Cố tình hay là sự thừa hơi tai hại?

 

Posted by ttxcc2 on 15/06/2012

Bùi văn Bồng blog

Bè nuôi cá của Trung Quốc tại Cam Ranh

CỐ TÌNH HAY LÀ SỰ THỪA HƠI TAI HẠI?
Hôm qua (14-6), trang Blog “Tạp hóa faxuca” đã đăng bài của tác giả Phạm Việt Thắng với tựa đề: “Tạp chí Văn hóa Nghệ An đăng bài viết cực kỳ nguy hiểm” (điểm tin thứ 6 – 15/6/2012 trên blog anhbasam.wordpress.com) . Mở đầu bài viết có đoạn diễn tả tâm trạng bức xúc: “Là công dân nước Việt Nam, không một ai có thể tin được, có một cơ quan báo chí đăng bài, nói rằng Biển Đông là của Trung Quốc. Nhưng đó lại là sự thật, được đăng tải công khai trên một cơ quan báo chí chính thống – Tạp chí Văn hóa Nghệ An. Số 221, ra ngày 25/5/2012, tạp chí này cho đăng bài viết: “Đột phá hai chiến lược lớn của Trung Quốc trên Biển Đông”. Bài này được ghi là của Dương Danh Dy (g t), và dẫn nguồn: yuaneping1@sohu, ngày 7/7/2010…( đọc bài tại đây ). Cái trích dẫn của bài báo về nguồn tin là bài của Dương Danh Dy liền bị nhiều bạn đọc đánh giá đây là nguồn tư liệu ngụy tạo. Đưa bài này lên T.c Văn hóa Nghệ An có gì đó thể hiện không trong sáng, thiếu cân nhắc chuẩn mực, hoặc bị mắc mưu Tàu. Không hiểu vì lý do, động cơ gì mà Tạp chí Văn hóa Nghệ An lại cho đăng bài này, giữa lúc sự kiện những bè nuôi cá của người Trung Quốc ở Vũng Rô đang làm dư luận sôi động.

Trước vụ việc “trật lấc” này trên Tạp chí Văn hóa Nghệ An, trang Bvbqd xin trích dẫn một số quan diểm của ông Dương Danh Dy, Nhà nghiên cứu về Trung Quốc, nguyên Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu, viết về Trung Quốc, Biển Đông và chủ quyền lãnh hải của Việt Nam:
… Để nhân dân Trung Quốc và quốc tế hiểu đúng về chủ quyền của Việt Nam cần phải nâng cao hơn nữa chất lượng truyền thông ở Việt Nam. Báo chí của chúng ta nên vào cuộc công khai hơn nữa; các bài viết và tư liệu đưa ra phải có tính thuyết phục, có lý có tình để mọi người dân trong nước, ngoài nước và dư luận quốc tế thấy rõ chủ quyền biển đảo của Việt Nam.

Nếu tôi không nhầm thì 20 mươi năm qua (kể từ năm 1991) sau khi hai nước bình thường hoá quan hệ, không biết vì lý do gì mà trong khi mọi phương tiện truyền thông Việt Nam gần như im lặng về tuyên truyền, giáo dục chủ quyền lãnh thổ, biển đảo thì truyền thông Trung Quốc vẫn công khai tuyên truyền rộng rãi trong dân chúng họ về vấn đề này. Cùng với đó là sự vu cáo Việt Nam đang xâm chiếm một phần quần đảo Trường Sa mà họ cho là của họ, Việt Nam đang khai thác dầu khí tại vùng biển mà họ coi là của họ v.v.
Cũng chính vì “mưa dầm thấm lâu” nên đến nay khá nhiều người dân Trung Quốc đã bị “đánh lừa”. Như tôi đã từng trích dẫn từ mạng chính thức của Trung Quốc, qua điều tra, thăm dò ý kiến đã có tới trên 80% dân mạng Trung Quốc cho rằng phải dùng vũ lực ở Biển Đông (nên nhớ số dân mạng Trung Quốc khi có cuộc điều tra đó là trên 300 triệu người) và nếu xảy ra chiến tranh ở Biển Đông, thì việc đầu tiên là “đánh” Việt Nam. Trên một mạng Trung Quốc ngày 31-7-2011 còn tung tin sau Quốc khánh Trung Quốc (1 tháng 10) năm nay sẽ “khai đao” Việt Nam… Đưa vài dẫn chứng như vậy để thấy phía họ đã tuyên truyền và tác động xấu của những luận điệu tuyên truyền đó đến người dân nước họ như thế nào! Còn báo chí chúng ta mới chỉ bắt đầu vào cuộc thôi!
Trên các báo lớn của họ hầu như không lên tiếng, nhưng các ấn phẩm phụ trương của các tờ báo lớn của họ thì được phép tự do hành động. Tôi đã từng chứng minh tờ “Hoàn cầu thời báo” là con đẻ của “Nhân dân nhật báo”, nay xin nói thêm, mạng Bát Nhất có mạng ăn theo là “Trung Quân võng” (Milchina.com)…

Cần thấy thêm, Trung Quốc là một trong những nước kiểm soát mạng rất chặt. Luận điệu “không kiểm tra được hết” do họ đưa ra hoàn toàn là để trốn tránh trách nhiệm, không thể tin được. Trong tay tôi hiện có không ít tư liệu chứng minh điều này.
Gần đây báo chí của ta mới vào cuộc một cách mạnh mẽ. Chỗ này phải mở ngoặc nói thêm là hầu hết các bài viết của tôi về vấn đề chủ quyền từ tháng 2 năm 2009 đăng trên các phương tiện truyền thông nước ngoài và các trang web cá nhân, gần đây đã được đăng trên các tờ báo chính thức ở Việt Nam.
Tôi cho rằng, trong đấu tranh cần phải biết mình, biết người, có tinh thần trách nhiệm cao với dân tộc; phải đề xuất góp ý với người có trách nhiệm những ý kiến xác đáng về phạm vi chủ quyền biển đảo. Việc giữ bằng được, bảo vệ bằng được chủ quyền hiện có của chúng ta trên quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ thiêng liêng của mọi người dân. Cần phải làm cho mọi người dân Việt Nam ở trong, ngoài nước cũng như dư luận quốc tế trong đó có một bộ phận người dân Trung Quốc thấy rõ những vấn đề thuộc chủ quyền chính đáng của Việt Nam.
Tôi đã đọc rất nhiều những bài viết về Việt Nam trên các phương tiện truyền thông của Trung Quốc. Rõ ràng để viết được những bài sâu sắc như vậy, người viết bài phía họ phải có trình độ, am hiểu về lịch sử, am hiểu về mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam- Trung Quốc. Còn chúng ta thì sao? Hiện nay có những phóng viên viết về lịch sử nhưng cũng chưa am hiểu lịch sử lắm. Điều này rất dở.
Để tiếp tục tuyên truyền hiệu quả hơn nữa về vấn đề này, tôi cho rằng cần có sự tham gia của mọi người Việt Nam yêu nước và người nước ngoài đồng tình với chúng ta, trong đó các học giả, những người cầm bút sắc sảo nhiều kinh nghiệm, có vai trò quan trọng. Cùng với đó, các bài viết trên báo chí nên đi sâu tập trung vào các vấn đề trọng tâm, chủ yếu, tránh lan man hoặc đi vào khía cạnh “bôi xấu” về sinh hoạt, về lối sống của người ta như gần đây đã có vài bài viết kiểu “té nước theo mưa” trên một số tờ báo, hoặc đã phê là phê tất… Như vậy không nên.
Xin nhắc lại, chúng ta chỉ chống những chủ trương, hành động, lời nói… bá quyền, nước lớn của Trung Quốc đối với tôn nghiêm dân tộc và toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, biển đảo của dân tộc Việt Nam, chứ không bao giờ chống hoặc bôi xấu nhân dân Trung Quốc. Đây cũng là một phần trách nhiệm của các phương tiện truyền thông Việt Nam.
Hơn nữa, việc tuyên truyền về chủ quyền Tổ quốc phải liên tục, lâu dài không phải là chuyện “ào” lên thành đợt như một thứ a dua rồi sau đó lại rơi vào im lặng.

* * *
… Khi chưa có vần đề tranh chấp bãi cạn Scarborough, Trung Quốc luôn xếp Việt Nam là “đối tượng” chủ yếu trong vấn đề Biển Đông. Tại sao năm nay họ nhắm vào Phillipines? Theo tôi, có những lý do như sau:
– Các nhà cầm quyền Trung Quốc muốn đưa ra một phép thử với Philippines và với Mỹ. Theo Hiệp ước phòng thủ chung 1951, Mỹ sẽ điều quân đội tới bảo vệ Phillipines nếu nước này bị tấn công. Vậy liệu Mỹ có sẵn sàng thực hiện cam kết đó trong hoàn cảnh hiện nay không?

Trên thực tế, câu trả lời là những hành động cưong quyết nhưng khôn ngoan của chính phủ và nhân dân Philippines cũng như phát biểu rõ ràng của Thượng nghị sĩ Jonh McCain và sự hiện diện tàu ngầm Mỹ USS North Carolina gần khu vực tranh chấp.
Đầu tháng 5/2012, Bộ Ngoại giao Philippines cũng đã lên tiếng khẳng định, Mỹ đã từng bốn lần công khai tuyên bố sẽ tuân thủ Hiệp ước phòng thủ chung 1951.
– Đối với các nước trong khối ASEAN, đây là một chiêu bài ly gián. Trung Quốc biết rõ, nội bộ các nước trong khối ASEAN chưa đồng thuận về vấn đề Biển Đông do nhiều lý do, như những khác biệt về địa lý, về thể chế chính trị và nhất là về lợi ích dân tộc…
Họ biết Lào, Myanmar là nước không có biển, Thái Lan, Malaysia ở xa Trung Quốc, Việt Nam là nước xã hội chủ nghĩa nhưng ở liền kề họ v.v.. Tuy nhiên, cách đây đúng một năm, tại Hội nghị cấp cao ASEAN 18 tổ chức tại Jakarta, các nhà lãnh đạo cấp cao ASEAN đã đạt được sự đồng thuận quan trọng trong vấn đề Biển Đông: Tăng cường nỗ lực thực hiện toàn diện Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông để bắt đầu xây dựng Bộ Quy tắc ứng xử ở Biển Đông vào năm 2012.

Nếu điều đó được thực hiện, ý đồ “chia để trị”, “giải quyết các vấn đề tranh chấp bằng đàm phán song phương”…của Trung Quốc sẽ thất bại.
Và gần đây nhất tại cuộc đối thoại lần thứ 25 vừa diễn ra trong 2 ngày 21 và 21 tháng 5 năm 2012 tại Manila, Philippines, Asean và Mỹ đã tái khẳng định sự cần thiết của COC.
Trước hết, phải thấy rằng đến nay hầu như các nước trong khối ASEAN chưa chính thức bầy tỏ thái độ về vấn đề bãi cạn Scarborough.
Ngoại trưởng Phillipines Albert del Rosario đã lên tiếng kêu gọi: “Tất cả các nước khác chứ không chỉ có Philippines sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng nếu chúng ta không có một lập trường…”.
Việt Nam là nước đầu tiên trong ASEAN bày tỏ quan ngại và kêu gọi sử dụng Công ước về Luật Biển và DOC để giải quyết hòa bình tranh chấp trên.
Chúng ta ủng hộ Phillipines vì tôi biết chắc chắn (căn cứ vào tư liệu lịch sử mà hai bên công bố), chủ quyền bãi cạn Scarborough thuộc về Philllipines.
Theo tôi, lựa chọn như thế nào, cần phải được các nhà lãnh đạo Việt Nam cân nhắc. Tuy nhiên cháy nhà hàng xóm nếu bình chân như vại thì rất có thể, đám cháy sẽ lan sang nhà mình.
Mặt khác, nếu Việt Nam giữ thái độ bàng quan trước việc này, khi có chuyện xảy ra với mình, ngưòi ta có thể sẽ có thể hiện tương tự.
Những ai “kỳ vọng” nếu “nhún nhường”, Trung Quốc sẽ để yên, chỉ là những người ảo tưởng, dại khờ.
Tôi hy vọng và mong rằng Việt Nam và Phillipines sẽ cố gắng trở thành cầu nối cho sự liên kết trong ASEAN về vấn đề này.
Thứ nhất, việc sử dụng những tàu hải giám, tàu tuần duyên… yểm trợ tàu cá, bảo vệ các dàn khoan khổng lồ trong thời gian gần đây chứng tỏ Trung Quốc muốn có một hình ảnh “hòa hiếu” hơn trong mắt cộng đồng quốc tế mà vẫn thực hiện được tham vọng thể hiện chủ quyền và vơ vét tài nguyên Biển Đông.

Thứ hai, mới đây, Trung Quốc lại đơn phương lặp lại tuyên bố lệnh cấm đánh bắt cá vào mùa sinh sản (từ 16/5 – 1/8 hàng năm).
Tuyên bố này nhằm “hợp lý hóa” sự xuất hiện của tàu hải giám, tàu tuần duyên… tuần tra trên biển, thể hiện chủ quyền của Trung Quốc tại các vùng lãnh hải đang có tranh chấp, ngăn chặn ngư dân các nước có liên quan khai thác hải sản, hoạt động bình thường trong vùng lãnh hải của mình..
Nhìn chung, dù áp dụng chiến lược, sách lược nào, tham vọng bá quyền của Trung Quốc trên Biển Đông là không hề thay đổi.
Lịch sử đã chứng minh, người Trung Quốc luôn kiên trì và dùng mọi thủ đoạn để đạt được mục đích lấn chiếm lãnh thổ của mình.
Hung Nô một dân tộc hùng mạnh đã có thời bắt Tô Vũ sứ giả nhà Hán đi chăn cừu mười năm, khiến nhà Hán phải cống người đẹp Chiêu Quân. Thế nhưng bằng các chính sách lúc thì sử dụng vũ lực, lúc thì chịu cống nạp, lúc thì thông hôn… cuối cùng tộc Hung Nô đã bị người Hán đánh bại, đồng hoá.
Dù đã là siêu cường lớn thứ 2 thế giới về kinh tế nhưng Trung Quốc không có đồng minh thân cận. Sức mạnh của Trung Quốc là sức mạnh của quốc gia trên 1 tỷ dân, sức mạnh của một người khổng lồ đơn độc.
Vừa qua trưóc việc Trung Quốc phô trương thế “ỷ mạnh hiếp yếu” trên Biển Đông, cộng đồng quốc tế, nhất là Mỹ, đã có những phản ứng, dù có mức độ, nhưng đã khiến nhà đương cục Bắc Kinh không thể nhắm mắt coi thưòng. Họ buộc phải có một số điều chỉnh, nhưng theo tôi đó chỉ là chuyện tạm thời. Ý đồ và tham vọng của Trung Quốc tại Biển Đông như đã nói trên là bất biến.
Thời gian trước đây, những cuộc đấu tranh nội bộ của Trung Quốc đã diễn rất ác liệt nhưng phụ thuộc vào người nắm quyền tối cao như Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình.
Tại thời điểm hiện nay, ban lãnh đạo Trung Quốc không còn các nhân vật như vậy, nên cuộc đấu tranh nội bộ của Trung Quốc sẽ rất phức tạp và khó dự đoán.
Chúng ta không thể lường được trong cuộc giành giật quyền lực một sống một chết, các phe phái, các nhóm lợi ích của Trung Quốc sẽ hành động như thế nào?
Tuy vậy, tôi không bao giờ cho rằng nếu phe nào đó, người nào đó ở Trung Quốc trở thành phe lãnh đạo, ngưòi lãnh đạo Trung Quốc thì sẽ tốt hơn cho Việt Nam.

Bởi vì lịch sử đã cho thấy, bất kể phe nào, người nào lên nắm quyền thì tham vọng bá quyền nước lớn của Trung Quốc đối với Việt Nam vẫn không hề thay đổi.
Theo tôi, Việt Nam cần tranh thủ sự ủng hộ, đồng tình của cộng đồng quốc tế, các quốc gia có liên quan, với một số nước như Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia…
Trong ASEAN, Việt Nam phải cố gắng đóng góp phần cần có của mình chứ không nên “đi đầu”. Nếu có quyền bỏ phiếu chọn quốc gia đứng đầu ASEAN trong việc giải quyết các tranh chấp Biển Đông với Trung Quốc, tôi sẽ chọn Indonesia.
Indonesia là nước đủ lớn và có tiếng nói đủ trọng lượng để kêu gọi sự đoàn kết, thống nhất trong ASEAN. Trong quan hệ Việt Nam – Indonesia, Indonesia là nước quan tâm tới lợi ích của chúng ta.
Ngoài ra, một điều kiện rất then chốt là chúng ta phải có một ban lãnh đạo đủ tâm và đủ tầm trí tuệ, thấy rõ trách nhiệm với đất nước.
Có như vậy mới mạnh bạo xử lý các mối quan hệ đối ngoại như quan hệ Việt Nam – Mỹ, Việt Nam – ASEAN và nhất là quan hệ Việt-Trung một cách đúng đắn, có lợi cho dân tộc mình mà vẫn tôn trọng lợi ích các nước liên quan.
Dương Danh Dy
( Nguồn: Đại đoàn kết và Phụ nữ today)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s