bạc mang không uổng
Một tấm gương vàng để khó phai
Khí phách can trường đà số một
Tinh thần quả cảm dễ gì hai
Đạn thù kết liễu đời oanh liệt
Quân sử lưu danh vẹn đức tài.”

Quyết chiến cùng dân giữ tỉnh nhà
Trả thù, giặc Cộng bắt ông ra
Cần Thơ bịt mắt đem hành quyết
“Cứ giết nhưng đừng bịt mắt ta
“Để ta nhìn nước, dân lần cuối ”
Anh hùng muôn thuở sử hùng ca !

HƠI THỞ VIỆT NAM

Ðể tưởng niệm
Trung Tá Cảnh Sát Long

Tự sát dưới chân tượng đài Thủy Quân Lục Chiến tại Sài Gòn
sáng ngày 30-4-1975

Trên đám cỏ này là nơi anh đã nằm
Trên nắm đất này là nơi máu anh đã nhỏ
Ðất vẫn một màu nâu
Cỏ vẫn một màu xanh muôn thuở
Mặt trời mỗi sớm vẫn rọi vào làm lóng lánh
những giọt sương
Như đôi mắt sáng của anh
Lần cuối cùng ngửa mặt nhìn tổ quốc yêu thương
Dưới chân tượng đài Thủy Quân Lục Chiến.

Trung Tá Long !
Họ của anh là gì vẫn chưa ai biết
Có phải là Ngô, Ðinh, Lý, Trần hay Lê, Nguyễn…Văn Long ?
Không, tên của anh đã bắt đầu
Từ ở núi, ở rừng, ở biển, ở sông
Ở những câu chuyện thần tiên mẹ thường hay kể
Từ thuở Cha Lạc Long dắt năm mươi con xuống bể
Mẹ Âu Cơ dắt một nửa lên ngàn
Từ thuở bầy chim Lạc chắp cánh bay về
vùng nắng ấm phương Nam
Xây tổ bên sông Hồng, sông Cửu
Tên của anh đã bắt đầu khi con rồng Việt Nam
phun lửa đốt rừng dựng nên bờ cõi
Truyền vào lồng ngực anh hơi thở vào đời
Hơi thở Việt Nam hòa trong anh suốt thuở làm người
Sáng ba mươi anh trở về với mẹ
Hồn anh bay giữa trời quê hương
Một màu tang quạnh quẽ
Tổ quốc nghiêng mình tiễn biệt một người con.

Lòng anh đau khi nghe tiếng chiếc xe tăng
Ðang nghiền nát Sài Gòn
Hy vọng chết dưới mỗi lằn xích sắt
Viên đạn Nga bắn vào tim nước Việt
Lưỡi lê Tàu đâm thủng ngực dân Nam
Ôi ! có bao giờ trong suốt bốn nghìn năm
Mà đất trời quê hương ta buồn như hôm ấy
Những mẹ, những cha, những cụ già, em bé
Ngơ ngác nhìn nhau, sợ hải, kinh hoàng.

Một chế độ vừa bắt đầu
Bằng hận thù, khủng bố, lầm than
Bằng tiếng xích T54 đay nghiến hồn dân tộc
Xé nát lòng anh bao hờn căm và tủi nhục
Anh đã chọn cho mình một cách chết quang vinh.

Anh ngã xuống giữa Sài Gòn không để lại đủ họ tên
Nhưng lịch sử nghìn năm sau vẫn nhớ.
Trung Tá Long !
Mây vẫn bay trên đầu anh mỗi chiều, mỗi sớm
Mặt trời mọc mỗi ngày làm lóng lánh giọt sương mai
Như nước mắt mẹ già nhỏ xuống xác con trai
Như ánh mắt chị nhìn chồng trong giờ vĩnh biệt
Ðất vẫn một màu nâu đậm đà như tình người dân Việt
Nơi anh nằm hoa cỏ vẫn xanh tươi.

Máu anh rơi để làm đẹp cuộc đời
Tô thắm đường các em sẽ đến
Các em là thuyền nhờ có anh là bến
Trong cuộc hải hành này anh là ngọn hải đăng soi
Ðường tự do dù còn lắm chông gai
Nhưng đã có anh mang niềm tin đi trước
Cám ơn anh, người con yêu đất nước
Ðã truyền lại cho muôn đời hơi thở Việt Nam.
Trần Trung Ðạo

NGƯỜI LÍNH VNCH

“ĐÂY LÀ TIẾNG NÓI NƯỚC VIỆT NAM
PHÁT THANH TỪ THỦ ĐÔ SÀIGÒN…”

Cho đến nay, tiếng nói đó vẫn còn
Vang vọng mãi trong trái tim “Người Lính”.

Là hình ảnh của một thời ổn định
Là tiền đồn của Thế giới tự do
Của miền Nam nước Việt rất ấm no
Là thành luỹ mang hồn thiêng sông núi.

“Người Lính” trẻ đã một thời dong ruỗi
Đem Tình người, Tình lính trấn biên cương
Vẫn một lòng chung thuỷ với quê hương
Dù oan nghiệt rẽ đời qua trăm hướng.

“Người Lính” chúng tôi tuy không Sinh Vi Tướng
Cũng hiên ngang chấp nhận Tử Vi Thần
Trọn một lòng chỉ vì Nước, vì Dân
Dâng hiến cả đời mình cho Tổ Quốc.

Từ QUảng Trị rét căm mùa gió bấc
Đến Cà Mau mưa, lũ ngập đồng sâu
Vết giầy saut lội bất cứ nơi đâu
Để mang lại Tin Yêu và Lẽ Sống.

“Người Lính” chúng tôi mang trái tim hào phóng
Của tuổi đời đẹp nhất: lúc đôi mươi
Làm nguồn vui nơi tuyến đầu lửa bỏng
Trong gian truân vẫn nồng ấm nụ cười.

Dù đôi lúc có hoang mang, phẫn nộ
Hay chán chường vì dấu ấn chiến tranh
Nhưng nỗi buồn cũng tan biến rất nhanh
Khi đối diện với kẽ thù ngoài mặt trận.

Rồi cũng đến lúc chào thua số phận
Khi tàn vong đành nước mất, nhà tan
Vì thế cùng, lực tận phải sang bang
Thân nhược tiểu, xót thầm, ôi ngang trái

“Người Lính” chúng tôi không hề chiến bại
Chỉ chào thua định mệnh đã an bài
Bởi cô thế đành nương thân hải ngoại
Chờ bình minh quang phục của ngày mai.

Tháng Tư Đen.
Kính dâng những linh hồn Tử Sĩ VN.

Anh vẫn đó, oai hùng như dáng núi
Ánh căm hờn trong lũng mắt đau thương
Hăm mốt năm qua, trời sầu đất tủi
Nơi đáy mồ anh khóc chuyện quê hương !

Anh có nhớ trong niềm đau mất nước
Nhìn Hiền Lương máu ngập đến Cà Mau
Vẫn anh dũng, anh kiên cường tiến bước
Viên đạn thù tàn nhẫn réo thương đau ?!

Tuổi thanh xuân anh bừng bừng khí thế
Trái tim hồng đỏ thắm máu Tiên Long
Cổ thành xưa anh đã từng ngạo nghễ
Gương hào hùng oanh liệt bốn nghìn năm !

Ôm hoài bảo và tình yêu sông núi
Anh hiên ngang đối diện với quân thù
Dù ngã xuống, bia vàng không tên tuổi
Nhưng trong lòng dân tộc đã thiên thu !

Anh không chết, muôn đời anh không chết
Và muôn đời Tổ Quốc mãi ghi công
Hỡi các anh ! những người trai tuất kiệt
Lấy máu đào anh rửa hận non sông !

Tôi nợ anh một lễ nghi quốc táng
Lời tuyên dương, truy điệu bậc anh hùng
Hăm mốt năm qua làm thân tỵ nạn
Tôi cúi đầu nghe nước mắt rưng rưng …

Tôi nợ anh khúc quân hành rộn rã
Ánh đuốc thiêng và tiếng hát khải hoàn
Món nợ đó tôi rất mong được trả
Trả cho anh và Tổ Quốc VIỆT NAM !
Ngô Minh Hằng
Hai tay nâng mảnh khăn tang
Trăm năm thôi vĩnh biệt Chàng từ đây!
Vì đâu đến nước non này
Lệnh kia sao lại trói tay anh hùng?
Trước hờn bức tử non sông
Thiên thu đâu lẽ thẹn cùng cỏ cây!?
Mịt mù bốn phía trời mây
Tiếng gầm đại bác, tiếng cày xe tăng
Phút giây oan nghiệt bất bằng
Giận cơn hồng thủy cuốn phăng sơn hà
Âm thầm, Chàng bỏ lại ta…
Giữa trăm ngàn nỗi xót xa nghẹn ngào!
Kỳ đài, cờ rủ trên cao
Ngỡ ngàng nghe lệnh chiến hào bỏ không
Đau thương, nhìn lại xác chồng
Chàng đi theo nước, em không trách Chàng!
Xé manh áo, quấn khăn tang
Lên đầu con trẻ, hai hàng lệ rơi
Xa nhau!… Vĩnh biệt nhau rồi…
Mà không nói được một lời từ ly!
Mắt thần chẳng khép làn mi
Một dòng máu đỏ, tứ chi lạnh dần
Ôm chồng, thân ngã vào thân
Tứ bề pháo giặc xa gần ầm vang
Hai tay nâng lá cờ vàng
Phủ lên cho ấm lòng Chàng, lòng ta!
Tên Chàng dù chẳng sử hoa
Nhưng hồn Chàng đã nhập hòa núi sông
VÔ DANH VẠN THUỞ ANH HÙNG!!!
Ngô Minh Hằng

Hùng Ca Tưởng Niệm
Thiếu Tướng NGUYỄN KHOA NAM
Tư Lệnh Vùng IV Quân Khu IV

Phạm Bội Diệp & Trần việt Yên
Tưởng Niệm các Anh Hồn Tử Sĩ 30 – 4 – 75

Súng vang kết liễu mạng Anh Hùng
Dân lệ giang sơn động cửu trùng !
Trước địch không hèn , gan tướng dũng
Trong dân nể phục , tiết tôi trung !
Tinh thần Hoàng Diệu treo ngời rạng
Khí phách Khoa Nam nối sáng trưng
Vị quốc vong thân , người bất tử
Uy linh huyền sử dấu soi cùng , !
Phạm Bội Điệp
Bài họa của Trần Việt Yên:

Tấm gương trung liệt thật hào hùng ,
Nước mắt lê dân nhỏ điệp trùng ,
Một thuở tung hoành oai hổ tướng
Muôn đời Vằng vặc tấm gương trung
Chết cùng Tổ quốc theo Hoàng Diệu
Sống với Non sông tựa Nhị Trưng
Chẳng thẹn lòng ai vô uý tử
Khoa Nam Lịch Sử khắc bia cùng !
Bài hưởng ứng của Trần Việt Yên :

I
-‘’ Đừng đem thành bại luận ANH HÙNG !! ‘
Tiếng súng liệt oanh động Cửu Trùng !
Chinh chiến tung hoành , gan tướng dũng
Thất cơ nguyện giữ , tiết tôi trung !
Theo chân Hoàng Diệu gương ngời rạng,
Nối bước Tri Phương vượt sáng trưng !
Thân hiến Quốc Gia Hồn bất tử
Vàng son Lịch Sử dấu soi chung *

II
Soi chung Lịch Sử dấu vàng son
Danh Tướng Khoa Nam mãi trường tồn ,
Khiếp viá Cộng nô Hoa Dù nở ,
Bay hồn quân địch chốn biên cương .
Tây Đô trấn nhậm , dân tin tưởng ,
Lục Tỉnh tảo trừ giữ nước non
Đến bước cuối cùng không úy tử
Thiên thu ngời sáng tấm lòng son !

I I I
Lòng son ngời sáng đến thiên thu
Thương tiếc ba quân nguyện kính thờ
Quốc phá thung dung thân tựu nghiã
Gia vong chẳng chịu lấm bùn nhơ
Theo chân Hoàng Diệu gương trung liệt
Nối bước Tri Phương , chí chẳng mờ
Dù thác tinh anh còn sống mãi
KHOA NAM hùng khí đến thiên thu,

IV
Thiên thu hùng khí Nguyễn Khoa Nam
Sống mãi trong hồn người Việt Nam
Thắp sáng toàn dân vì chính nghiã
Dục lòng quân sĩ cứu nhà Nam
Ngân vang tiếng súng đền ơn nước
Bay bổng hồn về với Tộc Nam
Quốc biến không màng chi mạng sống
Muôn đời Anh kiệt Nguyễn Khoa Nam

Đức độ tài năng đã rõ ràng
Báo đền nợ nước, NGUYỄN KHOA NAM
Nuí sông bức tử vào tay giặc
Thà chết vinh danh, chẳng nhục hàng!

Ngô Minh Hằng
“Tuẫn tiết theo thành khí phách thay!
Tướng Nam xứng đáng bậc râu mày
Ngửa nghiêng vận nước khôn chèo chống
Khắc nghiệt cơ trời khó chuyển xoay
Tư lệnh Quân Khu đành chọn thác
Chỉ huy vùng bốn chẳng cao bay
Vì dân vì nước tròn danh tiết
Lưu mãi ngàn thu nghĩa cử này.”

NHỊ VỊ TƯỚNG LÃNH
Nguyễn Khoa Nam – Lê Văn Hưng
“Vị quốc vong thân chết vẫn hùng
Hưng, Nam hai Tướng cặp bài trùng
Gia bần, nhà rõ lòng con hiếu
Quốc loạn, dân hay da. Tướng trung
Thà chọn thác vinh, gương sáng để
Chẳng ham sống nhục tiếng nhơ trưng
Anh hùng tử, khí hùng nào tử
Khí phách hiên ngang trận cuối cùng.”

Thiếu Tướng LÊ VĂN HƯNG

Tư Lệnh Phó Sư Đoàn IV,Quân Khu IV

Anh hùng An Lộc đã danh vang
Chấp nhận làm sao được lệnh hàng
Vì nước, tướng hùng, lòng tiết khí
Chọn đường oanh liệt, chết vinh quang

Ngô Minh Hằng

Thiếu Tướng Lê Nguyên Vỹ
Tư Lệnh Quân đoàn 5 Bộ Binh

Bình Long anh dũng góp tài năng
Làm tướng như Ông, mấy kẻ bằng
Quốc sĩ đầu hàng sao được giặc
Sân cờ Tư Lệnh, ánh sao băng!!!

Ngô Minh Hằng

“Anh hùng hành động thật hùng anh
Tướng Vỹ coi thường chuyện tử sanh
Quốc kế khôn ngăn phường tráo trở
Dân tình khó cản bọn lưu manh
Tiền phương Quân sĩ còn ngăn giặc
Hậu tuyến trung ương đã nạp thành
Tư lệnh Sư Đoàn đâu chịu nhục
Sân cờ tuẫn tiết giữ thanh danh.”
“Chiều ấy Lai Khê u uất lắm
Đất trời cây cỏ ngập màu tang
Khi người nằm xuống, Người nằm xuống
Ta đã mất rồi! Mất Việt Nam.
Sáng Ba Mươi giặc tràn Phú Lợi
Quân ta về trấn thủ Bình Dương
Ta vẫn nghe tiếng Người trong máy
Lòng trung Tổ Quốc vẫn vang vang

… Đồi Bam-mốt Sư Đoàn bị bức tử
Đêm ba-mươi vang vọng những hồn oan
Bao nhiêu năm! cờ tang chưa xả
Sống lưu đày lòng đau nhục mang mang
Trời Tháng Tư vẫn nghẹn ngào trong nắng
Hởi hồn Người! Còn vang tiếng Việt Nam.

(Tưởng nhớ Tướng Lê NguyênVỹ) – Đăng Nguyên.
Thiếu Tướng PHẠM VĂN PHÚ
Tư Lệnh Quân Khu II Vùng II Chiến Thuật
“Đất nước tôi trong trạng huống này
Làm sao có thể bỏ đi đây?
Tôi thà ở lại và cam chết
Không chạy, không hàng, nhục lắm thay !

Lời còn văng vẳng đâu đây
Của vị danh Tướng lòng đầy hiên ngang
Danh thơm ghi tạc sử vàng
Tri Phương, Hoàng Diệu theo đàng người đi

Thác vinh sử sách mãi ghi
Đâu thèm sống nhục, bấc chì mỉa mai
Thân danh là một tướng tài
Lẽ đâu khuất phục với loài sói lang
Tướng thà chết quyết không hàng
Tấm gương bất khuất, vẻ vang đời đời.”

Chuẩn Tướng TRẦN VĂN HAI
Tư Lệnh SĐ/7 BB
“Nghe Tướng Khoa Nam tuẫn tiết rồi
Tướng Hai cố nén lệ sầu rơi
Tình hình ngó thấy khôn chèo chống
Cuộc diện nhìn xem, khó vãn hồi

Vận nước thế thời, cam phải thế
Lòng người thôi thế, cũng đành thôi
Ông đem cái chết đền ơn nước
Bất khuất, hiên ngang khác mọi người

Bất khuất, hiên ngang khác mọi người
Ông coi cái chết tựu đi chơi
Sống nêu gương sáng trong Quân đội
Thác để danh thơm lại với đời

Úy tử đẫu hàng không thể chọn
Tham sinh trốn chạy khó mà noi
Tri Phương, Hoàng Diệu, đi theo bước
Nêu tấm gương hùng, hậu thế soi.”

Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh
Yêu dân, yêu lính trước yêu mình
Quê hương bức tử vào tay giặc
Thà chết cho tròn cái chết vinh !

Ngô Minh Hằng

Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn

Ngũ Hổ U Minh
Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện

“Trung dũng cang cường chẳng kém ai
Tên anh “Ngọc Cẩn” quả không sai
Ba bông mai bạc mang không uổng
Một tấm gương vàng để khó phai
Khí phách can trường đà số một
Tinh thần quả cảm dễ gì hai
Đạn thù kết liễu đời oanh liệt
Quân sử lưu danh vẹn đức tài.”

Quyết chiến cùng dân giữ tỉnh nhà
Trả thù, giặc Cộng bắt ông ra
Cần Thơ bịt mắt đem hành quyết
“Cứ giết nhưng đừng bịt mắt ta
“Để ta nhìn nước, dân lần cuối ”
Anh hùng muôn thuở sử hùng ca !

HƠI THỞ VIỆT NAM

Ðể tưởng niệm
Trung Tá Cảnh Sát Long

Tự sát dưới chân tượng đài Thủy Quân Lục Chiến tại Sài Gòn
sáng ngày 30-4-1975

Trên đám cỏ này là nơi anh đã nằm
Trên nắm đất này là nơi máu anh đã nhỏ
Ðất vẫn một màu nâu
Cỏ vẫn một màu xanh muôn thuở
Mặt trời mỗi sớm vẫn rọi vào làm lóng lánh
những giọt sương
Như đôi mắt sáng của anh
Lần cuối cùng ngửa mặt nhìn tổ quốc yêu thương
Dưới chân tượng đài Thủy Quân Lục Chiến.

Trung Tá Long !
Họ của anh là gì vẫn chưa ai biết
Có phải là Ngô, Ðinh, Lý, Trần hay Lê, Nguyễn…Văn Long ?
Không, tên của anh đã bắt đầu
Từ ở núi, ở rừng, ở biển, ở sông
Ở những câu chuyện thần tiên mẹ thường hay kể
Từ thuở Cha Lạc Long dắt năm mươi con xuống bể
Mẹ Âu Cơ dắt một nửa lên ngàn
Từ thuở bầy chim Lạc chắp cánh bay về
vùng nắng ấm phương Nam
Xây tổ bên sông Hồng, sông Cửu
Tên của anh đã bắt đầu khi con rồng Việt Nam
phun lửa đốt rừng dựng nên bờ cõi
Truyền vào lồng ngực anh hơi thở vào đời
Hơi thở Việt Nam hòa trong anh suốt thuở làm người
Sáng ba mươi anh trở về với mẹ
Hồn anh bay giữa trời quê hương
Một màu tang quạnh quẽ
Tổ quốc nghiêng mình tiễn biệt một người con.

Lòng anh đau khi nghe tiếng chiếc xe tăng
Ðang nghiền nát Sài Gòn
Hy vọng chết dưới mỗi lằn xích sắt
Viên đạn Nga bắn vào tim nước Việt
Lưỡi lê Tàu đâm thủng ngực dân Nam
Ôi ! có bao giờ trong suốt bốn nghìn năm
Mà đất trời quê hương ta buồn như hôm ấy
Những mẹ, những cha, những cụ già, em bé
Ngơ ngác nhìn nhau, sợ hải, kinh hoàng.

Một chế độ vừa bắt đầu
Bằng hận thù, khủng bố, lầm than
Bằng tiếng xích T54 đay nghiến hồn dân tộc
Xé nát lòng anh bao hờn căm và tủi nhục
Anh đã chọn cho mình một cách chết quang vinh.

Anh ngã xuống giữa Sài Gòn không để lại đủ họ tên
Nhưng lịch sử nghìn năm sau vẫn nhớ.
Trung Tá Long !
Mây vẫn bay trên đầu anh mỗi chiều, mỗi sớm
Mặt trời mọc mỗi ngày làm lóng lánh giọt sương mai
Như nước mắt mẹ già nhỏ xuống xác con trai
Như ánh mắt chị nhìn chồng trong giờ vĩnh biệt
Ðất vẫn một màu nâu đậm đà như tình người dân Việt
Nơi anh nằm hoa cỏ vẫn xanh tươi.

Máu anh rơi để làm đẹp cuộc đời
Tô thắm đường các em sẽ đến
Các em là thuyền nhờ có anh là bến
Trong cuộc hải hành này anh là ngọn hải đăng soi
Ðường tự do dù còn lắm chông gai
Nhưng đã có anh mang niềm tin đi trước
Cám ơn anh, người con yêu đất nước
Ðã truyền lại cho muôn đời hơi thở Việt Nam.
Trần Trung Ðạo

NGƯỜI LÍNH VNCH

“ĐÂY LÀ TIẾNG NÓI NƯỚC VIỆT NAM
PHÁT THANH TỪ THỦ ĐÔ SÀIGÒN…”
Cho đến nay, tiếng nói đó vẫn còn
Vang vọng mãi trong trái tim “Người Lính”.

Là hình ảnh của một thời ổn định
Là tiền đồn của Thế giới tự do
Của miền Nam nước Việt rất ấm no
Là thành luỹ mang hồn thiêng sông núi.

“Người Lính” trẻ đã một thời dong ruỗi
Đem Tình người, Tình lính trấn biên cương
Vẫn một lòng chung thuỷ với quê hương
Dù oan nghiệt rẽ đời qua trăm hướng.

“Người Lính” chúng tôi tuy không Sinh Vi Tướng
Cũng hiên ngang chấp nhận Tử Vi Thần
Trọn một lòng chỉ vì Nước, vì Dân
Dâng hiến cả đời mình cho Tổ Quốc.

Từ QUảng Trị rét căm mùa gió bấc
Đến Cà Mau mưa, lũ ngập đồng sâu
Vết giầy saut lội bất cứ nơi đâu
Để mang lại Tin Yêu và Lẽ Sống.

“Người Lính” chúng tôi mang trái tim hào phóng
Của tuổi đời đẹp nhất: lúc đôi mươi
Làm nguồn vui nơi tuyến đầu lửa bỏng
Trong gian truân vẫn nồng ấm nụ cười.

Dù đôi lúc có hoang mang, phẫn nộ
Hay chán chường vì dấu ấn chiến tranh
Nhưng nỗi buồn cũng tan biến rất nhanh
Khi đối diện với kẽ thù ngoài mặt trận.

Rồi cũng đến lúc chào thua số phận
Khi tàn vong đành nước mất, nhà tan
Vì thế cùng, lực tận phải sang bang
Thân nhược tiểu, xót thầm, ôi ngang trái

“Người Lính” chúng tôi không hề chiến bại
Chỉ chào thua định mệnh đã an bài
Bởi cô thế đành nương thân hải ngoại
Chờ bình minh quang phục của ngày mai.

Huy Văn

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s