Diễn từ nhận giải Nobel hoà bình của bà Aung San Suu Kyi

Diễn từ nhận giải Nobel hoà bình của bà Aung San Suu Kyi

SGTT.VN – Cách đây đã rất lâu, có khi tưởng như trong nhiều kiếp trước, tôi ở Oxford ngồi nghe chương trình Desert Island Discs trên đài phát thanh với con trai tôi, cậu bé Alexander. Đây là một chương trình rất phổ biến (và hình như vẫn còn tiếp tục ) phỏng vấn những nhân vật nổi tiếng đủ mọi thành phần về những gì họ sẽ chọn nếu được mang theo đến một hoang đảo 8 đĩa hát, một quyển sách ngoài Thánh kinh và toàn bộ tác phẩm của Shakespeare, và một vật xa xỉ.

Bà Aung San Suu Kyi đến đọc diễn từ trước những người ủng hộ bà trong chiến dịch tranh cử năm 2012 tại thị trấn Kawhmu nơi bà ra ứng cử. Ảnh: Wikipedia

Hai mẹ con thích thú nghe và khi chương trình chấm dứt, Alexander hỏi tôi có nghĩ là ngày nào đó sẽ được mời lên nói ở Desert Island Discs không. “Tại sao không?”, tôi trả lời vui. Alexander, vì biết là chỉ có những người nổi tiếng mới được mời lên tham dự, nên thật tình hỏi tôi nghĩ là được mời với lý do gì. Ngẫm nghĩ một lúc, tôi trả lời: “Có thể vì mẹ được giải Nobel văn chương” và hai mẹ con cùng bật cười. Viễn tượng ấy đẹp thật đấy nhưng cũng rất xa vời.

(Tôi không nhớ tại sao đã trả lời như thế, có lẽ vì lúc ấy vừa đọc một quyển sách của một tác giả đoạt giải Nobel, hay vì nhân vật phát biểu trên chương trình Desert Island hôm ấy là một nhà văn nổi tiếng.)

Năm 1989, khi người chồng đã quá cố của tôi, Michael Aris, đến thăm lúc tôi bị quản thúc lần đầu, anh bảo tôi là John Finnis, một người bạn, đã đề cử tôi cho giải Nobel hoà bình. Tôi cũng bật cười. Thoạt tiên Michael có vẻ ngạc nhiên và anh hiểu ra ngay tại sao tôi cười. Giải Nobel hoà bình ư? Viễn tượng đẹp thật đấy nhưng hầu như bất khả! Thế thì tôi đã cảm thấy gì khi thật sự được trao giải Nobel hoà bình? Câu hỏi ấy tôi đã được nghe nhiều lần và đây quả là dịp hay nhất để suy nghĩ về ý nghĩa của giải Nobel hoà bình đối với tôi và ý nghĩa của hoà bình đối với tôi.

Như tôi đã nhiều lần trả lời phỏng vấn, tin được giải Nobel hoà bình đến với tôi qua đài phát thanh một buổi tối. Không hẳn là bất ngờ vì tôi đã được nhắc nhở đến như một trong những người có nhiều khả năng được giải trong nhiều buổi phát thanh từ tuần trước. Khi viết bài diễn từ này, tôi đã rất cố gắng nhớ lại phản ứng đầu tiên của mình khi nghe tin. Hình như là, tôi không chắc lắm: “Ơ, hoá ra là họ chọn mình thật.” Không biết là thực hay là mơ vì lúc ấy tôi cũng mơ hồ về hiện thực của chính bản thân.

Trong những tháng ngày bị quản thúc, tôi nhiều khi cảm thấy mình không còn thuộc về thế giới thực. Đây căn nhà, thế giới của tôi, và đây thế giới của những người khác cũng không có tự do nhưng sống chung trong nhà tù như một cộng đồng. Và kia là thế giới của những người tự do, mỗi thế giới là một hành tinh theo đuổi quỹ đạo riêng của mình trong một vũ trụ dửng dưng. Giải Nobel hoà bình đã đưa tôi trở lại thế giới của những con người khác, ngoài khu vực cách biệt tôi sống, đã cho tôi có lại nhận thức của hiện thực. Tất nhiên điều này không xảy ra ngay lúc ấy nhưng với thời gian và các phản ứng về quyết định trao giải đến qua các kênh truyền thông, tôi dần dần hiểu ý nghĩa của giải Nobel. Nó đã cho tôi đã trở lại thành con người thực, đã đưa tôi vào trở lại cộng đồng lớn của nhân loại. Và quan trọng hơn nữa, giải Nobel đã làm thế giới chú ý đến cuộc tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền ở Miến Điện. Chúng tôi sẽ không bị bỏ quên.

Bị bỏ quên. Người Pháp nói ra đi là chết một phần. Bị bỏ quên cũng là chết một phần. Là mất đi một phần những gì gắn chặt chúng ta với đồng loại. Khi tôi gặp những người Miến tị nạn và lao động di trú trong chuyến đi thăm Thái Lan gần đây, nhiều người kêu to: “Xin đừng quên chúng tôi!” Họ muốn nói: “Đừng quên nỗi cơ cực của chúng tôi, đừng quên làm những gì có thể làm được để giúp chúng tôi, đừng quên là chúng tôi cũng thuộc về thế giới của mọi người.” Khi Uỷ ban giải Nobel trao giải hoà bình cho tôi, họ đã xác nhận những người bị kềm kẹp và phong toả ở Miến Điện cũng là một phần của thế giới, họ đã xác nhận nhân loại là một. Cho nên, đối với tôi, nhận giải Nobel hoà bình là tự mình nới rộng những khát vọng dân chủ và nhân quyền của mình ra ngoài biên giới lãnh thổ. Giải Nobel hoà bình đã mở rộng một cánh cửa trong trái tim tôi.

Không mấy xa tượng Phật Nằm chùa Kyaukhatagyi, còn có một bức Tượng Phật Nằm ngoài trời, tọa lạc cạnh con đường chính nối với Yangon.

Có thể giải thích hoà bình trong quan niệm người Miến là hạnh phúc đạt được khi không còn những nhân tố chống đối sự hài hoà và trong lành. Từ ngữ “nyein-chan” có nghĩa nôm na là cơn mát dịu an lành sau khi lửa tắt. Lửa của khổ đau và xung đột đang hoành hành trên thế giới. Trong nước tôi, sự thù địch vẫn tiếp diễn ở vùng Bắc, bạo loạn cộng đồng ở vùng Tây dẫn đến đốt nhà, chém giết chỉ vài hôm trước khi tôi lên đường đến đây. Tin tức về những sự kiện tàn ác nhan nhản từ những nơi khác trên trái đất. Những bản tin về đói kém, bệnh tật, di tản, thất nghiệp, nghèo túng, bất công, kỳ thị, định kiến, cuồng tín đến với chúng ta như cơm bữa. Đầy rẫy khắp nơi là những thế lực tiêu cực gặm nhấm nền tảng của hoà bình. Hiển nhiên khắp nơi là sự lãng phí vô ý thức những tài nguyên vật chất và nhân lực cần thiết để giữ gìn sự hài hoà và hạnh phúc trong thế giới của chúng ta.

Đệ nhất thế chiến là một sự phí phạm kinh hoàng tuổi trẻ và tiềm lực, một sự phung phí cay nghiệt những thế lực tích cực của trái đất chúng ta. Thơ ca của thời kỳ ấy có ý nghĩa sâu sắc đối với tôi vì tôi đọc chúng lần đầu ở tuổi của những người thanh niên phải đối mặt với viễn tượng vừa chớm nở thì đã héo tàn. Một người lính Mỹ trẻ trong quân đội Lê dương Pháp viết trước khi chết trận năm 1916 là anh ta sẽ gặp tử thần “ở một chiến tuyến gay go nào đó”, “trên con dốc loang lổ của một ngọn đồi bị bằm dập”, “vào nửa đêm trong một thành phố rực lửa”. Tuổi trẻ, tình yêu và cuộc sống vĩnh viễn tiêu tán trong những nỗ lực phi lý để giành chiếm những nơi chốn không tên và không đi vào ký ức. Và để làm gì? Gần một thế kỷ sau, chúng ta vẫn chưa tìm được câu trả lời thoả đáng.

Tuy một cách ít hung bạo hơn, chúng ta phải chăng vẫn mang tội coi thường và khinh suất tương lai chúng ta và nhân loại? Chiến tranh không phải là lĩnh vực duy nhất hoà bình bị bóp chết. Ở nơi nào sự khổ đau không được ghi nhận, ở nơi đó có mầm mống của xung đột vì sự khổ đau gây ô nhục, gieo rắc cay đắng và nung nấu lửa giận.

Sống trong cách ly cũng có mặt tích cực là tôi có dư thì giờ để suy ngẫm về ý nghĩa của câu chữ và những châm ngôn tôi đã được học và chấp nhận trong cả cuộc đời. Là Phật tử, từ khi còn bé tôi đã được nghe nói đến “duhkha”, thường được dịch là khổ não. Gần như mỗi ngày, tôi nghe quanh tôi những người lớn tuổi, và có khi cả những người chưa gọi là già, lẩm bẩm “dukha, dukha” khi họ đau nhức hay bực mình vì một chuyện vớ vẩn nào đó. Song chỉ trong những năm tháng bị quản thúc tôi mới thật sự nghiên cứu bản chất của sáu nỗi khổ chính: sinh, lão, bệnh, tử, phải sống xa người thân yêu, buộc phải sống chung đụng với người mình không ưa thích. Tôi suy nghĩ về từng nỗi khổ, không trong bối cảnh tôn giáo mà trong cuộc sống thường, hàng ngày. Nếu khổ đau là một phần không thể tránh của cuộc đời, chúng ta phải cố giảm nhẹ càng nhiều càng tốt bằng những cách thực tiễn và trần tục. Tôi ngẫm nghĩ về hiệu quả của những chương trình bảo vệ bà mẹ và trẻ em, trước và sau khi sinh; về những cơ cấu thích đáng cho người già; về các dịch vụ y tế toàn vẹn; về sự chăm lo tận tuỵ cho những người bệnh tật, già yếu. Tôi đặc biệt thắc mắc về hai nỗi khổ cuối: phải sống xa người thân và sống gần người dưng. Đức Phật đã phải trải nghiệm những gì trong chính cuộc đời của ngài để đưa hai trạng thái này vào danh sách những nỗi khổ lớn ? Tôi nghĩ đến những kẻ bị tù đày và những người tị nạn, những người lao động xa xứ và những nạn nhân của nạn buôn người, đến hằng hà vô số những người lưu lạc trên trái đất, bị bứng ra khỏi quê hương làng mạc, biệt ly gia đình bạn bè, bắt buộc phải sống cả cuộc đời giữa những người xa lạ không phải ai cũng chào đón họ.

Một phụ nữ Myanmar bán tờ báo có hình bà Aung San Suu Kyi trên trang bìa.

Chúng ta may mắn sống trong một thời kỳ mà phúc lợi xã hội và giúp đỡ nhân đạo được công nhận như một việc không chỉ nên làm mà còn phải làm. Tôi may mắn sống trong một thời kỳ mà số phận của những tù nhân lương tâm ở bất cứ đâu đã trở thành mối quan tâm của mọi người ở khắp nơi, dân chủ và nhân quyền được chấp nhận rộng rãi, dù không phải trong mọi nước, như quyền mỗi người đều có từ khi sinh ra. Biết bao lần trong những năm tháng bị quản thúc tôi đã tự động viên qua những đoạn tâm đắc nhất của lời nói đầu Bản Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền:

…Hành vi xem thường và chà đạp nhân quyền đã dẫn đến những hành động man rợ, xúc phạm lương tâm nhân loại. Việc tiến đến một thế giới trong đó tất cả mọi người được hưởng tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, không còn sợ hãi và nghèo khó, được tuyên xưng là ước vọng cao nhất của con người.

…Nhân quyền nhất thiết phải được bảo vệ bằng luật pháp, để con người không bị bắt buộc phải dùng đến biện pháp cuối cùng là vùng dậy chống lại độc tài và áp bức …

Nếu ai hỏi tôi tại sao tôi đấu tranh cho nhân quyền ở Miến Điện, những đoạn trên là câu trả lời. Nếu ai hỏi tôi tại sao tôi đấu tranh cho dân chủ ở Miến Điện, lý do là vì tôi tin rằng những thể chế và thực tiễn dân chủ cần thiết để đảm bảo nhân quyền.

Trong năm qua, có những dấu hiệu cho thấy các cố gắng của những người tin vào dân chủ và nhân quyền đã bắt đầu có kết quả. Đã có những thay đổi trong chiều hướng tích cực; đã có những bước tiến tới dân chủ hoá. Nếu tôi chủ trương lạc quan một cách thận trọng, không phải là vì tôi không tin ở tương lai mà là vì tôi không muốn khuyến khích một sự tin tưởng mù quáng. Nếu không tin ở tương lai, không tin chắc rằng những giá trị dân chủ và quyền cơ bản của con người không những cần thiết mà còn khả thi cho xã hội chúng tôi, phong trào của chúng tôi đã không thể tồn tại trong suốt những năm tháng bị truy diệt ấy. Có người đã ngã xuống ở vị trí tranh đấu, có người đã bỏ hàng ngũ, nhưng một thành phần nòng cốt vẫn vững vàng kiên quyết. Khi hồi tưởng về những năm đã qua, tôi sửng sốt trước số đông đảo những người vẫn kiên trì trong những lúc gian khổ nhất. Họ tin tưởng vào chính nghĩa với một niềm tin không mù quáng mà dựa vào một đánh giá sáng suốt : họ biết sức chịu đựng của chính mình, họ hết sức kính phục những khát vọng của nhân dân đồng bào.

Tôi có mặt với quí vị ngày hôm nay là nhờ những thay đổi gần đây trong nước tôi, và những thay đổi ấy đã có thể xảy ra là nhờ quí vị và những người yêu hoà bình và công lý khác đã góp phần làm thế giới nhận thức tình hình của chúng tôi. Trước khi nói tiếp về Miến Điện, tôi xin phép được nói cho những tù nhân lương tâm của chúng tôi. Vẫn còn có những tù nhân ấy ở Miến Điện. Điều đáng lo là sau khi những tù nhân nổi tiếng nhất được trả tự do, những người khác, không ai biết tên tuổi, sẽ bị bỏ quên. Tôi đứng đây vì tôi đã từng là một tù nhân lương tâm. Khi quí vị nhìn và nghe tôi đây, tôi xin quí vị nhớ đến câu nói rất đúng và vẫn thường nghe này: chỉ một tù nhân lương tâm thôi cũng đã là quá nhiều. Những người chưa được trả tự do, chưa được hưởng công lý ở nước tôi đông hơn con số một nhiều lắm. Tôi mong quí vị nhớ đến họ và làm tất cả những gì có thể làm để họ được thả trong thời hạn nhanh nhất và vô điều kiện.

Miến Điện là nước tập hợp nhiều sắc tộc và niềm tin vào tương lai chỉ có thể dựa vào một tinh thần đoàn kết thật sự. Từ khi chúng tôi dành được độc lập năm 1948, chưa có lúc nào chúng tôi có thể nói cả nước được hoà bình. Chúng tôi đã không xây dựng được sự tin cậy và cảm thông cần thiết để xoá bỏ các nguyên nhân xung đột. Những thoả thuận ngừng bắn áp dụng từ đầu thập niên 1990 cho đến 2010 đã đem lại hi vọng nhưng sụp đổ chỉ trong vài tháng. Chỉ một hành động thiếu suy nghĩ là đủ để chấm dứt một thời gian dài ngừng bắn. Trong những tháng qua, thương thuyết giữa chính quyền và các lực lượng sắc tộc đã có tiến bộ. Chúng tôi hi vọng các thoả thuận ngừng bắn sẽ dẫn đến giải pháp chính trị dựa trên ước vọng của dân chúng và tinh thần đoàn kết.

Đảng Liên minh quốc gia cho dân chủ của chúng tôi và bản thân tôi sẵn sàng đóng mọi vai trò trong công cuộc hoà giải dân tộc. Những biện pháp cải cách được nội các của Tổng thống U Thein Sein đưa vào áp dụng chỉ có thể giữ vững được với sự hợp tác thông minh của tất cả mọi thế lực trong nước: quân đội, các sắc tộc, các đảng phái, các phương tiện truyền thông, các đoàn thể của xã hội công dân, giới kinh doanh và nhất là công chúng. Có thể nói cải cách chỉ có hiệu quả khi đời sống người dân được nâng cao và ở đây cộng đồng quốc tế đóng vai trò then chốt. Các viện trợ phát triển và giúp đỡ nhân đạo, các hiệp ước song phương và luồng đầu tư cần phải được phối hợp và điều chỉnh để đảm bảo một sự phát triển xã hội, chính trị và kinh tế cân bằng và bền vững. Tiềm năng của đất nước chúng tôi rất to lớn. Nó phải được nuôi dưỡng và phát huy để tạo một xã hội không những phồn thịnh hơn mà còn hài hoà và dân chủ hơn trong đó nhân dân chúng tôi có thể sống hoà bình, an toàn và tự do.

Người dân Myanmar xuống đường phản đối chính quyền.

Hoà bình trong thế giới chúng ta là một tổng thể không thể chia cắt. Ngày nào các thế lực tiêu cực còn thắng thế các thế lực tích cực ở bất cứ đâu, tất cả chúng ta đều bị đe doạ. Có thể e rằng chả bao giờ có thể trừ diệt tất cả mọi thế lực tiêu cực. Câu trả lời đơn giản là: “Không!” Bản chất của con người là có cả tiêu cực lẫn tích cực. Song con người cũng có khả năng củng cố tích cực và giảm thiểu hoặc vô hiệu hoá tiêu cực. Hoà bình tuyệt đối trong thế giới chúng ta là mục tiêu không thể đạt được. Nhưng đấy là một mục tiêu chúng ta phải tiếp tục đeo đuổi, không lúc nào rời mắt như người đi trong sa mạc dõi theo ngôi sao dẫn dắt mình đến nơi an toàn. Dù chúng ta không thực hiện được hoà bình vẹn toàn trên trái đất này, những nỗ lực chung để tiến đến hoà bình sẽ gắn bó các cá nhân và quốc gia trong tinh thần tin cậy và hữu nghị, giúp cộng đồng nhân loại của chúng ta trở thành một nơi an toàn và nhân ái hơn.

Tôi dùng chữ “nhân ái” sau khi đã cân nhắc kỹ, có thể nói sau nhiều năm cân nhắc kỹ. Trong những cái may của cơn hoạn nạn, và xin nói ngay chúng không nhiều đâu, cái may nhất, quí giá nhất đối với tôi là bài học rút ra về giá trị của sự nhân ái. Mọi nghĩa cử nhân ái tôi nhận được, lớn hay nhỏ, đã thuyết phục tôi là sự nhân ái dù nhiều bao nhiêu cũng vẫn không đủ trong thế giới của chúng ta. Nhân ái là đáp lại với nhạy cảm và tình người những khát vọng và nhu cầu của người khác. Một thoáng nhân ái thôi cũng làm nhẹ bớt một tâm hồn u uất. Nhân ái có thể làm đổi đời. Na Uy đã là tấm gương sáng của sự nhân ái, cho người lưu vong có lại mái nhà, cho người bị tước quyền sống yên ổn và tự do tại quê hương họ có nơi ẩn náu.

Người tị nạn có mặt khắp mơi trên thế giới. Khi tôi đến trại tị nạn Maela ở Thái Lan vừa qua, tôi gặp những người tận tuỵ hàng ngày tìm cách giúp cuộc sống người trong trại bớt khó khăn vất vả. Họ lo lắng về hiện tượng “mạnh thường quân nản lòng”, cũng có thể gọi là hiện tượng “nản lòng trắc ẩn”. “Mạnh thường quân nản lòng” thể hiện cụ thể qua sự giảm sút các luồng tài trợ. “Nản lòng trắc ẩn”, khó thấy hơn, làm giảm sút sự quan tâm. Cái này là hậu quả của cái kia. Chúng ta có thể nào tự cho phép nản lòng trắc ẩn? Đáp ứng nhu cầu của những người tị nạn có tốn kém hơn cái giá sẽ phải trả nếu thờ ơ, thậm chí ngoảnh mặt làm ngơ trước khổ đau của họ? Tôi kêu gọi các mạnh thường quân mọi nước hãy đáp ứng nhu cầu của những người đi tìm, có khi vô vọng, một chốn nương thân.

Tại Maela, tôi đã có những trao đổi rất bổ ích với những viên chức Thái trách nhiệm quản lý tỉnh Tak nơi có trại này và nhiều trại khác. Họ cho tôi biết một số vấn đề lớn nhất của các trại tị nạn: vi phạm luật bảo vệ rừng, sử dụng ma tuý trái phép, nấu rượu lậu, những khó khăn trong việc bài trừ các bệnh sốt rét, lao, sốt xuất huyết và thổ tả. Những quan ngại của cơ quan quản lý cũng chính đáng như những quan ngại của người tị nạn. Những nước đón nhận người tị nạn cũng phải được coi trọng và giúp đỡ cụ thể để khắc phục những khó khăn gắn liền với trách nhiệm của họ.

Nói cho cùng, mục đích của chúng ta là tạo ra một thế giới không còn người lưu vong, vô gia cư và vô vọng, một thế giới trong đó mỗi mảnh đất thật sự là nơi ẩn náu cho phép tất cả sống trong tự do và hoà bình. Mọi ý nghĩ, mọi câu nói, mọi hành động làm tăng lên sự tích cực và trong lành đều đóng góp cho hoà bình. Mỗi người trong chúng ta đều có thể có những đóng góp ấy. Chúng ta hãy nối tay nhau chung sức tạo một thế giới hoà bình trong đó chúng ta có thể an nhiên đi vào giấc ngủ và thức dậy trong hạnh phúc.

Uỷ ban Nobel đã kết luận bản thông cáo ngày 14.10.1991 bằng câu: “Trao giải Nobel hoà bình… cho Aung San Suu Kyi, Uỷ ban Nobel Na Uy có dụng ý vinh danh những nỗ lực bền bỉ của người phụ nữ này và bày tỏ sự ủng hộ đối với những dân tộc đang đấu tranh trong nhiều nơi trên thế giới cho dân chủ, nhân quyền và hoà giải dân tộc bằng những phương tiện hoà bình.” Khi tôi gia nhập phong trào dân chủ ở Miến Điện, tôi không hề nghĩ ngày nào đó sẽ được trao giải thưởng hay vinh dự gì. Giải thưởng chúng tôi mong có được là một xã hội tự do, yên ổn và công bằng trong đó đồng bào chúng tôi có thể phát huy tất cả mọi tiềm năng. Sự vinh dự nằm trong nỗ lực ấy. Lịch sử đã cho chúng tôi cơ hội cống hiến mọi sức lực cho chính nghĩa mà chúng tôi tin tưởng. Khi Uỷ ban Nobel chọn vinh danh tôi, tôi đã bớt cô đơn đi tiếp trên con đường mình đã tự nguyện chọn. Vì thế tôi tạ ơn Uỷ ban, nhân dân Na uy và nhân dân mọi nước, sự hỗ trợ ấy đã củng cố niềm tin của tôi vào sự phấn đấu chung cho hoà bình. Xin được cảm tạ.

Nguyên bản tiếng Anh: “Aung San Suu Kyi – Nobel Lecture” Nobelprize.org

BẢN TIẾNG VIỆT: ĐỖ TUYẾT KHANH

————

The Nobel Peace Prize 1991

Aung San Suu Kyi

English
Norwegian
© THE NOBEL FOUNDATION 2012
General permission is granted for the publication in newspapers in any language. Publication in periodicals or books, or in digital or electronic forms, otherwise than in summary, requires the consent of the Foundation. On all publications in full or in major parts the above underlined copyright notice must be applied.

Nobel Lecture

Nobel Lecture by Aung San Suu Kyi, Oslo, 16 June, 2012

Your Majesties, Your Royal Highness, Excellencies, Distinguished members of the Norwegian Nobel Committee, Dear Friends,

Long years ago, sometimes it seems many lives ago, I was at Oxford listening to the radio programme Desert Island Discs with my young son Alexander. It was a well-known programme (for all I know it still continues) on which famous people from all walks of life were invited to talk about the eight discs, the one book beside the bible and the complete works of Shakespeare, and the one luxury item they would wish to have with them were they to be marooned on a desert island. At the end of the programme, which we had both enjoyed, Alexander asked me if I thought I might ever be invited to speak on Desert Island Discs. “Why not?” I responded lightly. Since he knew that in general only celebrities took part in the programme he proceeded to ask, with genuine interest, for what reason I thought I might be invited. I considered this for a moment and then answered: “Perhaps because I’d have won the Nobel Prize for literature,” and we both laughed. The prospect seemed pleasant but hardly probable.

(I cannot now remember why I gave that answer, perhaps because I had recently read a book by a Nobel Laureate or perhaps because the Desert Island celebrity of that day had been a famous writer.)

In 1989, when my late husband Michael Aris came to see me during my first term of house arrest, he told me that a friend, John Finnis, had nominated me for the Nobel Peace Prize. This time also I laughed. For an instant Michael looked amazed, then he realized why I was amused. The Nobel Peace Prize? A pleasant prospect, but quite improbable! So how did I feel when I was actually awarded the Nobel Prize for Peace? The question has been put to me many times and this is surely the most appropriate occasion on which to examine what the Nobel Prize means to me and what peace means to me.

As I have said repeatedly in many an interview, I heard the news that I had been awarded the Nobel Peace Prize on the radio one evening. It did not altogether come as a surprise because I had been mentioned as one of the frontrunners for the prize in a number of broadcasts during the previous week. While drafting this lecture, I have tried very hard to remember what my immediate reaction to the announcement of the award had been. I think, I can no longer be sure, it was something like: “Oh, so they’ve decided to give it to me.” It did not seem quite real because in a sense I did not feel myself to be quite real at that time.

Often during my days of house arrest it felt as though I were no longer a part of the real world. There was the house which was my world, there was the world of others who also were not free but who were together in prison as a community, and there was the world of the free; each was a different planet pursuing its own separate course in an indifferent universe. What the Nobel Peace Prize did was to draw me once again into the world of other human beings outside the isolated area in which I lived, to restore a sense of reality to me. This did not happen instantly, of course, but as the days and months went by and news of reactions to the award came over the airwaves, I began to understand the significance of the Nobel Prize. It had made me real once again; it had drawn me back into the wider human community. And what was more important, the Nobel Prize had drawn the attention of the world to the struggle for democracy and human rights in Burma. We were not going to be forgotten.

To be forgotten. The French say that to part is to die a little. To be forgotten too is to die a little. It is to lose some of the links that anchor us to the rest of humanity. When I met Burmese migrant workers and refugees during my recent visit to Thailand, many cried out: “Don’t forget us!” They meant: “don’t forget our plight, don’t forget to do what you can to help us, don’t forget we also belong to your world.” When the Nobel Committee awarded the Peace Prize to me they were recognizing that the oppressed and the isolated in Burma were also a part of the world, they were recognizing the oneness of humanity. So for me receiving the Nobel Peace Prize means personally extending my concerns for democracy and human rights beyond national borders. The Nobel Peace Prize opened up a door in my heart.

The Burmese concept of peace can be explained as the happiness arising from the cessation of factors that militate against the harmonious and the wholesome. The word nyein-chan translates literally as the beneficial coolness that comes when a fire is extinguished. Fires of suffering and strife are raging around the world. In my own country, hostilities have not ceased in the far north; to the west, communal violence resulting in arson and murder were taking place just several days before I started out on the journey that has brought me here today. News of atrocities in other reaches of the earth abound. Reports of hunger, disease, displacement, joblessness, poverty, injustice, discrimination, prejudice, bigotry; these are our daily fare. Everywhere there are negative forces eating away at the foundations of peace. Everywhere can be found thoughtless dissipation of material and human resources that are necessary for the conservation of harmony and happiness in our world.

The First World War represented a terrifying waste of youth and potential, a cruel squandering of the positive forces of our planet. The poetry of that era has a special significance for me because I first read it at a time when I was the same age as many of those young men who had to face the prospect of withering before they had barely blossomed. A young American fighting with the French Foreign Legion wrote before he was killed in action in 1916 that he would meet his death:  “at some disputed barricade;” “on some scarred slope of battered hill;” “at midnight in some flaming town.” Youth and love and life perishing forever in senseless attempts to capture nameless, unremembered places. And for what? Nearly a century on, we have yet to find a satisfactory answer.

Are we not still guilty, if to a less violent degree, of recklessness, of improvidence with regard to our future and our humanity? War is not the only arena where peace is done to death. Wherever suffering is ignored, there will be the seeds of conflict, for suffering degrades and embitters and enrages.

A positive aspect of living in isolation was that I had ample time in which to ruminate over the meaning of words and precepts that I had known and accepted all my life. As a Buddhist, I had heard about dukha, generally translated as suffering, since I was a small child. Almost on a daily basis elderly, and sometimes not so elderly, people around me would murmur “dukha, dukha” when they suffered from aches and pains or when they met with some small, annoying mishaps. However, it was only during my years of house arrest that I got around to investigating the nature of the six great dukha. These are: to be conceived, to age, to sicken, to die, to be parted from those one loves, to be forced to live in propinquity with those one does not love. I examined each of the six great sufferings, not in a religious context but in the context of our ordinary, everyday lives. If suffering were an unavoidable part of our existence, we should try to alleviate it as far as possible in practical, earthly ways. I mulled over the effectiveness of ante- and post-natal programmes and mother and childcare; of adequate facilities for the aging population; of comprehensive health services; of compassionate nursing and hospices. I was particularly intrigued by the last two kinds of suffering: to be parted from those one loves and to be forced to live in propinquity with those one does not love. What experiences might our Lord Buddha have undergone in his own life that he had included these two states among the great sufferings? I thought of prisoners and refugees, of migrant workers and victims of human trafficking, of that great mass of the uprooted of the earth who have been torn away from their homes, parted from families and friends, forced to live out their lives among strangers who are not always welcoming.

We are fortunate to be living in an age when social welfare and humanitarian assistance are recognized not only as desirable but necessary. I am fortunate to be living in an age when the fate of prisoners of conscience anywhere has become the concern of peoples everywhere, an age when democracy and human rights are widely, even if not universally, accepted as the birthright of all. How often during my years under house arrest have I drawn strength from my favourite passages in the preamble to the Universal Declaration of Human Rights:

……. disregard and contempt for human rights have resulted in barbarous acts which have outraged the conscience of mankind, and the advent of a world in which human beings shall enjoy freedom of speech and belief and freedom from fear and want has been proclaimed as the highest aspirations of the common people,

…… it is essential, if man is not to be compelled to have recourse, as a last resort, to rebellion against tyranny and oppression, that human rights should be protected by the rule of law . . .

If I am asked why I am fighting for human rights in Burma the above passages will provide the answer. If I am asked why I am fighting for democracy in Burma, it is because I believe that democratic institutions and practices are necessary for the guarantee of human rights.

Over the past year there have been signs that the endeavours of those who believe in democracy and human rights are beginning to bear fruit in Burma. There have been changes in a positive direction; steps towards democratization have been taken. If I advocate cautious optimism it is not because I do not have faith in the future but because I do not want to encourage blind faith. Without faith in the future, without the conviction that democratic values and fundamental human rights are not only necessary but possible for our society, our movement could not have been sustained throughout the destroying years. Some of our warriors fell at their post, some deserted us, but a dedicated core remained strong and committed. At times when I think of the years that have passed, I am amazed that so many remained staunch under the most trying circumstances. Their faith in our cause is not blind; it is based on a clear-eyed assessment of their own powers of endurance and a profound respect for the aspirations of our people.

It is because of recent changes in my country that I am with you today; and these changes have come about because of you and other lovers of freedom and justice who contributed towards a global awareness of our situation. Before continuing to speak of my country, may I speak out for our prisoners of conscience. There still remain such prisoners in Burma. It is to be feared that because the best known detainees have been released, the remainder, the unknown ones, will be forgotten. I am standing here because I was once a prisoner of conscience. As you look at me and listen to me, please remember the often repeated truth that one prisoner of conscience is one too many. Those who have not yet been freed, those who have not yet been given access to the benefits of justice in my country number much more than one. Please remember them and do whatever is possible to effect their earliest, unconditional release.

Burma is a country of many ethnic nationalities and faith in its future can be founded only on a true spirit of union. Since we achieved independence in 1948, there never has been a time when we could claim the whole country was at peace. We have not been able to develop the trust and understanding necessary to remove causes of conflict. Hopes were raised by ceasefires that were maintained from the early 1990s until 2010 when these broke down over the course of a few months. One unconsidered move can be enough to remove long-standing ceasefires. In recent months, negotiations between the government and ethnic nationality forces have been making progress. We hope that ceasefire agreements will lead to political settlements founded on the aspirations of the peoples, and the spirit of union.

My party, the National League for Democracy, and I stand ready and willing to play any role in the process of national reconciliation. The reform measures that were put into motion by President U Thein Sein’s government can be sustained only with the intelligent cooperation of all internal forces: the military, our ethnic nationalities, political parties, the media, civil society organizations, the business community and, most important of all, the general public. We can say that reform is effective only if the lives of the people are improved and in this regard, the international community has a vital role to play. Development and humanitarian aid, bi-lateral agreements and investments should be coordinated and calibrated to ensure that these will promote social, political and economic growth that is balanced and sustainable. The potential of our country is enormous. This should be nurtured and developed to create not just a more prosperous but also a more harmonious, democratic society where our people can live in peace, security and freedom.

The peace of our world is indivisible. As long as negative forces are getting the better of positive forces anywhere, we are all at risk. It may be questioned whether all negative forces could ever be removed. The simple answer is: “No!” It is in human nature to contain both the positive and the negative. However, it is also within human capability to work to reinforce the positive and to minimize or neutralize the negative. Absolute peace in our world is an unattainable goal. But it is one towards which we must continue to journey, our eyes fixed on it as a traveller in a desert fixes his eyes on the one guiding star that will lead him to salvation. Even if we do not achieve perfect peace on earth, because perfect peace is not of this earth, common endeavours to gain peace will unite individuals and nations in trust and friendship and help to make our human community safer and kinder.

I used the word ‘kinder’ after careful deliberation; I might say the careful deliberation of many years. Of the sweets of adversity, and let me say that these are not numerous, I have found the sweetest, the most precious of all, is the lesson I learnt on the value of kindness. Every kindness I received, small or big, convinced me that there could never be enough of it in our world. To be kind is to respond with sensitivity and human warmth to the hopes and needs of others. Even the briefest touch of kindness can lighten a heavy heart. Kindness can change the lives of people. Norway has shown exemplary kindness in providing a home for the displaced of the earth, offering sanctuary to those who have been cut loose from the moorings of security and freedom in their native lands.

There are refugees in all parts of the world. When I was at the Maela refugee camp in Thailand recently, I met dedicated people who were striving daily to make the lives of the inmates as free from hardship as possible. They spoke of their concern over ‘donor fatigue,’ which could also translate as ‘compassion fatigue.’ ‘Donor fatigue’ expresses itself precisely in the reduction of funding. ‘Compassion fatigue’ expresses itself less obviously in the reduction of concern. One is the consequence of the other. Can we afford to indulge in compassion fatigue? Is the cost of meeting the needs of refugees greater than the cost that would be consequent on turning an indifferent, if not a blind, eye on their suffering? I appeal to donors the world over to fulfill the needs of these people who are in search, often it must seem to them a vain search, of refuge.

At Maela, I had valuable discussions with Thai officials responsible for the administration of Tak province where this and several other camps are situated. They acquainted me with some of the more serious problems related to refugee camps: violation of forestry laws, illegal drug use, home brewed spirits, the problems of controlling malaria, tuberculosis, dengue fever and cholera. The concerns of the administration are as legitimate as the concerns of the refugees. Host countries also deserve consideration and practical help in coping with the difficulties related to their responsibilities.

Ultimately our aim should be to create a world free from the displaced, the homeless and the hopeless, a world of which each and every corner is a true sanctuary where the inhabitants will have the freedom and the capacity to live in peace. Every thought, every word, and every action that adds to the positive and the wholesome is a contribution to peace. Each and every one of us is capable of making such a contribution. Let us join hands to try to create a peaceful world where we can sleep in security and wake in happiness.

The Nobel Committee concluded its statement of 14 October 1991 with the words: “In awarding the Nobel Peace Prize … to Aung San Suu Kyi, the Norwegian Nobel Committee wishes to honour this woman for her unflagging efforts and to show its support for the many people throughout the world who are striving to attain democracy, human rights and ethnic conciliation by peaceful means.” When I joined the democracy movement in Burma it never occurred to me that I might ever be the recipient of any prize or honour. The prize we were working for was a free, secure and just society where our people might be able to realize their full potential. The honour lay in our endeavour. History had given us the opportunity to give of our best for a cause in which we believed. When the Nobel Committee chose to honour me, the road I had chosen of my own free will became a less lonely path to follow. For this I thank the Committee, the people of Norway and peoples all over the world whose support has strengthened my faith in the common quest for peace. Thank you.

Copyright © The Nobel Foundation 2012

3 comments on “Diễn từ nhận giải Nobel hoà bình của bà Aung San Suu Kyi

  1. Chuyện gì cũng phải có đủ chứng cứ. Có đủ chứng cứ và ghi âm đối chứng thì công an phải có trách nhiệm điều tra.
    Tuy nhiên, tôi muốn nhấn mạnh rằng mặc dù có bộ máy phòng chống tham nhũng hay chưa có thì tất cả mọi người chúng ta đều phải tham gia phòng chống tham nhũng” – Tổng bí thư nói.
    THE P.M DUNG RELATIVE CORRUPTION IN VIET NAM ??? CÓ GHI ÂM ĐỐI CHỨNG!
    http://blog.yahoo.com/_MIGBSHJT6AS63B7H4GNPBUXNRA/articles/826059/index
    Nói thật với các bạn:
    Vay vốn ODA là để xây dựng và phát triển đất nước.
    Ra làm ăn nhất là với người nước ngoài thì Tiền của nhà đầu tư phải được theo dõi và báo cáo rõ ràng…
    Lại xét đến người đi vay thì phải có trách nhiệm báo cáo và trả tiền cho nhà đầu tư.
    Nếu để xảy ra tham nhũng thì sẽ rất khó khăn cho nhân dân do phải đóng thuế trả nợ vay nước ngoài.
    Nếu không có tiền thì phải in thêm tiền. In tiền nhiều thì tiền sẽ mất giá.
    Cho nên, chúng ta bắt buộc phải làm việc có trách nhiệm và tránh để tham nhũng ăn tàn mạt đất nước…hại bà con phải trả nợ hoài không hết cho đến đời con cháu…
    Tất cả những nhân tố này dẫn đến việc tôi bị hại, bị xâm hại quyền con người 1 cách rừng rú và không có pháp luật.
    Nhưng vì tôi làm là vì lương tâm và trách nhiệm, góp 1 phần nhỏ xây dựng đất nước minh bạch hơn cho tương lai của Việt Nam .

    Vì nếu làm ăn gian dối, phi pháp thì người nước ngoài sẽ không cho vay nữa và sẽ mất lòng tin trên trường quốc tế.
    Như vậy, đất nước sẽ nghèo nàn hơn do tham nhũng.
    Tin rằng các bạn cũng hiểu được điều này!

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s