Bà Suu Kyi: ‘Có một tù nhân chính trị đã là quá nhiều’

Theo VOA

Lãnh đạo dân chủ Miến Điện Aung San Suu Kyi nói rằng Giải Nobel Hòa bình đã mở ra một cánh cửa trong tim bà và góp phần nới rộng sự quan tâm của bà về dân chủ và nhân quyền vượt khỏi biên giới Miến Điện.

Lãnh tụ đối lập này hôm nay đã kêu gọi trả tự do cho tất cả các tù nhân chính trị trong lúc bà đọc diễn văn nhận giải Nobel ở Na Uy – 21 năm sau khi bà được trao giải. Năm 1991 bà còn bị giam lỏng ở Miến Điện và lúc đó chồng bà cùng với những người con trai bà đã thay mặt bà để nhận giải.

Bà Suu Kyi nói rằng việc bị giam lỏng làm cho bà cách biệt với thế giới bên ngoài, nhưng Giải Nobel đã giúp bà nói kết lại với cộng đồng quốc tế.

Bà nói rằng tuy tiến trình cải cách chính trị đã bắt đầu ở Miến Điện nhưng vẫn còn tù nhân chính trị ở nước bà và bà e rằng những người này sẽ bị bỏ lơ trong lúc những người tù nổi tiếng hơn đã được thả.

Bà được cử tọa ở thủ đô của Na Uy nhiệt liệt hoan nghênh khi nói rằng “có một tù nhân chính trị đã là quá nhiều.”

Bà nói rằng cuộc đấu tranh lâu dài của bà cho dân chủ và tự do đã dạy cho bà bài học về giá trị của lòng tử tế. Bà nói rằng khi nào sự chịu khổ bị làm ngơ thì đó chính là lúc “hạt mầm xung đột” được gieo xuống, vì sự chịu khổ gây ra oán thù và căm phẫn.

2 comments on “Bà Suu Kyi: ‘Có một tù nhân chính trị đã là quá nhiều’

  1. KHÔNG NÊN xóa !

    KHÔNG NÊN xóa

    KHÔNG NÊN xóa ! TẠI SAO XÓA ??????


    Trong tháng ngày bị giam giữ, tôi đôi khi cảm thấy mình không còn thuộc về thế giới thực. Đấy đã là mái nhà cũng là thế giới của tôi, và đấy là thế giới thuộc về những người khác cũng không có tự do nhưng cùng sống chung trong nhà tù như một cộng đồng. Và kia là thế giới thuộc về những người tự do, mỗi thế giới là một hành tinh khác biệt truy đuổi theo đường nay quỹ đạo riêng biệt của mình trong một vũ trụ vô cảm hững hờ

    Điều mà Giải Nobel Hoà Bình đã làm là đưa tôi trở về lại với thế giới của những con người khác tha nhân khác, ngoài vùng cách biệt nơi tôi sống, đã trùng tu cho tôi lại nhận thức về hiện thực của mình.

    Hiển nhiên điều ấy không xảy tức thời vào ngay lúc ấy nhưng với ngày tháng trôi qua cùng tin tức về các phản ứng trên quyết định trao giải đến từ nhiều kênh truyền thanh truyền thông, tôi đã bắt đầu hiểu ra ý nghĩa của Giải Nobel.

    Điều ấy một lần nữa đã đưa tôi về trở lại với hiện thực, điều ấy đã đưa tôi trở về lại với cộng đồng lớn lao là Nhân loại. Và quan trọng hơn thế nữa, Giải Nobel đã làm cho dư luận thế giới chú ý đến cuộc tranh đấu vì Dân chủ và Nhân quyền ở Miến Điện. Chúng tôi sẽ không bị lãng quên.

    Often during my days of house arrest it felt as though I were no longer a part of the real world. There was the house which was my world, there was the world of others who also were not free but who were together in prison as a community, and there was the world of the free; each was a different planet pursuing its own separate course in an indifferent universe.

    What the Nobel Peace Prize did was to draw me once again into the world of other human beings outside the isolated area in which I lived, to restore a sense of reality to me.

    This did not happen instantly, of course, but as the days and months went by and news of reactions to the award came over the airwaves, I began to understand the significance of the Nobel Prize. It had made me real once again; it had drawn me back into the wider human community. And what was more important, the Nobel Prize had drawn the attention of the world to the struggle for democracy and human rights in Burma. We were not going to be forgotten.


    Bị rơi vào lãng quên. Như Dân Pháp nói ra đi là chết một phần mình. Bị bỏ vào lãng quên cũng là chết một phần mình. Đó là mất đi một phần những quan hệ gắn chặt chúng ta với Nhân loại. Khi tôi gặp những người Miến Điện tị nạn và lao động di trú trong chuyến đi thăm Thái Lan gần đây, nhiều người kêu to :”Xin đừng lãng quên chúng tôi !”.
    Họ muốn nhắn nhủ : “Đừng quên nỗi thống khổ của chúng tôi, đừng quên làm những gì có thể làm được để giúp chúng tôi, đừng quên là chúng tôi cũng thuộc về thế giới của tất cả các bạn.”

    Khi Uỷ ban Giải Nobel trao Giải Nobel Hoà Bình cho tôi, Uỷ ban đã công nhận những người bị áp bức và cô lập nơi Miến Điện cũng là một phần của thế giới, Uỷ ban đã kkẳng định tính Nhất thể của Nhân loại.

    Cho nên, đối với tôi khi nhận Giải Nobel Hoà Bình là mình đang nới rộng những khát vọng dân chủ và nhân quyền của mình ra ngoài các biên giới biên cương. Giải Nobel Hoà Bình đã mở rộng một khung cửa trong trái tim tôi.

    To be forgotten. The French say that to part is to die a little. To be forgotten too is to die a little. It is to lose some of the links that anchor us to the rest of humanity. When I met Burmese migrant workers and refugees during my recent visit to Thailand, many cried out: “Don’t forget us!” They meant: “don’t forget our plight, don’t forget to do what you can to help us, don’t forget we also belong to your world.”

    When the Nobel Committee awarded the Peace Prize to me they were recognizing that the oppressed and the isolated in Burma were also a part of the world, they were recognizing the oneness of humanity. So for me receiving the Nobel Peace Prize means personally extending my concerns for democracy and human rights beyond national borders. The Nobel Peace Prize opened up a door in my heart.

    Là Phật tử thuần thành, tôi đã được nghe nói nhiều đến “dukha”, thường được dịch là khổ não. Gần như mỗi ngày, nghe quanh tôi những người già, và có khi cả những người trẻ, thầm thì lẩm bẩm “dukha, dukha” khi họ đau nhức thân xác hay gặp chuyện phiền tóai nào đó. nhưng chỉ trong những năm tháng tù đày tôi mới thật sự trải nghiệm bản chất của sáu nỗi khổ não chính:

    These are: to be conceived, to age, to sicken, to die, to be parted from those one loves, to be forced to live in propinquity with those one does not love. I examined each of the six great sufferings, not in a religious context but in the context of our ordinary, everyday lives. If suffering were an unavoidable part of our existence, we should try to alleviate it as far as possible in practical, earthly ways.

    sinh, bệnh, lão, tử, phải sống ly cách người thân yêu, buộc phải sống chung đụng với người mình không yêu thích. Tôi trải nghiệm nghĩ suy về từng nỗi sầu khổ, không nằm trong phạm trù tôn giáo mà trong bối cảnh cuộc sống thường ngày. Nếu khổ đau là một phần không thể tránh khỏi từ cuộc đời hiện hữu, chúng ta cần nên giảm nhẹ càng nhiều càng tốt bằng những cách thực tiễn và phàm trần.

    Tôi ngẫm nghĩ về hiệu quả của những chương trình bảo vệ bà mẹ và trẻ em, trước và sau khi sinh; về những cơ cấu thích đáng cho người già; về các dịch vụ y tế toàn vẹn; về sự chăm lo tận tuỵ cho những người bệnh tật, già yếu. Tôi đặc biệt thắc mắc về hai nỗi khổ cuối: phải sống xa người thân và sống gần người dưng. Đức Phật đã phải trải nghiệm những gì trong chính cuộc đời của ngài để đưa hai trạng thái này vào danh sách những nỗi khổ lớn ? Tôi nghĩ đến những kẻ bị tù đày và những người tị nạn, những người lao động xa xứ và những nạn nhân của nạn buôn người, đến hằng hà vô số những người lưu lạc trên trái đất, bị bứng ra khỏi quê hương làng mạc, biệt ly gia đình bạn bè, bắt buộc phải sống cả cuộc đời giữa những người xa lạ không phải ai cũng chào đón họ.

    As a Buddhist, I had heard about dukha, generally translated as suffering, since I was a small child. Almost on a daily basis elderly, and sometimes not so elderly, people around me would murmur “dukha, dukha” when they suffered from aches and pains or when they met with some small, annoying mishaps. However, it was only during my years of house arrest that I got around to investigating the nature of the six great dukha. These are: to be conceived, to age, to sicken, to die, to be parted from those one loves, to be forced to live in propinquity with those one does not love. I examined each of the six great sufferings, not in a religious context but in the context of our ordinary, everyday lives. If suffering were an unavoidable part of our existence, we should try to alleviate it as far as possible in practical, earthly ways.

    I mulled over the effectiveness of ante- and post-natal programmes and mother and childcare; of adequate facilities for the aging population; of comprehensive health services; of compassionate nursing and hospices. I was particularly intrigued by the last two kinds of suffering: to be parted from those one loves and to be forced to live in propinquity with those one does not love. What experiences might our Lord Buddha have undergone in his own life that he had included these two states among the great sufferings? I thought of prisoners and refugees, of migrant workers and victims of human trafficking, of that great mass of the uprooted of the earth who have been torn away from their homes, parted from families and friends, forced to live out their lives among strangers who are not always welcoming.

    Chúng ta may mắn sống trong một thời kỳ mà phúc lợi xã hội và giúp đỡ nhân đạo được công nhận như một việc không chỉ nên làm mà còn phải làm. Tôi may mắn sống trong một thời kỳ mà số phận của những tù nhân lương tâm ở bất cứ đâu đã trở thành mối quan tâm của mọi người ở khắp nơi, dân chủ và nhân quyền được chấp nhận rộng rãi, dù không phải trong mọi nước, như quyền mỗi người đều có từ khi sinh ra.

    We are fortunate to be living in an age when social welfare and humanitarian assistance are recognized not only as desirable but necessary. I am fortunate to be living in an age when the fate of prisoners of conscience anywhere has become the concern of peoples everywhere, an age when democracy and human rights are widely, even if not universally, accepted as the birthright of all.


    Trong năm qua, có những dấu hiệu cho thấy các cố gắng của những người tin vào dân chủ và nhân quyền đã bắt đầu có kết quả. Đã có những thay đổi trong chiều hướng tích cực; đã có những bước tiến tới dân chủ hoá. Nếu tôi chủ trương lạc quan một cách thận trọng, không phải là vì tôi không tin ở tương lai mà là vì tôi không muốn khuyến khích một sự tin tưởng mù quáng. Nếu không tin ở tương lai, không tin chắc rằng những giá trị dân chủ và quyền cơ bản của con người không những cần thiết mà còn khả thi cho xã hội chúng tôi, phong trào của chúng tôi đã không thể tồn tại trong suốt những năm tháng bị truy diệt ấy.

    Có người đã ngã xuống ở vị trí tranh đấu, có người đã bỏ hàng ngũ, nhưng một thành phần nòng cốt vẫn vững vàng kiên quyết . Khi hồi tưởng về những năm đã qua, tôi sửng sốt trước số đông đảo những người vẫn kiên trì trong những lúc gian khổ nhất. Họ tin tưởng vào chính nghĩa với một niềm tin không mù quáng mà dựa vào một đánh giá sáng suốt : họ biết sức chịu đựng của chính mình, họ hết sức kính phục những khát vọng của nhân dân đồng bào.

    Over the past year there have been signs that the endeavours of those who believe in democracy and human rights are beginning to bear fruit in Burma. There have been changes in a positive direction; steps towards democratization have been taken. If I advocate cautious optimism it is not because I do not have faith in the future but because I do not want to encourage blind faith. Without faith in the future, without the conviction that democratic values and fundamental human rights are not only necessary but possible for our society, our movement could not have been sustained throughout the destroying years. Some of our warriors fell at their post, some deserted us, but a dedicated core remained strong and committed. At times when I think of the years that have passed, I am amazed that so many remained staunch under the most trying circumstances. Their faith in our cause is not blind; it is based on a clear-eyed assessment of their own powers of endurance and a profound respect for the aspirations of our people.


    Vẫn còn có những tù nhân ấy ở Miến Điện. Điều đáng lo là sau khi những tù nhân nổi tiếng nhất được trả tự do, những người khác, không ai biết tên tuổi, sẽ bị bỏ quên. Tôi đứng đây vì tôi đã từng là một tù nhân lương tâm. Khi quí vị nhìn và nghe tôi đây, tôi xin quí vị nhớ đến câu nói rất đúng và vẫn thường nghe này: chỉ một tù nhân lương tâm thôi cũng đã là quá nhiều. Những người chưa được trả tự do, chưa được hưởng công lý ở nước tôi đông hơn con số một nhiều lắm. Tôi mong quí vị nhớ đến họ và làm tất cả những gì có thể làm để họ được thả trong thời hạn nhanh nhất và vô điều kiện.

    There still remain such prisoners in Burma. It is to be feared that because the best known detainees have been released, the remainder, the unknown ones, will be forgotten. I am standing here because I was once a prisoner of conscience. As you look at me and listen to me, please remember the often repeated truth that one prisoner of conscience is one too many. Those who have not yet been freed, those who have not yet been given access to the benefits of justice in my country number much more than one. Please remember them and do whatever is possible to effect their earliest, unconditional release.


    Hoà bình của thế giới chúng ta là một Tòan thể không thể chia cắt. Ngày nào các thế lực tiêu cực còn thắng thế các thế lực tích cực ở bất cứ đâu, tất cả chúng ta đều bị đe doạ. Có thể lo ngại rằng chả bao giờ có thể trừ diệt tất cả mọi thế lực tiêu cực.

    Câu trả lời đơn giản là : “Không!”. Bản chất của con người là có cả tiêu cực lẫn tích cực. Song con người cũng có khả năng củng cố tích cực và giảm thiểu hoặc vô hiệu hoá tiêu cực. Hoà bình tuyệt đối trong thế giới chúng ta là mục tiêu không thể đạt được. Nhưng đấy là một mục tiêu chúng ta phải tiếp tục đeo đuổi, không lúc nào rời mắt như người đi trong sa mạc dõi theo ngôi sao dẫn dắt mình đến nơi an toàn. Dù chúng ta không thực hiện được hoà bình vẹn toàn trên trái đất này, những nỗ lực chung để tiến đến hoà bình sẽ gắn bó các cá nhân và quốc gia trong tinh thần tin cậy và hữu nghị, giúp cộng đồng nhân loại của chúng ta trở thành một nơi an toàn và nhân ái hơn.

    Tôi dùng chữ “tử tế nhân ái ” sau khi đã cân nhắc kỹ, có thể nói sau nhiều năm cân nhắc kỹ. Trong những cái may của cơn hoạn nạn, và xin nói ngay chúng không nhiều đâu, cái may nhất, quí giá nhất đối với tôi là bài học rút ra về giá trị của sự nhân ái. Mọi nhân ái tôi nhận được, lớn hay nhỏ, đã thuyết phục tôi là sự nhân ái dù nhiều bao nhiêu cũng vẫn không đủ trong thế giới của chúng ta. Nhân ái là đáp lại với nhạy cảm và tình người những khát vọng và nhu cầu của người khác. Một chút tử tế thôi cũng làm nhẹ bớt một tâm hồn trầm khổ. Nhân ái có thể làm đổi đời. Na Uy đã là một tấm gương trong sáng của Lòng Nhân ái, cho người lưu đày có lại mái nhà mới, cho người bị tước quyền sống làm Người yên ổn và tự do ngay tại quê hương họ.

    The peace of our world is indivisible. As long as negative forces are getting the better of positive forces anywhere, we are all at risk. It may be questioned whether all negative forces could ever be removed.

    The simple answer is: “No!” It is in human nature to contain both the positive and the negative. However, it is also within human capability to work to reinforce the positive and to minimize or neutralize the negative. Absolute peace in our world is an unattainable goal. But it is one towards which we must continue to journey, our eyes fixed on it as a traveller in a desert fixes his eyes on the one guiding star that will lead him to salvation. Even if we do not achieve perfect peace on earth, because perfect peace is not of this earth, common endeavours to gain peace will unite individuals and nations in trust and friendship and help to make our human community safer and kinder.

    I used the word ‘kinder’ after careful deliberation; I might say the careful deliberation of many years. Of the sweets of adversity, and let me say that these are not numerous, I have found the sweetest, the most precious of all, is the lesson I learnt on the value of kindness. Every kindness I received, small or big, convinced me that there could never be enough of it in our world. To be kind is to respond with sensitivity and human warmth to the hopes and needs of others. Even the briefest touch of kindness can lighten a heavy heart. Kindness can change the lives of people. Norway has shown exemplary kindness in providing a home for the displaced of the earth, offering sanctuary to those who have been cut loose from the moorings of security and freedom in their native lands.

    Mục đích cuối cùng của chúng ta là tạo ra một thế giới không còn người lưu vong lưu đày, vô gia cư và tuyệt vọng, một thế giới trong đó mỗi góc trời thật sự là nơi ẩn náu cho phép mọi người sống trong tự do và hoà bình. Mọi suy nghĩ, mọi phát biểu, mọi hành động làm tăng lên sự tích cực và trong lành đều đóng góp cho hoà bình. Mỗi người trong chúng ta đều có thể góp những đóng góp ấy. Chúng ta hãy nối vòng tay lớn cùng nhau chung sức tạo một thế giới hoà bình trong đó chúng ta có thể an tòan ngủ và thức dậy trong hạnh phúc.

    Uỷ Ban Giải Nobel đã kết luận bằng thông cáo ngày 14 tháng Mười năm 1991 bằng đọan : “ Trao Giải Nobel Hoà Bình… cho Aung San Suu Kyi, Uỷ Ban Giải Nobel Na Uy có chủ ý vinh danh những nỗ lực bền bỉ của người phụ nữ này và bày tỏ sự ủng hộ đối với những dân tộc đang đấu tranh trong nhiều nơi trên thế giới cho dân chủ, nhân quyền và hoà giải dân tộc bằng những phương tiện hoà bình.”

    Khi tôi gia nhập phong trào dân chủ ở Miến Điện, tôi không hề nghĩ ngày nào đấy sẽ được trao giải thưởng hay vinh dự nào. Giải thưởng chúng tôi mong thực hiện được là một xã hội tự do, yên ổn và công bằng trong đó đồng bào chúng tôi có thể phát huy tất cả mọi tiềm năng. Sự vinh dự nằm trong thách thức đầy cố gắng ấy. Lịch sử đã cho chúng tôi cơ hội cống hiến mọi khả năng cho chính nghĩa mà chúng tôi tin tưởng. Khi Uỷ Ban Giải Nobel chọn vinh danh tôi, tôi đã bớt cô đơn đi tiếp trên con đường mình đã tự nguyện lựa chọn. Chính vì vậy tôi cảm ơn Uỷ Ban Giải Nobel, nhân dân Na Uy và nhân dân mọi nước, sự hỗ trợ ấy đã củng cố niềm tin của tôi vào tranh đấu chung chinh phục chung cho hoà bình.

    Xin cảm ơn.

    Ultimately our aim should be to create a world free from the displaced, the homeless and the hopeless, a world of which each and every corner is a true sanctuary where the inhabitants will have the freedom and the capacity to live in peace. Every thought, every word, and every action that adds to the positive and the wholesome is a contribution to peace. Each and every one of us is capable of making such a contribution. Let us join hands to try to create a peaceful world where we can sleep in security and wake in happiness.

    The Nobel Committee concluded its statement of 14 October 1991 with the words: “In awarding the Nobel Peace Prize … to Aung San Suu Kyi, the Norwegian Nobel Committee wishes to honour this woman for her unflagging efforts and to show its support for the many people throughout the world who are striving to attain democracy, human rights and ethnic conciliation by peaceful means.”

    When I joined the democracy movement in Burma it never occurred to me that I might ever be the recipient of any prize or honour. The prize we were working for was a free, secure and just society where our people might be able to realize their full potential. The honour lay in our endeavour. History had given us the opportunity to give of our best for a cause in which we believed. When the Nobel Committee chose to honour me, the road I had chosen of my own free will became a less lonely path to follow. For this I thank the Committee, the people of Norway and peoples all over the world whose support has strengthened my faith in the common quest for peace.

    Thank you.

    • Xóa vì tôi nói anh rồi, mỗi còm 1 trang thôi…anh ko nghe.
      Bây giờ tôi cho anh mỗi còm 1 trang, anh vi phạm nữa, tôi cấm cửa anh luôn. Anh biết tôi mà, tôi nói là tôi làm,
      Chau Xuan Nguyen

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s