Phi Đoàn II Khu Trục tức Phi Đoàn Phi Hổ hoặc Phi Đoàn 516


Cựu Phi Hổ Trần Bá Hợi
LÝ DO THÀNH LẬP
Hậu bán thế kỷ 20, Việt Nam lật sang một trang sử mới. Trong thập niên 1950, chính trị thế giới có nhiều biến chuyển lớn khiến miền Nam Việt Nam trở thành một vị trí chiến lược quan trọng của thế giới tự do trên bán đảo Đông Dương. Viễn tượng làn sóng Cộng Sản sẽ xâm chiếm toàn vùng Đông Nam Á và có thể lan tràn tới Úc Châu, là một ám ảnh to lớn của Hoa Kỳ. Do đó, Tổng Thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower cĩ ý muốn giúp Quân Đội Viễn Chinh Pháp ngăn chận hiểm họa Cộng Sản tại Đông Dương. Nhưng vì nhiều lý do chính trị thượng tầng quốc tế, Hoa Kỳ không thể đơn phương trực tiếp can thiệp vào chiến trường Điện Biên Phủ để giải nguy cho quân đội Pháp. Sau khi thất thủ tại chiến trường Điện Biên Phủ [1] ngày 7 tháng 5 năm 1954, toàn bộ Quân Đội Viễn Chinh Pháp phải rời khỏi Việt Nam bởi Hiệp Định Genève ký ngày 20 tháng 7 năm 1954. Việt Nam thoát ách đô hộ của thực dân Pháp, nhưng bị chia đôi thành hai miền Nam và Bắc. Vị Hoàng Đế cuối cùng của triều Nguyễn thoái vị và sống lưu vong tại Pháp, chấm dứt chế độ Quân Chủ tại Việt Nam. Miền Bắc Việt Nam do Hồ Chí Minh, một đảng viên Cộng Sản Quốc Tế, cai trị và đặt tên là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Tại miền Nam Việt Nam, với sự yểm trợ của Hoa Kỳ, ông Ngô Đình Diệm thành lập nền Đệ Nhất Cộng Hòa và trở nên vị Tổng Thống dân cử đầu tiên. Tổng Thống Ngô Đình Diệm, được sự ủng hộ của quần chúng, đã ổn định được những xáo trộn chính trị nội bộ tại miền Nam. An ninh, trật tự được tái lập. Những đảng phái và giáo phái võ trang đã quy thuận hoặc bị dẹp tan. Tiến triển về kinh tế và xã hội được coi là tốt đẹp. Nhiều chương trình cải cách điền địa, kế hoạch hữu sản hóa người dân và tăng gia sản xuất công kỹ nghệ đã giảm thiểu nạn thất nghiệp, mức sống dân chúng tương đối dễ thở.
Về quân sự, Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa (QĐVNCH) được Hoa Kỳ yểm trợ để cải tổ theo khuôn mẫu quân đội Hoa Kỳ, hầu có đủ khả năng ngăn chận làn sóng Cộng Sản trong vùng Đông Nam Á. Để đáp ứng với nhu cầu phát triển quân sự, chuyên viên các ngành, các cấp chỉ huy trong Quân Đội đều được huấn luyện tại Hoa Kỳ thay vì tại Pháp như trước.
Đây là thời gian QĐVNCH nói chung và Không Quân Việt Nam (KQVN) nói riêng, còn đang trong giai đoạn phôi thai và đang học hỏi. Vì đã bị ảnh hưởng với hệ thống tổ chức và tiêu chuẩn huấn luyện của Không Quân Pháp nên KQVN rất lúng túng khi chuyển sang quan niệm tổ chức, huấn luyện của Không Quân Hoa Kỳ. Thời gian này Pháp mới bàn giao lại cho KQVN:
– Một Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân
– Bốn Căn Cứ Trợ Lực Không Quân,
– Một Ban Tiếp Liệu Không Quân,
– Một Liên Phi Đoàn Vận Tải,
– Một Phi Đội Liên Lạc,
– Hai Phi Đoàn Quan Sát,
– Một Phi Đoàn Khu Trục và Trinh Sát.
Cũng vào thời điểm này, đơn vị lớn nhất của Không Quân là cấp Căn Cứ Trợ Lực. Đơn vị phi hành tác chiến lớn nhất là cấp Phi Đoàn. Cơ quan Chỉ Huy Không Quân được gọi là Ban Không Quân trực thuộc Bộ Tổng Tham Mưu QĐVNCH. [2]
Căn cứ theo Hiệp Định Genève, một cuộc Tổng Tuyển Cử để thống nhất hai miền Nam-Bắc phải được tổ chức vào tháng 7 năm 1956. Nhưng Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) tiên liệu được sự bịp bợm, xảo trá của Cộng Sản Bắc Việt (CSBV) trong việc tổ chức Tổng Tuyển Cử cũng như sự bất công, bất lực của Ủy Hội Kiểm Soát Đình Chiến (UHKSĐC) nên đã từ chối. Việc từ chối tổ chức Tổng Tuyển Cử của VNCH được Hoa Kỳ và Anh Quốc tán thành và ủng hộ. Do đó, mưu toan thôn tính miền Nam Việt Nam của CSBV qua cuộc Tổng Tuyển Cử bịp bợm đã không thành tựu.
Trong khi đó, tại miền Bắc, CSBV lại lâm vào cảnh kinh tế suy thoái thậm tệ. Nông nghiệp chậm lụt, bế tắc vì thiếu phương tiện, thiếu chuyên viên và gặp thời tiết không thuận lợi. Kỹ nghệ không phát triển được vì thiếu tài chánh và chuyên viên. Những hứa hẹn của Cộng Sản với nhân dân miền Bắc về một tương lai tươi sáng , huy hoàng khi thôn tính được miền Nam đã không còn hiệu lực để giữ vững tinh thần quân dân và cán bộ tập kết. Để cứu vãn tình trạng bế tắc chính trị và kinh tế tại miền Bắc, CSBV chuyển hướng sang việc sử dụng quân sự, phối hợp với kế hoạch phá hoại, khủng bố, hầu gây rối loạn, bất ổn tại miền Nam để tiến tới thôn tính miền Nam.
Do đó, sang đầu thập niên 60 tình hình chính trị, quân sự tại miền Nam có nhiều chuyển biến đặc biệt. Tháng 12 năm 1960, Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN), một tổ chức tay sai của Cộng Sản Hà Nội được thành lập tại Miền Nam Việt Nam, để tiếp tay CSBV với ý đồ khuynh đảo và xâm lăng miền Nam.
Đầu năm 1961, lực lượng quân sự của MTGPMN bắt đầu hoạt động dưới sự huấn luyện và yểm trợ trực tiếp bởi bộ đội chính quy CSBV. Từ du kích chiến, khủng b? và phá hoại, CSBV và tay sai MTGPMN chuyển sang trận địa chiến tới cấp Trung Đoàn.
Tình hình chiến sự tại miền Nam Việt Nam trở nên sôi động trên khắp chiến trường. Phi Đoàn I Khu Trục đã phải phân tán rất mỏng, hầu đáp ứng nhu cầu hành quân trên khắp bốn vùng chiến thuật. Để thỏa mãn nhu cầu yểm trợ không địa đang gia tăng trên khắp chiến trường và cũng để giải tỏa bớt gánh nặng hành quân của Phi Đoàn I Khu Trục, Bộ Tổng Tham Mưu Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa (BTTM/QĐVNCH), với sự đồng ý viện trợ của Hoa Kỳ, chỉ thị Bộ Tư Lệnh Không Quân (BTLKQ) thành lập một Phi Đoàn Khu Trục thứ hai.
TỔ CHỨC VÀ HUẤN LUYỆN
Danh xưng chính thức của đơn vị tân lập này là Phi Đoàn II Khu Trục, danh hiệu Phi Hổ. Đầu năm 1963, các đơn vị Không Quân đều được mang một phiên hiệu bằng số. Phiên hiệu của Phi Đoàn II Khu Trục là Phi Đoàn 516. Thành lập vào tháng 12 năm 1961, Phi Đoàn II Khu Trục đồn trú tại Nha Trang. Về tổ chức và chỉ huy, Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn trực tiếp nhận và thi hành chỉ thị của BTLKQ. Về lãnh thổ, Phi Đoàn II Khu Trục trực thuộc Căn Cứ Trợ Lực Không Quân Nha Trang. Hỏa lực của Phi Đoàn để yểm trợ các đơn vị bạn được phối hợp và điều động bởi Trung Tâm Hành Quân Không Trợ (Air Support Operations Center) thuộc Quân Đoàn liên hệ. Phi Đoàn II Khu Trục được trang bị loại phi cơ T-28B&C Trojan. [3] Vị Chỉ Huy Trưởng đầu tiên của Phi Đoàn II Khu Trục là Đại Úy Phạm Long Sửu, nguyên Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn I Khu Trục, nguyên Chỉ Huy Phó Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân, Nha Trang. Đại Úy Phạm Long Sửu tốt nghiệp từ École de L’Air, Salon de Provence, Pháp và được huấn luyện chuyên biệt về ngành khu trục trên phi cơ phản lực Vampire và T-33 tại căn cứ Meknes, Bắc Phi. Đại Úy Phạm Long Sửu hồi hương với bằng phi công khu trục và sau đó trở lại căn cứ Khouribga, Bắc Phi để kiểm định (check-out) trên phi cơ F6F Hellcat.
Sơ Đồ Tổ Chức Phi Đoàn II Khu Trục

Để cung cấp phi công cho Phi Đoàn II Khu Trục và các đơn vị phi hành tác chiến khác, BTLKQ quyết định thuyên chuyển tất cả huấn luyện viên phi công đang phục vụ tại Trung Tâm Huấn Luyện Không Quân (TTHLKQ), Nha Trang về các đơn vị chiến đấu. Tuy nhiên, các huấn luyện viên, tùy theo chỉ số, có thể xin phục vụ ngành vận tải, quan sát hoặc khu trục. Việc huấn luyện phi công và quan sát viên tại TTHLKQ Nha Trang được tạm thời giao cho huấn luyện viên Hoa Kỳ đảm trách.
Những sĩ quan huấn luyện viên phi công tại TTHLKQ Nha Trang sau đây được thuyên chuyển thẳng sang Phi Đoàn II Khu Trục:
– Trung Úy Nguyễn Hồng Tuyền
– Thiếu Úy Ôn Văn Tài
– Thiếu Úy Nguyễn Tấn Sĩ
– Thiếu Úy Bùi Thanh Khiết
– Thiếu Úy Nguyễn Huy Cương
– Thiếu Úy Nguyễn Quang Ninh
– Thiếu Úy Nguyễn Văn Giang
– Thiếu Úy Trần Bá Hợi
Số huấn luyện viên còn lại được phân phối đến các đơn vị tác chiến khác như Liên Phi Đoàn Vận Tải, Phi Đoàn I Khu Trục tại Biên Hòa hoặc các Phi Đoàn Quan Sát. Ít lâu sau, để thỏa mãn bảng cấp số dự trù, một số phi công hiện đang phục vụ tại các Phi Đoàn Quan Sát và Vận Tải có tên sau đây được thuyên chuyển về Phi Đoàn II Khu Trục:
– Thiếu Úy Trần Như Hạnh
– Thiếu Úy Nguyễn Quốc Phiên
– Thiếu Úy Nguyyễn Văn Tường
– Thiếu Úy Nguyễn Quốc Hưng
– Thiếu Úy Thái Bá Đệ
– Thiếu Úy Nguyễn Văn Vượng
– Thiếu Úy Lý Ngọc An
– Thiếu Úy Phạm Văn Hòa
– Thiếu Úy Hoàng Văn Khoa
– Thiếu Úy Nguyễn Ngọc Tiến
– Thiếu Úy Võ Trường Chí
– Thiếu Úy Lưu Đức Trinh
– Thiếu Úy Trần Văn Bắc
– Thiếu Úy Lê Văn Thảo
– Chuẩn Úy Võ Phạm Tước
– Chuẩn Úy Đặng Duy Lạc
– Chuẩn Úy Nguyễn Khắc Luyến
– Chuẩn Úy Đàm Thượng Vũ
– Chuẩn Úy Phạm Hữu Minh
– Chuẩn Úy Phạm Quang Điềm
– Chuẩn Úy Phạm Văn Phạm
– Chuẩn Úy Võ Kim Long
– Chuẩn Úy Phạm Văn Tỷ
– Chuẩn Úy Cao Văn Khuyến
– Chuẩn Úy Tôn Thất Sum
– Chuẩn Úy Trương Tấn Nông
– Chuẩn Úy Vũ Văn Thư
– Chuẩn Úy Nguyễn Văn Nhàn
– Chuẩn Úy Huỳnh Hữu Hải
– Chuẩn Úy Phạm Khắc Tâm
– Chuẩn Úy Huỳnh Văn Vui
– Chuẩn Úy Nguyễn Văn Vui
– Chuẩn Úy Nguyễn Đình Lộc
– Chuẩn Úy Lê Thanh Hồng Vân
– Chuẩn Úy Nguyễn Văn Thiện
– Chuẩn Úy Trần Đình Được
– Chuẩn Úy Cao Minh Châu
Hai sĩ quan đang phục vụ tại Phi Đoàn I Khu Trục được thuyên chuyển sang Phi Đoàn II Khu Trục là:
– Thiếu Úy Nguyễn Hữu Bách
– Thiếu Úy Vũ Khắc Huề
Chương trình kiểm định trên phi cơ T-28B&C không gặp trở ngại vì đa số các sĩ quan phi công thuyên chuyển tới Phi Đoàn II Khu Trục đều đã tốt nghiệp qua chương trình huấn luyện Sinh Viên Sĩ Quan Phi Công Officer Candidate School (OCS) thuộc Bộ Tư Lệnh Huấn Luyện của Không Lực Hoa Kỳ (Air Training Command, U.S. Air Force). Chương trình huấn luyện Sinh Viên Sĩ Quan Phi Công OCS [4] gồm cĩ:
Tiền Phi Huấn (Pre-Flight Training)
– Huấn Luyện Sinh Ngữ (Language Training) riêng cho Sinh Viên Sĩ Quan Phi Công Đồng Minh
– Căn Bản Quân Sự (Basic Military Training)
– Lãnh Đạo (Leadership Training)
· Địa Huấn (Academic Training)
– Kỹ Thuật Phi Cơ (Aircraft Engineering)
– Cơ Học Phi Hành (Principle of Flight)
– Phi Trang (Avionics)
– Khí Động Học (Aerodynamics)
– Khí Tượng (Weather)
– Địa Hình Học (Topography)
– Sinh Lý Phi Hành (Physiology of Flight)
– Mưu Sinh (Survival Training)
– Thể Dục Thể Thao (Physical Training)
– Huấn Luyện Quân Sự (Military Training)
· Phi Huấn (Flight Training)
– Làm quen phi cơ (Aircraft Familiarization)
– Những động tác bất thường và đặc tính phi cơ (Airworks/Unusual Attitudes)
– Nhào lộn (Acrobatics)
– Hạ cánh khẩn cấp (Emergency Forced Landing)
– Vòng phi đạo và hạ cánh (Traffic Pattern and Landing)
– Đơn phi (Solo)
– Cất cánh và đáp phi đạo ngắn (Short Field Take off and Landing)
– Bay hợp đoàn (Formation Flight)
– Bay phi cụ (Instrument Flying, Under Hood)
– Bay không hành ngoại quan ngày và đêm (Navigation Day & Night VFR)
– Bay không hành phi cụ (Navigation IFR, Under Hood)
– Bay đêm (Night Flying)
Phi công tốt nghiệp từ Hoa Kỳ không được huấn luyện chuyên biệt về ngành khu trục. Do đó, khi thuyên chuyển về Phi Đoàn II Khu Trục, những phi công này được biệt phái tạm thời tới Biệt Đội Farm Gate (Air Commando) thuộc Không Lực Hoa Kỳ (USAF) tại Biên Hòa, để kiểm định và huấn luyện về tác xạ, oanh kích trên phi cơ T-28B&C.
Tài liệu USAF Air Commandos/Special Operations Forces của Không Lực Hoa Kỳ (KLHK), xác nhận ngày 6 tháng 11 năm 1961, Bộ Tư Lệnh Không Lực Thái Bình Dương (Pacific Air Force Headquarters) yêu cầu 4400th Combat Crew Training Squadron (Air Commandos) biệt phái một biệt đội tới Biên Hòa, Việt Nam. Nhiệm vụ của biệt đội là thi hành những phi vụ không thuộc phạm vi của Military Assistant Advisory Group (MAAG) và đồng thời huấn luyện các phi công Phi Đoàn II Khu Trục. Do đó, biệt đội Farm Gate được gửi tới Biên Hòa với 41 sĩ quan, 115 hạ sĩ quan và binh sĩ. Biệt đội Farm Gate được trang bị 4 phi cơ RB-26, 4 phi cơ SC-47 và 8 phi cơ T-28B&C.
Song song với việc kiểm định và huấn luyện tác xạ, oanh kích tại Biên Hòa, mỗi khi Công Xưởng Không Quân (CXKQ) giải trữ xong một số phi cơ T-28B&C thuộc Phi Đoàn II Khu Trục, các phi công Phi Đoàn II Khu Trục lãnh trách nhiệm bay (ferry) những phi cơ này về đơn vị chỉ định tại Nha Trang. Sau thời gian huấn luyện với biệt đội Farm Gate, toàn thể phi công Phi Đoàn II Khu Trục trở lại đơn vị gốc tại Nha Trang để hoàn tất phần huấn luyện chuyên biệt về ngành khu trục tại đơn vị.
Phần huấn luyện chuyên biệt về ngành khu trục cho các phi công đã được Đại Úy Phạm Long Sửu đích thân đảm nhiệm. Đại Úy Phạm Long Sửu đã soạn thảo một chương trình địa huấn và phi hành để huấn luyện, xác định phi tuần viên và phi tuần phó khu trục. Theo quan niệm của Đại Úy Phạm Long Sửu và đa số những phi công khu trục kỳ cựu, người phi công bay trên phi cơ khu trục chưa phải là phi công khu trục và chỉ là một phi công bay phi cơ khu trực mà thôi. Phi công khu trục phải được huấn luyện chuyên biệt về ngành khu trục theo những tiêu chuẩn, luật lệ của ngành khu trục (Règlement de l’aviation de chasse).
Ngành khu trục có bốn đẳng cấp căn cứ trên kinh nghiệm và kiến thức khu trục:
– Phi tuần viên xác định (Equipier confirmé)
– Phi tuần phó (Moniteur de chasse)
– Phi tuần trưởng (Chef de patrouille)
– Liên phi tuần trưởng (Chef de dispositif)
Chương trình huấn luyện xác định phi tuần viên khu trục gồm có:
A. Chứng Chỉ Hàng Không Tổng Quát: [5]
– Nhiệm vụ và tổ chức tổng quát của KLVN
– Nhiệm vụ và tổ chức của Khu Trục
– Các hình thức hợp đoàn
– Tập họp phi tuần sau khi cất cánh
– Vị trí và trách nhiệm của phi tuần viên trong hợp đoàn
– Những phương thức khẩn cấp khi có đoàn viên lâm nạn
– Nhận dạng phi cơ
– Khí tượng
– Địa hình, đọc và sử dụng bản đồ hành quân
B. Hoàn tất chương trình tác xạ và oanh kích ngày và đêm
Sau khi xác định, phi tuần viên được tham dự các phi vụ hành quân hay huấn luyện dưới sự hướng dẫn của một phi tuần phó (Moniteur de Chasse) hoặc một phi tuần trưởng (Chef de Patrouille).
Để trở thành phi tuần phó tại Phi Đoàn II Khu Trục, thí sinh (đã là phi tuần viên xác định) phải qua một cuộc khảo sát về phi hành, tức là một phi vụ oanh kích tiền soạn (Assaut Preparé). Mục tiêu oanh kích được Đại Úy Phạm Long Sửu lựa chọn. Tọa độ mục tiêu được trao cho thí sinh phi tuần phó để chuẩn bị. Trong phi vụ khảo sát, thí sinh sẽ bay với tư cách phi tuần phó và khảo sát viên (Đại Úy Phạm Long Sửu) bay ở vị trí số hai như một phi tuần viên.
Thí sinh sẽ chuẩn bị không hành từ điểm xuất phát ở cao độ hành quân căn cứ theo loại vũ khí trang bị. Khi tới điểm dự trù, phi tuần phải xuống cao độ thấp hầu tránh bị địch phát hiện và tiếp tục không hành ở cao độ thấp cho tới điểm đã ước tính để kéo phi cơ lên. Khi kéo phi cơ lên cao độ oanh kích thì phải thấy mục tiêu nằm ở vị trí đã định (thông thường ở 45 độ, bên trái hoặc bên phải) để oanh kích. Mục đích của sự chuẩn bị không hành kỹ lưỡng và thi hành phi vụ chính xác là nhằm tạo yếu tố bất ngờ để phi vụ được kết quả như ý. Khảo sát viên sẽ giám định khả năng của thí sinh phi tuần phó qua:
– Khả năng thuyết trình về chi tiết phi vụ
– Chỉ thị rõ ràng, mạch lạc cho phi tuần viên
– Cất cánh và tập hợp phi đội sau khi cất cánh
– Kỷ luật phi hành
– Vị trí của phi tuần viên trong mọi hình thức hợp đoàn
– Sự chính xác trong không hành
– Giờ ước định trên mục tiêu
– Kỹ thuật oanh kích để duy trì an ninh trong vùng mục tiêu
– Oanh kích chính xác
– Hướng dẫn phi tuần trở về an toàn
– Khả năng thuyết trình hậu oanh kích (Debriefing) để rút ưu khuyết điểm
Sau khi được xác định, phi tuần phó sẽ có quyền hướng dẫn một phi tuần nhẹ (Patrouille Légère) hoặc bay ở vị trí số ba trong một phi tuần nặng (Patrouille Lourde) dưới quyền một phi tuần trưởng trong các phi vụ huấn luyện hoặc hành quân.
Theo tổ chức Không Quân thời đó, do ảnh hưởng Không Quân Pháp, phi tuần nhẹ gồm hai phi cơ, do một phi tuần phó hoặc phi tuần trưởng hướng dẫn và một phi tuần viên. Đây là đơn vị nhỏ nhất trong tổ chức Không Quân Khu Trục vì luật lệ Khu Trục không cho phép sử dụng Khu Trục đơn lẻ, từng chiếc. Phi tuần nặng gồm bốn phi cơ do một phi tuần trưởng hướng dẫn, một phi tuần phó phụ tá và hai phi tuần viên. Liên phi tuần gồm hai hoặc nhiều phi tuần nặng.
Song song với việc đào tạo phi tuần phó, Đại Úy Phạm Long Sửu cũng dành rất nhiều thời giờ huấn luyện và xác định phi tuần viên. Chỉ trong khoảng bốn, năm tháng tích cực huấn luyện, Phi Đoàn II Khu Trục đã có một số phi tuần phó và nhiều phi tuần viên xác định hành quân. Phạm vị hoạt động của Phi Đoàn II Khu Trục bao gồm miền duyên hải và cao nguyên Trung Phần. Để phản ứng kịp thời với những nhu cầu khẩn cấp tại địa phương, Phi Đoàn II Khu Trục biệt phái một Biệt Đội Khu Trục tới Đà Nẵng, Quân Đoàn I và một Biệt Đội Khu
Trục tới Pleiku, Quân Đoàn II. Những Biệt Đội này được đặt dưới sự điều động trực tiếp của Trung Tâm Hành Quân Không Trợ tại Quân Đoàn liên hệ. Phi Đoàn II Khu Trục đảm nhiệm những phi vụ:
– Yểm trợ tiếp cận (Close Air Support) để giải tỏa áp lực địch đang giao chiến với quân bạn
– Yểm trợ tiếp cận (Close Air Support) để giải tỏa áp lực địch khi đồn bót bị tấn công
– Bao vùng (Air Cover) cho các cuộc hành quân trực thăng vận
– Tiền oanh kích (Pre-Strike) để bảo đảm an ninh bãi đáp
– Bao vùng (Air Cover) cho các đoàn quân vận và hỏa xa
– Oanh kích (Interdiction) để triệt hạ các căn cứ địch, các nguồn tiếp vận của địch
– Oanh kích (Interdiction) địa điểm địch tập trung
– Không thám (Reconaissance)
– Không thám võ trang (Armed Reconaissance)
Vào thời điểm ?ĩ, quan niệm tổ chức QĐVNCH nói chung và KQVN nói riêng, không được hoàn toàn độc lập vì lệ thuộc trực tiếp vào viện trợ quân sự của đồng minh Hoa Kỳ. KQVN không được trang bị đúng m?c theo thỉnh cầu để có thể tổ chức theo lý thuyết nguyên thủy của Không Quân. Trên lý thuyết, trách nhiệm tối trọng của Không Quân là bảo vệ và luôn luôn làm chủ không gian Quốc Gia, ngõ hầu ngăn chận mọi vi phạm không phận, mọi tấn công của Không Quân địch hoặc ngoại bang. Nhiệm vụ yểm trợ không địa thường được coi là thứ yếu.
Nhưng đồng minh Hoa Kỳ e ngại, nếu được võ trang đúng mức và đầy đủ, KQVN có thể đơn phương tấn công CSBV và do đó, có thể lôi cuốn Trung Cộng và Nga Sô vào vòng chiến. [6] Đồng thời, các giới chức quân sự Hoa Kỳ quan niệm Không Quân CSBV không thể tấn công, oanh kích các thành phố hoặc các đơn vị QĐVNCH tại miền Nam Việt Nam. Thêm nữa, Không Quân Hoa Kỳ và Hạm Đội 7 Hải Quân Hoa Kỳ đều có hệ thống kiểm báo tối tân bao trùm toàn vùng trời phía Bắc và Nam Việt Nam.
Ngoài ra, với lực lượng nghênh cản rất hùng hậu, Hoa Kỳ đã dành độc quyền bảo đảm sự an toàn không gian của VNCH. Vì vậy, KQVN chỉ được trang bị loại phi cơ Skyraiders A-1H [7] và T-28B&C để thi hành những nhiệm vụ yểm trợ không địa!
Vì đồng minh Hoa Kỳ dành độc quyền bảo vệ không gian miền Nam Việt Nam nên phần huấn luyện không chiến cho phi công thuộc Phi Đoàn II Khu Trục rất sơ sài và căn bản. Không Quân Hoa Kỳ chỉ biệt phái một huấn luyện viên, Thiếu Tá Encinias, một phi công khu trực ưu tú (Ace) với 6 chiến công bắn hạ phi cơ Mig trong chiến tranh Triều Tiên tới Nha Trang để phụ trách phần huấn luyện không chiến rất đơn giản cho các phi tuần phó thuộc Phi Đoàn II Khu Trục. Chương trình huấn luyện gồm có:
– Ước lượng khoảng cách (Range Estimation)
– Động tác né tránh và chuyển sang tấn công (Break & Reverse Maneuver)
Chương trình huấn luyện gồm ba phi vụ. Một phi vụ bay chung với huấn luyện viên và hai phi vụ đơn phi. Trong phi vụ đơn phi, huấn luyện viên đóng vai phi cơ địch tấn công và học viên là phi cơ bị săn đuổi.
Đoàn Kỹ Thuật/Bảo Trì được đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Úy Đoàn Minh, một sĩ quan kỹ thuật tốt nghiệp từ École de L’Air, Salon de Provence, Pháp. Nhu cầu huấn luyện chuyên viên kỹ thuật các ngành và chuyên viên vũ khí trên phi cơ T-28B&C cũng cần thiết và cấp bách như việc huấn luyện nhân viên phi hành. Một sĩ quan cố vấn kỹ thuật của Không Quân Hoa Kỳ được biệt phái tới Phi Đoàn II Khu Trục để giúp đỡ Trung Úy Đoàn Minh trong việc huấn luyện, đào tạo chuyên viên, thỉnh cầu và tiếp nhận những thiết bị kỹ thuật, bom, đạn, xăng nhớt và trang bị cấp cứu, v..v… Đoàn Kỹ Thuật/Bảo Trì phụ trách toàn bộ phần bảo trì, phi đạo, tiếp liệu, trang bị cấp cứu, v..v… Đoàn Vũ Khí do Thiếu Úy Nguyễn Tấn Thọ đảm trách. Chỉ trong một thời gian kỷ lục, Đoàn Kỹ Thuật/Bảo Trì và Đoàn Vũ Khí đã sẵn sàng nhận trách nhiệm giao phó. Với kiến thức rộng rãi cộng với sự chỉ huy khéo léo, linh động, lập chương trình bảo trì và dự trữ chính xác, Trung Úy Đoàn Minh đã cùng với các chuyên viên đầy lương tâm chức nghiệp với tinh thần phục vụ cao độ, luôn luôn giữ được mức phi cơ khả dụng cao để đáp ứng nhu cầu hành quân trên khắp chiến trường trong vùng trách nhiệm.
Mùa hè năm 1963, tin tức quân báo cho biết vào những đêm trăng sáng, đài kiểm báo Peacock tại Pleiku thường phát hiện vận tải cơ của Không Quân CSBV lén lút xâm nhập miền Cao Nguyên Trung Phần trên không phận Kontum, Pleiku và Ban Mê Thuột. BTLKQ chỉ thị Phi Đoàn II Khu Trục biệt phái một biệt đội lên túc trực tại Pleiku để sẵn sàng cất cánh, ngăn chận và bắn hạ những phi cơ vận tải của Không Quân CSBV. Những phi vụ đặc biệt này được mệnh danh là những phi vụ “đi săn đêm”.
Phi tuần đầu tiên thực hiện phi vụ “đi săn đêm” do Đại Úy Phạm Long Sửu đích thân hướng dẫn. Phi cơ T-28B&C được trang bị hai đại liên 50 caliber và “máy nhắm với con quay hồi chuyển” (Gyroscopic Gunsight). Máy nhắm này do Anh Quốc phát minh vào giai đoạn chót của Đệ Nhị Thế Chiến và sau đó được cấp tốc trang bị trên phi cơ khu trục của Anh Quốc và Hoa Kỳ thay thế cho loại máy nhắm có chữ thập cố định (Collimateur Fixe) đã lỗi thời.
Máy nhắm có chữ thập cố định chỉ có thể điều chỉnh góc độ dọc để áp dụng cho việc yểm trợ không địa như tác xạ (Strafing), bắn hỏa tiễn (Rocketry) hoặc thả bom bổ nhào (Dive-Bombing) và không thích hợp cho không chiến. Với loại “máy nhắm có chữ thập cố định”, tạo được một chiến công không chiến rất khó khăn.
Ngoài sức khỏe cơ thể để chịu đựng trọng lực (G-Force) khi nhào lộn, thị giác tốt, bình tĩnh và quyết định nhanh, người phi công khu trục phải tự ước lượng khoảng cách (Distance) giữa phi cơ mình và phi cơ địch phía trước cho đúng với tụ điểm (Converging Point) của các cây súng đã được chuyên viên vũ khí điều chỉnh (Calibrate). Phải ước lượng sức cản (Drag) của viên đạn, trọng lực (Gravity) và đạn đạo (Projectile) để bắn chặn đầu (Lead) theo hướng phi cơ địch đang quẹo mới có hy vọng thành công. Do đó, phi công khu trục sẽ không nhắm chữ thập vào phi cơ địch mà phải quẹo vào phía trong, nhắm chữ thập về phía trước và cao hơn để điều chỉnh đạn đạo chặn đầu phi cơ địch. Vì vậy, tỷ lệ chính xác không được cao và đòi hỏi nhiều thực tập hoặc kinh nghiệm chiến trường.
Sự xuất hiện của “máy nhắm với con quay hồi chuyển” trên phi cơ khu trục đã giải quyết được yếu tố ước lượng thiếu chính xác của đầu óc con người. Máy nhắm này phản chiếu một chấm màu cam trên tấm kính nhỏ trước mặt phi công ngay trung tâm một vòng tròn có sáu gạch, hai ngang và bốn góc. Những gạch này có thể điều chỉnh lớn, nhỏ bởi phi công qua nắm cầm trên tay ga tùy theo sải cánh (Wing-Span) của phi cơ địch để đo khoảng cách. Thí dụ: nếu sải cánh của phi cơ địch là 37 ft, phi công dùng nắm cầm trên tay ga để khóa (Lock) ở 37 ft. [Trong môn học Nhận Dạng Phi Cơ (Aircraft Recognition) Phi Công Khu Trục đã được huấn luyện để nhận dạng và biết kích thước các loại phi cơ địch thường sử dụng.]
Khi phi công nhắm và đóng khung được phi cơ địch trong vòng tròn của máy nhắm và chấm nhỏ màu cam nằm trên phi cơ địch tức là mục tiêu đã ở khoảng cách đúng tụ điểm để khai hỏa. Con quay hồi chuyển đã đo lường được gia tốc, hiệu chính với tốc độ quẹo (Turn Rate), trọng lực của viên đạn, để đạn đạo gặp mục tiêu ở tụ điểm.
Nhờ “máy nhắm với con quay hồi chuyển” phi công khu trục Đồng Minh và Hoa Kỳ đã đạt được nhiều chiến công trong các trận không chiến với Đức Quốc Xã và Nhật Bản trên khắp chiến trường Âu Châu và Thái Bình Dương thời đó.
Trước thời gian Phi Đoàn II Khu Trục thi hành phi vụ săn đêm, kỹ thuật hàng không đã chuyển sang kỷ nguyên phản lực với vũ khí tối tân như hỏa tiễn tầm nhiệt dùng cho không chiến. Nhưng để bắn hạ những phi cơ vận tải địch bay với tốc độ chậm và khó xoay chuyển, phi cơ T-28B&C có “máy nhắm với con quay hồi chuyển” đã được coi là có ưu thế và dễ dàng hơn loại phi cơ chỉ có “máy nhắm cổ điển với chữ thập cố định”. Do đó xác xuất thành công rất cao.
Vào những dịp Phi Đoàn II Khu Trục “đi săn đêm” trên vùng trời Cao Nguyên, Đại Úy Nguyễn Ngọc Loan, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Hành Quân Không Quân, thường đến đài kiểm báo Peacock, đích thân hướng dẫn phi tuần săn đêm trên màn ảnh Radar để gia tăng sự hữu hiệu và thành công. Đại Úy Nguyễn Ngọc Loan cũng là một phi công khu trục tốt nghiệp từ École de L’Air, Salon de Provence, Pháp và Căn Cứ Huấn Luyện Khu Trục Meknes, Bắc Phi.
Tất cả biệt đội tham dự phi vụ “săn đêm” đều đem theo một túi ngủ (Sleeping Bag) rất ấm do biệt đội Farm Gate cấp phát. Phi công, cơ khí viên và chuyên viên vũ khí ngủ ngay dưới cánh phi cơ trên khu vực đầu phi đạo (Run Up Area), để có thể cất cánh ngay khi được lệnh (Scramble) từ Trung Tâm Hành Quân Không Trợ 2 (Air Support Operation Center ASOC 2), Quân Đoàn II. Hai phi cơ túc trực đậu tại đầu phi đạo sử dụng. Các cơ khí viên luân phiên quay máy để giữ nhiệt độ động cơ ở mức cần thiết, sẵn sàng cất cánh.
Sau nhiều phi vụ săn đuổi phi cơ địch trên không phận Cao Nguyên Trung Phần vào những đêm trăng với sự hướng dẫn của Đại Úy Nguyễn Ngọc Loan trên tần số đài kiểm báo Peacock, Phi Đoàn II Khu Trục không đạt được kết quả mong muốn. Toàn thể phi công tham dự đều đồng ý và xác nhận không thể nhìn thấy phi cơ địch trong màn đêm dù có ánh sáng trăng và đèn dạ quang phi cơ đã được vặn mờ tối đa. Do đó, phi vụ “đi săn đêm” chỉ định cho Phi Đoàn II Khu Trục được chính thức hủy bỏ.
Khoảng cuối năm 1963, vì lý do gia đình, Đại Úy Phạm Long Sửu xin từ nhiệm chức vụ Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn II Khu Trục. BTLKQ chấp thuận và trao quyền chỉ huy Phi Đoàn II Khu Trục cho Đại Úy Võ Xuân Lành.
GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN
Để hoàn chỉnh hệ thống chỉ huy, phối hợp, điều hành, cuối năm 1964, KQVN cải danh thành Không Lực Việt Nam Cộng Hòa (KLVNCH) và tái phối trí lực lượng. Với danh xưng và tổ chức mới, các Căn Cứ Trợ Lực trở thành Không Đoàn Chiến Thuật (Tactical Wing) và các đơn vị cấp đoàn (Phi Đoàn, Đoàn Kỹ Thuật) được nâng lên cấp Liên Đoàn. Với sự chấp thuận của BTLKQ, Phi Đoàn II Khu Trục đã thiết lập một Trung Tâm Hành Quân Không Trợ 2 Phụ (Sub ASOC 2) ngay tại Nha Trang và điều hành bởi sĩ quan và nhân viên thuộc Phi Đoàn II Khu Trục. Sự hình thành Trung Tâm Phụ này đã giảm thiểu tối đa thủ tục thỉnh cầu không trợ phức tạp, để đáp ứng kịp thời những nhu cầu khẩn cấp từ các đơn vị bạn. Sau kế hoạch tái phối trí, KLVNCH có 5 Không Đoàn:
– Không Đoàn 23 Chiến Thuật đồn trú tại Biên Hòa thuộc Vùng 3 Chiến Thuật
– Không Đoàn 33 Chiến Thuật đồn trú tại Tân Sơn Nhất thuộc Vùng 3 Chiến Thuật
– Không Đoàn 41 Chiến Thuật đồn trú tại Đà Nẵng thuộc Vùng 1 Chiến Thuật
– Không Đoàn 62 Chiến Thuật đồn trú tại Nha Trang thuộc Vùng 2 Chiến Thuật
– Không Đoàn 74 Chiến Thuật đồn trú tại Bình Thủy thuộc Vùng 4 Chiến Thuật
Theo tổ chức mới, Không Đoàn Chiến Thuật gồm có:
– Một Liên Đoàn Tác Chiến
– Một Liên Đoàn Kỹ Thuật
– Một Liên Đoàn Yểm Cứ
– Một Liên Đoàn Phòng Thủ
– Một Phòng Nhân Viên
– Một Khối Chiến Tranh Chính Trị
Các Liên Đoàn, Phòng, Khối đặt dưới quyền chỉ huy của Tư Lệnh Không Đoàn. Tư Lệnh Không Đoàn trực tiếp nhận và thi hành lệnh của Bộ Tư Lệnh Không Lực. Tổ chức mới đòi hỏi tái phân phối các đơn vị tác chiến.
Phi Đoàn II Khu Trục trở nên một Phi Đoàn trực thuộc Liên Đoàn 41 Tác Chiến / Không Đoàn 41 Chiến Thuật tại Đà Nẵng thuộc Vùng 1 Chiến Thuật. Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn II Khu Trục là Đại Úy Dương Thiệu Hùng, cựu Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn I Khu Trục. Không lâu sau đó, vào khoảng tháng 5 năm 1964, Không Quân Hoa Kỳ đồng ý thay thế loại phi cơ T-28B&C theo kế hoạch phéá thải dần (Phase Out) bằng phi cơ Skyraiders A-1H và A-1E. Phi Đoàn II Khu Trục lưu giữ một số ít phi cơ T-28B để sử dụng trong các phi vụ liên lạc hành quân.
Do nhu cầu tái phối trí quân số và chuyển hoán, bảng cấp số Phi Đoàn II Khu Trục được bổ sung một số tân sĩ quan phi công tốt nghiệp từ Hoa Kỳ và Nha Trang:
– Chuẩn Úy Trần Trung Chính
– Chuẩn Úy Phạm Bình An
– Chuẩn Úy Trần Văn Nghiêm
– Chuẩn Úy Cao Minh Dõng
– Chuẩn Úy Nguyễn Văn Bổng
– Chuẩn Úy Lê Trai
– Chuẩn Úy Phan Trừng
– Chuẩn Úy Hồ Viết Thanh
– Chuẩn Úy Phan Hiền Tính
– Chuẩn Úy Nguyễn Du
– Chuẩn Úy Trịnh Đức Tự
– Chuẩn Úy Nguyễn Kiểm
– Chuẩn Úy Nguyễn Kim Nam
– Chuẩn Úy Nguyễn Văn Luyện
– Chuẩn Úy Nguyễn Văn Phú (A)
– Chuẩn Úy Nguyễn Văn Phú (B)
– Chuẩn Úy Vũ Việt Quý
– Chuẩn Úy Nguyễn Văn Thiệt
– Chuẩn Úy Hoàng Trọng Đăng
– Chuẩn Úy Lương Văn Thới
– Chuẩn Úy Lâm Thành Mậu
CHƯƠNG TRÌNH VIỆT NAM HÓA
Sau trận tổng công kích của CSBV vào mùa Xuân năm 1968, tình hình chính trị, quân sự tại miền Nam Việt Nam bắt đầu gặp nhiều sóng gió bất lợi, mặc dù QLVNCH đã đập tan được mưu toan xâm chiếm miền Nam bằng võ lực của tập đoàn Cộng Sản miền Bắc. Có nhiều lý do tạo ra những khó khăn quân sự và chính trị cho VNCH. Với con số tổn thất về nhân mạng và chi phí chiến tranh ngày càng lên cao, nhiều cơ quan truyền thông, ký giả, những dân biểu, nghị sĩ thiên tả của Quốc Hội Hoa Kỳ và nhiều phong trào sinh viên phản chiến đòi hỏi chính phủ chấm dứt chiến tranh và triệt thoái quân đội Hoa Kỳ khỏi miền Nam Việt Nam.
Phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ đang ngầm ngầm dưới thời Lyndon B. Johnson từ trước năm 1965 bỗng nổi dậy mạnh mẽ. Dưới áp lực chống đối nặng nề và mất sự tín nhiệm của quần chúng, Tổng Thống Lyndon B. Johnson tuyên bố sẽ không tái ứng cử.
Để hy vọng thắng cử, ứng cử viên Tổng Thống Richard M. Nixon, trong diễn văn chấp nhận sự đề cử của Đảng Cộng Hòa vào ngày 8 tháng 8 năm 1968, hứa hẹn sẽ thương thuyết với Cộng Sản ở thế mạnh và sẽ chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam trong danh dự. Đồng thời để vỗ về đồng minh VNCH, ứng cử viên Tổng Thống Richard M. Nixon cam kết không bỏ rơi Nam Việt Nam. Sau khi ứng cử viên Richard M. Nixon đắc cử Tổng Thống Hoa Kỳ vào tháng 11 năm 1968, tình hình chính trị quân sự càng trở nên bất lợi và khó khăn hơn cho VNCH vì chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á thay đổi rõ rệt.
Ngày 4 tháng 8 năm 1969, Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger, bí mật gặp Xuân Thủy, đại diện Cộng Sản Bắc Việt tại tư gia của Jean Sainteny, một nhân vật môi giới người Pháp tại Paris để bí mật thương lượng. Đây là bước đầu dẫn đến thương thuyết với CSBV hầu đạt “Hòa Bình trong Danh Dự” tạo nền móng cho kế hoạch Việt Nam Hóa chiến tranh và triệt thoái quân lực Hoa Kỳ khỏi Nam Việt Nam.
Đầu năm 1969, Hoa Kỳ trao cho KLVNCH một số phản lực cơ Cessna A-37 Dragonfly [8] chuẩn bị cho chương trình Việt Nam Hóa. Phi Đoàn II Khu Trục thay thế phi cơ A1H bằng phi cơ Cessna A-37. Phi Công Phi Đoàn II Khu Trục được gửi sang Hoa Kỳ xuyên huấn trên phi cơ Cessna A-37. Phi Đoàn II Khu Trục bắt đầu chuyển sang kỷ nguyên phản lực.
Mùa Thu năm 1970, các đại đơn vị cấp Không Đoàn của KLVNCH được nâng lên hàng Sư Đoàn Không Quân (Air Division), để tự đảm nhiệm toàn bộ trách nhiệm của một Không Lực. Phi Đoàn II Khu Trục nay trực thuộc Không Đoàn 41 Chiến Thuật, Sư Đoàn 1 Không Quân tân lập tại Đà Nẵng cho tới tháng 4 năm 1975.
Sau gần 15 năm tung hoành trên khắp chiến trường, dù với những phương tiện (phi cơ) không thích hợp với chiến trường, lỗi thời, bom đạn hạn chế và chiến thuật, chiến lược bị áp đặt bởi đồng minh Hoa Kỳ, Phi Đoàn II Khu Trục đã anh dũng chiến đấu và chu toàn tốt đẹp nhiệm vụ giao phó.
LÝ DO PHI ĐOÀN II KHU TRỤC TAN RÃ NGÀY 30 THÁNG 4 NĂM 1975
VNCH là một quốc gia nhược tiểu nghèo tài nguyên và yếu kém khả năng kỹ thuật so với các quốc gia tiền tiến trên thế giới. Vì vậy, VNCH đã không tự tạo dựng được một chính sách quốc phòng thích hợp với hoàn cảnh riêng. Toàn bộ sách lược quốc phòng đã phải thiết kế theo sự viện trợ của đồng minh Hoa Kỳ. Chiến thuật, chiến lược và những quyết định quân sự quan trọng cho an ninh quốc gia không được đơn phương quyết định. VNCH đã phải chiến đấu chống CSBV trong một hoàn cảnh vô cùng khó khăn dưới sự chỉ đạo gần như trực tiếp của Ngũ Giác Đài và Tòa Bạch Ốc.
Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trên thế giới thường không kiên định, thiếu nhất trí, hay thay đổi. Vì nhu cầu tranh cử hoặc tái tranh cử, đa số giới chức dân cử thuộc Hành Pháp cũng như Lập Pháp Hoa Kỳ đều uốn nắn đường lối đối ngoại và những vấn đề quốc nội căn cứ vào kết quả của thống kê.
Đa số thống kê đều do những cơ quan thống kê, truyền thanh, truyền hình, báo chí đặt câu hỏi rất mánh khóe để đạt câu trả lời tiền chế. Ngoài ra, nhiều nhóm vận động chính trị (Political Lobbyist) đại diện cho tư bản, tài phiệt, những đặc quyền đặc lợi (Special Interest) cũng tạo ảnh hưởng rất lớn trong chính sách đối nội và đối ngoại của Hoa Kỳ. [9] Do đó khi những quyền lợi trên được tương nhượng và thỏa mãn, chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ sẽ thay đổi thuận thảo để đạt mục đích.
Đầu thập niên 1970, khi Cộng Sản không còn là mối lo sợ như sự ước lượng của Hoa Kỳ sau Đệ Nhị Thế Chiến nữa, sự hy sinh VNCH cho CSBV và Trung Cộng là một đáp số Hoa Kỳ cho là hợp lý. Trước hết là giảm thiểu những bất ổn chính trị tại Hoa Kỳ gây ra bởi chiến tranh Việt Nam, đồng thời tạo cơ hội tái thiết hữu nghị với Trung Cộng. Thêm nữa, Hoa Kỳ sẽ mở được thị trường thương mại to lớn sau bức màn tre đã bị gián đoạn trong nhiều thập niên. Thị trường từ lục địa Trung Hoa chắc chắn sẽ đem lại những lợi nhuận khổng lồ cho tư bản và tài phiệt Hoa Kỳ.
Trước những quyền lợi to lớn này, Hoa Kỳ đơn phương ký kết và thi hành Hiệp Ước Ba Lê, đơn phương triệt thoái quân lực khỏi Nam Việt Nam, chấm dứt quân viện cho QLVNCH trong khi CSBV tiếp tục được Nga Sô và Trung Cộng viện trợ tối đa. Để tặng nạn nhân (VNCH) đang rẫy chết phát súng ân huệ, tập đoàn truyền thông Hoa Kỳ đồng loạt mở chiến dịch ca ngợi CSBV, hết lòng chê bai và mạ ly QLVNCH. Hành động này đã triệt tiêu hy vọng cuối cùng của VNCH, quốc gia đã một lần là đồng minh đứng cùng chiến tuyến chống Cộng với Hoa Kỳ.
VNCH xụp đổ, QLVNCH tan rã, không vì thiếu tinh thần chiến đấu, không hoàn toàn vì tham nhũng như sử liệu Hoa Kỳ cố tình bóp méo để giữ thể diện. QLVNCH không còn phương tiện để tiếp tục chiến đấu trước một kẻ thù được quan thầy Nga Sô và Trung Cộng trang bị quá hùng hậu.
Phi Đoàn II Khu Trục là đơn vị Khu Trục thâm niên thứ hai của KLVNCH. Sau 15 năm trưởng thành trong khói lửa, chiến tranh, Phi Đoàn II Khu Trục đã thi hành hàng ngàn, hàng vạn phi vụ các loại. Từ các chiến trường miền Nam, các chiến dịch Đỗ Xá, Vũng Rô, Lam Sơn 719 và Mùa Hè Đỏ Lửa tới các phi vụ oanh kích ngay trong lòng đất địch phía Bắc vĩ tuyến 17.
Hiển nhiên, sau 15 năm anh dũng chiến đấu, Phi Đoàn II Khu Trục phải đạt được một số giờ bay, một số phi vụ, một số phi xuất không nhỏ và chắc chắn rất nhiều chiến công hiển hách. Nhưng rất tiếc, Phi Đoàn II Khu Trục không lưu giữ được cuốn sổ phi lệnh hoặc cuốn Nhật Ký Hành Quân để có thể ghi chép một cách chính xác những thành tích đã đạt. Người viết chân thành ước mong quí vị Niên Trưởng, các Cựu Phi Hổ khắp năm châu, tích cực đóng góp cho Ban Thực Hiện Quân Sử những tài liệu, dữ kiện chính xác về những chiến tích oai hùng Phi Đoàn II Khu Trục đã đạt. Được như vậy, những hy sinh của các Phi Hổ đã vị quốc vong thân sẽ không bị quên lãng.
Cấp bậc cuối cùng của các Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn II Khu Trục từ khi thành lập tháng 12 năm 1961 tới 30 tháng 4 năm 1975:
– Đại Tá Phạm Long Sửu
– Thiếu Tướng Võ Xuân Lành
– Đại Tá Dương Thiệu Hùng
– Trung Tá Ôn Văn Tài
– Thiếu Tá Nguyễn Tấn Sĩ
– Trung Tá Bùi Thanh Khiết
– Đại Tá Thái Bá Đệ
– Đại Tá Nguyễn Văn Vượng
– Trung Tá Phạm Bình An
– Thiếu Tá Trần Văn Nghiêm
Những sĩ quan phi công thuộc Phi Đoàn II Khu Trục đã Vị Quốc Vong Thân trong các phi vụ hành quân và huấn luyện:
Vũ Khắc Huề
Nguyễn Tấn Sĩ
Võ Trương Chí
Trương Tấn Nông
Cao Minh Dõng
Nguyễn Văn Bổng
Lương Văn Thới
Trịnh Đức Tự
Nguyễn Văn Phú (A)
Nguyễn Văn Luyện
Nguyễn Du
Trần Như Hạnh
Vũ Văn Thư
Nguyễn Văn Nhàn
Trương Thoan
Tử nạn trong phi vụ hành quân phạt Bắc
Tử nạn trong phi vụ hành quân tại miền Nam Việt Nam
Tử nạn trong phi vụ hành quân tại miền Nam Việt Nam
Tử nạn trong phi vụ hành quân tại miền Nam Việt Nam
Tử nạn trong phi vụ hành quân tại miền Nam Việt Nam
Tử nạn trong phi vụ hành quân tại miền Nam Việt Nam
Tử nạn trong phi vụ hành quân tại miền Nam Việt Nam
Tử nạn trong phi vụ hành quân tại miền Nam Việt Nam
Tử nạn trong phi vụ hành quân tại miền Nam Việt Nam
Tử nạn trong phi vụ hành quân tại miền Nam Việt Nam
Tử nạn trong phi vụ hành quân tại miền Nam Việt Nam
Tử nạn trong phi vụ huấn luyện tại miền Nam Việt Nam
Tử nạn trong phi vụ huấn luyện tại miền Nam Việt Nam
Tử nạn trong phi vụ huấn luyện tại miền Nam Việt Nam
Tử nạn trong phi vụ liên lạc kỹ thuật
Những sĩ quan phi công thuộc Phi Đoàn II Khu Trục gặp tai biến trong phi vụ hành quân và được cấp cứu:
Nguyễn Quốc Đạt
– Bị bắt làm tù binh tại Bắc Việt, được trả tự do theo chương trình trao đổi tù binh khoảng năm 1972.
Dương Thiệu Hùng
Nguyễn Quốc Phiên
– Nhẩy dù sau phi vụ hành quân phạt Bắc ngày 8 tháng 2 năm 1965
– Nhẩy dù trong phi vụ hành quân đêm tại miền Nam tháng 10 năm 1963.
Phi Đoàn II Khu Trục được tuyên dương công trạng trước Quân Đội với giây biểu chương màu Anh Dũng Bội Tinh.
Phi Đoàn II Khu Trục đã cung cấp nhiều sĩ quan chỉ huy cho Không Lực Việt Nam.
Thiếu Tướng Võ Xuân Lành
Tư Lệnh Không Đoàn 23 Chiến Thuật
Tư Lệnh Phó Không Lực Việt Nam (Đã từ trần)
Đại Tá Phạm Long Sửu
Tư Lệnh Không Đoàn 41 Chiến Thuật
Tư Lệnh Không Đoàn 23 Chiến Thuật
Tham Mưu Trưởng Không Quân Việt Nam
Biệt Phái Ngoại Ngạch Bộ Giao Thông Vận Tải
Chủ Tịch Tổng Giám Đốc Công Ty Hàng Không Việt Nam
Đại Tá Dương Thiệu Hùng
Tư Lệnh Không Đoàn 23 Chiến Thuật
Tư Lệnh Không Đoàn 33 Chiến Thuật
Phụ Tá CHT Trường Chỉ Huy Tham Mưu Long Bình
Đại Tá Nguyễn Hồng Tuyền
Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 41 Yểm Cứ, Không Đoàn 41
Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Tân Sơn Nhất
Biệt Phái Ngoại Ngạch Bộ Giao Thông Vận Tải
Phụ Tá Chủ Tịch TGĐ Công Ty Hàng Không Việt Nam
Liên Đoàn Trưởng Khóa Sinh, Trung Tâm HLKQ
Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ Sóc Trăng
Chỉ Huy Trưởng Căn Cứ 60 Chiến Thuật, Phù Cát
Đại Tá Nguyễn Văn Tường
Đại Tá Thái Bá Đệ
Đại Tá Nguyễn Văn Vượng*
Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 3 Không Quân (Đã từ trần)
Không Đoàn Trưởng 41, Sư Đoàn 1 (Đã từ trần)
Không Đoàn Trưởng 51, Sư Đoàn 1
Đại Tá Đặng Duy Lạc
Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn 524 (Đã từ trần)
Không Đoàn Trưởng Không Đoàn 62, SĐ2
Đại Tá Lê Văn Thảo*
Trưởng Phòng Đặc Trách Khu Trục, Khối Hành Quân, BTLKQ
Không Đoàn Trưởng Không Đoàn 92, SĐ2
Trung Tá Ôn Văn Tài*
Tư Lệnh Phó Không Đoàn 74 Chiến Thuật
Trung Tá Bùi Thanh Khiết *
Tư Lệnh Phó Không Đoàn 41 Chiến Thuật
Sĩ Quan Liên Lạc Không Quân, Hoa Kỳ
Trưởng Phòng An Phi BTLKQ
Đại Tá Nguyễn Quang Ninh*
Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 62 Tác Chiến
Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 74 Phòng Thủ
Không Đoàn Trưởng Không Đoàn 74 Chiến Thuật
Trung Tá Nguyễn Văn Giang
Liên Đoàn Trưởng Khóa Sinh Trung Tâm Huấn Luyện KQ
Giám Đốc Trung Tâm Hành Quân Không Trợ 2/Phụ
Sĩ Quan Liên Lạc Không Quân, Hoa Kỳ
Sĩ Quan Đặc Trách Khu Trục, Khối Hành Quân, BTLKQ
Trưởng Phòng Liên Lạc Điều Không, BCHHQKQ
Giám Đốc Trung Tâm Hành Quân Không Trợ 2, QĐII
Trung Tá Lý Ngọc An *
Phụ Tá Tùy Viên Quân Lực, Tòa Đại Sứ Việt Nam, Hoa Kỳ
Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị Không Đoàn 33
Trung Tá Phạm Văn Phạm
Chỉ Huy Phó Phi Đoàn 524, Không Đoàn 62
Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn 524, Không Đoàn 62, Sư Đoàn 2
Tham Mưu Phó Hành Quân, Sư Đoàn 2
Sĩ Quan Liên Lạc Không Quân, Hoa Kỳ
Trung Tá Võ Phạm Tước*
Trung Tá Nguyễn Khắc Luyến
Trung Tá Cao Văn Khuyến
Sĩ Quan An Ninh Không Đoàn 23 Chiến Thuật
Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 23 Yểm Cứ
Sĩ Quan Kế Hoạch KĐ41, Sư Đoàn 1 (Đã từ trần)
Trung Tá Nguyễn Quốc Hưng*
Chỉ Huy Trưởng Biệt Đoàn 524, Pleiku
Sĩ Quan Liên Lạc Không Quân Hoa Kỳ
Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn 522, Không Đoàn 23 Chiến Thuật
Tư Lệnh Phó Không Đoàn 23 Chiến Thuật
Sĩ Quan Phụ Tá Phòng Đặc Trách, Khối Hành Quân, BTLKQ
Trung Tá Đàm Thượng Vũ*
Trưởng Phòng Hành Quân Phi Đoàn 522
Chỉ Huy Phó Phi Đoàn 522
Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn 522
Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn 536
Trung Tá Phạm Quang Điềm
Trưởng Phòng Hành Quân Phi Đoàn 522, KĐ 23
Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn 520, Không Đoàn 74, Sư Đoàn 4
Trung Tá Phạm Hữu Minh
Trưởng Phòng Hành Quân Phi Đoàn 514, KĐ 23
Trưởng Phòng An Ninh Phi Hành Không Đoàn 23
Tham Mưu Phó An Ninh Phi Hành, Sư Đoàn 3
Trung Tá Phạm Bình An
Trưởng Phòng Nghiên Cứu, Khối Hành Quân, BTLKQ
Thiếu Tá Nguyễn Đình Lộc
Biệt Đội Trưởng Không Ảnh RF-5, Phi Đoàn 522
Trưởng Phòng Hành Quân Phi Đoàn 536, Không Đoàn 23
Chỉ Huy Phó Phi Đoàn 540, Không Đoàn 23
Chỉ Huy Trưởng Phi Đoàn 522, Không Đoàn 23
Thiếu Tá Nguyễn Quốc Phiên
Chỉ Huy Phó Phi Đoàn 522, Không Đoàn 23
Biệt Phái Ngoại Ngạch Bộ Giao Thông Vận Tải
Phi Công Dân Sự – Hàng Không Việt Nam
Thiếu Tá Trần Bá Hợi
Chỉ Huy Trưởng Liên Đoàn 74 Tác Chiến, KĐ74CT
Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị Không Đoàn 33
Biệt Phái Ngoại Ngạch Bộ Giao Thông Vận Tải
Phi Công Dân Sự – Hàng Không Việt Nam
HAI TRÙNG HỢP NGẪU NHIÊN VÀ ĐẶC BIỆT
Phi Đoàn II Khu Trục, Phi Hổ, ra đời với hai trùng hợp vô cùng đặc biệt.
Trùng hợp ngẫu nhiên thứ nhất:
Trùng hợp thứ nhất là danh hiệu Phi Đoàn: Phi Hổ (Flying Tigers). Phi Hổ là tên của một phi đoàn khu trục được thành lập bởi Tướng Claire Chenault do sự yêu cầu của phu nhân Thống Chế Tưởng Giới Thạch. Tướng Claire Chenault là một sĩ quan thuộc Quân Đoàn Không Lực Lục Quân Hoa Kỳ (U.S. Army Air Corps) đã hồi hưu. Ông chấp nhận đề nghị của Tưởng Thống Chế phu nhân để nghiên cứu và tái tổ chức Không Lực Trung Hoa hầu có thể đối phó hữu hiệu trong trận Trung-Nhật chiến tranh thứ hai đang bùng nổ. Mùa Hè năm 1938, Tướng Chenault tới Côn Minh, thủ phủ của tỉnh Vân Nam thuộc miền Tây Trung Hoa, để điều nghiên và tổ chức một Không Lực Trung Hoa dựa theo tiêu chuẩn của Hoa Kỳ. Nhưng đầu năm 1939, Không Lực Hoàng Gia Nhật Bản đã bắt đầu oanh tạc những thị trấn đông dân trên lãnh thổ Trung Hoa, hầu triệt tiêu tiềm năng nhân sự, để Trung Hoa không còn nhân lực tổ chức kháng chiến chống Nhật.
Để kịp thời đối phó với tình hình, Tướng Chenault lập tức thành lập một phi đoàn khu trục khởi sự với những phi công Hoa Kỳ đã giải ngũ. Những phi công này gồm đủ mọi lứa tuổi, mọi thành phần và kinh nghiệm. Họ tình nguyện sang Trung Hoa để cùng Tướng Claire Chenault chiến đấu giúp Thống Chế Tưởng Giới Thạch chống với Không Quân Hoàng Gia Nhật Bản. Lúc đầu, đơn vị này được gọi là Đoàn Tình Nguyện Hoa Kỳ (American Volunteer Group). Đoàn được đặt dưới sự chỉ huy của Tướng Chenault. Mục tiêu của Đoàn là nghênh cản, bắn hạ các oanh tạc cơ Nhật Bản xâm nhập Trung Hoa và cũng để bảo vệ trục lộ huyết mạch được gọi là Burma Road nối liền Miến Điện (Rangoon) và Trùng Khánh. Trục lộ này rất quan trọng cho sự tiếp viện và sống còn của quân lực Trung Hoa. Trục lộ Burma luôn luôn bị oanh tạc cơ của Không Quân Nhật tàn phá. Đoàn Tình Nguyện Hoa Kỳ được trang bị phi cơ P-40. Những phi cơ này được Đoàn sơn hàm răng cá mập ở phía mũi phi cơ rập theo kiểu của một phi đoàn thuộc Không Quân Hoàng Gia Anh tại vùng sa mạc Lybia, trông rất dữ tợn. Sau nhiều chiến công hiển hách, tin tức và hình ảnh của Đoàn được gửi về Hoa Kỳ. Căn cứ vào hình thù của phi cơ P-40 với hàm răng cá mập dữ tợn, đã được báo chí Hoa Kỳ đặt tên là Phi Đoàn Phi Hổ (Flying Tigers Squadron). Mặc dầu được thành lập 22 năm sau Đoàn Tình Nguyện Hoa Kỳ và chiến đấu trên một chiến trường hoàn toàn khác biệt, Phi Đoàn II Khu Trục đã chiến đấu rất anh dũng, để xứng đáng mang tên Flying Tigers Squadron, nổi tiếng trong lịch sử Không Quân Thế Giới.
Trùng hợp ngẫu nhiên thứ hai:
Phi Đoàn II Khu Trục có vài đặc điểm tương tự nh? Phi Đoàn Khu Trục VMF214 thuộc Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ (U.S. Marine Corps) trong Đệ Nhị Thế Chiến trên chiến trường Thái Bình Dương.
Theo tài liệu TV Acres, Phi Đoàn Khu Trục VMF214 nguyên thủy được thành lập và huấn luyện tại Hoa Kỳ. Sau khi vị chỉ huy trưởng phi đoàn bị thiệt mạng trong một trận không chiến, tâm lý và tinh thần toàn thể phi công trong phi đoàn sa sút trầm trọng, khiến phi đoàn phải giải tán. Sau này, khi tập hợp được một số phi công khu trục mới, ngày 7 tháng 9 năm 1943, phi đoàn VMF214 được tái lập và đặt dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Gregory (Pappy) Boyington.
Phi Đoàn tân lập này trở nên nổi tiếng, vì trong 84 ngày đã thi hành 1766 phi vụ với trên 4200 giờ bay và tạo thành tích bắn hạ 48 phi cơ Zero của Không Quân Nhật Bản ngay trên không phận Nhật Bản chiếm đóng. Nhóm phi công gồm 49 người nổi tiếng này rất ồn ào, phá phách và rất nghịch ngợm, ngang tàng. Họ tự nhận là Bọn Con Hoang Bất Trị của Boyington (The Boyington’s Bastards). Nhưng Cơ Quan Giao Tế Dân Sự của Bộ Chỉ Huy Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ nhận thấy nhóm này tuy có ngỗ nghịch, ngang tàng, nhưng không vô kỷ luật nên yêu cầu báo chí và các cơ quan truyền thông cải danh Phi Đoàn này là Baa Baa Black Sheep Squadron. Xin tạm dịch (Phi Đoàn Chiên Ghẻ).
Phi công của Phi Đoàn VMF214 gọi Trung Tá Boyington, vị Chỉ Huy Trưởng của họ là “Pappy”. Pappy là một vị Chỉ Huy can trường, anh dũng và cũng là một phi công khu trục có tài, đã bắn hạ nhiều phi cơ Zero nhất trên chiến trường Thái Bình Dương. Pappy rất rộng lượng, rất thông cảm và luôn luôn che chở cho các sĩ quan thuộc cấp, nên được các phi công trong Phi Đoàn quý mến và kính trọng.
Phi Đoàn II Khu Trục khi thành lập, đã nhận một số đông phi công từ khắp các đơn vị trong Không Quân để thỏa mãn bảng cấp số dự trù cho phi đoàn. Nhóm phi công từ khắp nẽo đường đất nước thuyên chuyển về Phi Đoàn II Khu Trục đã tạo khá nhiều “sóng gió” và gây khá nhiều “điều tiếng” trong Không Quân Việt Nam thời đó. Có những người nghĩ rằng nhóm phi công này là những thành phần kiêu binh, nghịch ngợm, ngang tàng. Tuy rất ồn ào, thích trình diễn, có vẻ “ba gai”, nhưng, cũng như phi công phi đoàn VMF214 Baa Baa Black Sheep, phi công Phi Đoàn II Khu Trục không vô kỷ luật, bay bổng như điên, thi hành nhiệm vụ nghiêm chỉnh và không bao giờ lạnh cẵng! Phi Đoàn II Khu Trục là đơn vị Khu Trục đầu tiên thi hành những phi vụ yểm trợ không địa ban đêm.
Phi công Phi Đoàn II Khu Trục cũng gọi Đại Úy Chỉ Huy Trưởng Phạm Long Sửu là “Papa”. Tuy hoàn cảnh chiến đấu có khác, vì chiến trường miền Nam Việt Nam không có không chiến để “Papa” Sửu thi triển khả năng không chiến, tuy nhiên “Papa” Sửu là một phi công khu trục giỏi và can trường. “Papa” Sửu thường cùng các sĩ quan thuộc cấp tham dự nhiều cuộc hành quân trên khắp chiến trường. “Papa” Sửu cũng rất rộng lượng, rất thông cảm, hòa đồng, cương trực và luôn luôn bênh vực các sĩ quan đồng đội nên được mọi người trong Phi Đoàn quý mến và kính trọng.
Đa số phi công trong Phi Đoàn, từ Chỉ Huy Trưởng trở xuống, đều có hỗn danh do bạn hữu trong Không Quân đặt trước hoặc sau khi về Phi Đoàn:
Phạm Long Sửu
Võ Xuân Lành
Dương Thiệu Hùng
Nguyễn Hồng Tuyền
Ôn Văn Tài
Bùi Thanh Khiết
Nguyễn Tấn Sĩ
Nguyễn Quang Ninh
Trần Bá Hợi
Nguyễn Huy Cương
Nguyễn Văn Giang
Nguyễn Quốc Phiên
Phạm Văn Hòa
Lê Văn Thảo
Lý Ngọc An
Nguyễn Văn Tường
Nguyễn Hữu Bách
Trần Như Hạnh
Nguyễn Văn Vượng
Nguyễn Quốc Hưng
Hoàng Văn Khoa
Nguyễn Ngọc Tiến
Võ Trương Chí
Đặng Duy Lạc
Nguyễn Khắc Luyến
Trần Văn Bắc
Phạm Hữu Minh
Phạm Quang Điềm
Võ Kim Long
: Sửu bò
: Tư Lành Dân Vệ
: Hùng cún
: Quan hai tàu bay
: Tài bền
: Khiết già
: Sĩ cò
: Casabubu
: Tư Voi
: Cương khào
: Tư nám
: Phiên rách
: Hòa điên (Hoặc Rio Bravo)
: Thảo nâu
: An đen (Hoặc Tư mun)
: Tường mực
: Bách cụt
: Hạnh khói
: Vượng cò
: Hưng phệ
: Khoa Quasimodo
: Tiến giật
: Chí vồ
: Lạc cồn
: Tư cháp
: Bắc bựa
: Minh chè
: Hoàng thân Samsarith
: Long heo
Và có thể còn rất nhiều mà người viết không nhớ hết.
Về hình thức, nhóm sĩ quan phi công thuộc Phi Đoàn II Khu Trục, Phi Hổ, trông rất khác thường và độc đáo, so sánh với phi công đương thời của những đơn vị tác chiến khác. Có thể, vì nhóm phi công này đã được Biệt Đội Farm Gate Hoa Kỳ trang bị đặc biệt, khi họ được gửi tới Biệt Đội này, để kiểm định và huấn luyện tác xạ và oanh kích trên phi cơ T-28B. Ngoài những trang bị cấp cứu cần thiết thông thường của một phi công khu trục, họ còn đeo theo bình đựng nước, địa bàn, dao găm và đội mũ đi rừng của Lục Quân, có quấn một vòng khăn với màu sắc của phi đội trên mũ trông rất vui mắt và ngộ nghĩnh.
Chính hình ảnh những phi công trẻ trung, phong thái ngang tàng của Phi Đoàn II Khu Trục đã là một trong những động lực thu hút, lôi cuốn nhiều thanh niên trí thức tình nguyện gia nhập Không Quân thời đó. Họ đã trở thành một “biểu tượng mẫu” của trai thời loạn và những “Hiệp Sĩ Không Gian” hào hùng của Không Quân Việt Nam, được đa số phái nữ đương thời yêu thương, cảm mến.
MINH XÁC:
1. Vì người viết và những thân hữu cộng tác không nhớ rõ và không liên lạc được với quý vị sĩ quan đương sự nhắc tới trong tài liệu Phi Đoàn II Khu Trục, nên cấp bậc, chức vụ của những sĩ quan có đánh dấu sao (*) có thể không chính xác. Rất mong được sự bổ túc của quý vị để tài liệu được chính xác.
2. Đặc tính kỹ thuật và tốc độ của các loại phi cơ nêu trong bài này, được căn cứ theo tài liệu trên website do Wright Patterson AFB/Museum liệt kê. Theo kinh nghiệm của một số cựu phi công Phi Hổ, tốc độ thường du (cruising speed) và tốc độ tối đa (maximum speed) của các loại phi cơ T-28B&C, A1H và A-37 Dragonfly, trên thực tế, có thể khác với sự trình bày trên website của Wright Patterson AFB/Museum, hay tài liệu kỹ thuật của các công ty sản xuất hoặc tạp chí hàng không Jane’s. Xin xem thư trả lời của Wright Patterson AFB/Museum dưới đây:
From: Lantry Doug N Civ USAFM/MUA <mailto:Doug.Lantry@wpafb.af.mil>
To: ‘pilotphiho@verizon.net’ <mailto:’pilotphiho@verizon.net’>
Sent: Monday, August 30, 2004 11:56 AM
Subject: Cruising speed on YA-37A Dragonfly
Mr. Tran,
Thank you for your inquiry about the YA-37A. Various manufacturer’s characteristic listings and other authoritative sources for this aircraft, the production A-37A, show that Cessna variously rated the airplane’s basic or cruising speeds, depending on load and altitude, at 394 kts (453 mph), 425 mph, and 411 kts (473 mph). Jane’s All the World’s Aircraft, 1964-65, gives a speed range of 320-475 mph. 425 mph, then, seems a reasonable cruising speed for the YA-37A.
The YA-37A was equipped with much more powerful engines—J-85s downrated to 2,400lbs—than the earlier T-37A/B, which featured J-69s of 1,025 lbs thrust each. This could account for the variation in speed that you recall. The T-37B’s normal cruising speed at 35,000 ft was 360mph.
Also, in one source, the figure 275 kts (317 mph) is given in one instance as the aircraft’s *average* speed over the length of a basic mission.
Thanks again for your inquiry; I hope the information provided above proves helpful.
Best regards,
Doug Lantry
________________________________
Douglas N. Lantry
United States Air Force Museum
Research Division/MUA
1100 Spaatz Street
Wright-Patterson AFB, OH 45433-7102
CHÚ THÍCH:
[1] Tổng Thống Hoa Kỳ, Dwight D. Eisenhower, đồng ý giúp đỡ quân đội Pháp oanh tạc chung quanh Điện Biên Phủ nếu được Quốc Hội Hoa Kỳ chấp thuận và sự ủng hộ của Liên Hiệp Quốc. Tổng Thống ủy nhiệm Ngoại Trưởng John Foster Dulles và Tham Mưu Trưởng Liên Quân Hoa Kỳ, Đô Đốc Arthur B. Radford trình bày Chiến Dịch Kên Kên (Operation Vulture) với 8 Đại Diện Quốc Hội để đạt sự đồng thuận. Theo kế hoạch dự định, Chiến Dịch Kên Kên sẽ sử dụng hai trăm phi cơ từ chiến hạm Essex và Boxer trong vùng Biển Nam Hải, để oanh tạc lực lượng Việt Minh hầu cứu vãn Điện Biên Phủ khi cần thiết. Trường hợp loại bom thường (Conventional Bomb) tỏ ra không hữu hiệu, Hoa Kỳ sẽ sử dụng bom nguyên tử chiến thuật (Tactical Nuclear Bomb) để tiêu diệt lực lượng Việt Minh công hãm Điện Biên Phủ. Phó Tổng Thống Hoa Kỳ Richard M. Nixon, Ngoại Trưởng John Foster Dulles, Đô Đốc Arthur B. Radford và Thượng Nghị Sĩ Lyndon B. Johnson là những nhân vật tận tình ủng hộ Chiến Dịch Kên Kên.
(Passing the Torch, Second Volume in “The Viet Nam Experience” của tác giả Edward Doyle, Samuel Lipsman, Stephan Weiss & The Editors of Boston Publishing Company.)
[2] Căn cứ theo “bộ nhớ” đã già của người viết, những dữ kiện nêu trong phần này có thể sai, hoặc thiếu xót. Mong quý vị niên trưởng và các bạn bổ khuyết cho dữ kiện được chính xác.
[3] Phi cơ T-28B&C Trojan do Công Ty North American Aviation (NAA) chế tạo. NAA cũng là Công Ty đã chế tạo phi cơ P-51 Mustang và oanh tạc cơ Mitchell B-25. Loại phi cơ T-28B&C là hậu thân của phi cơ huấn luyện T-28A được cải biến thành phi cơ khu trục với đặc tính kỹ thuật sau:
– Động cơ Wright Cyclone R-1820 cung cấp 1424 mã lực
– Trọng lượng tối đa cất cánh 8600 lbs
– Tầm hoạt động 1060 miles
– Cao độ tối đa 37,000 ft
– Tốc độ thường du 230 mph
– Tốc độ tối đa 346 mph
– Vũ khí trang bị: 2 đại liên 50 caliber gắn dưới cánh
– Có thể mang 4 quả bom hoặc 4 ống phóng hỏa tiễn dưới cánh (tối đa 1800 lbs)
– Sải cánh 40.7 ft
– Chiều dài 32.6 ft
– Chiều cao 12.7 ft
[4] Sau khi hoàn tất tiền phi huấn (Pre-Flight Training), Sinh Viên Sĩ Quan Phi Công Việt Nam được hòa nhập vào với chương trình Sinh Viên Sĩ Quan Phi Công Hoa Kỳ (OCS) để tiếp tục phần Địa Huấn và Phi Huấn. Vì thời gian đã quá lâu, chương trình huấn luyện nêu trong tài liệu này có thể không được 100% chính xác. Thời gian này, Không Quân Hoa Kỳ dùng phi cơ T-34 hoặc T-37 cho phần huấn luyện Sơ Đẳng (Primary Pilot Training). Chương trình huấn luyện Căn Bản Phi Công (Basic Pilot Training) có thể thực hiện tại rất nhiều căn cứ khác nhau tùy thuộc vào nhu cầu đương thời và khả năng sẵn có (Availability) của Bộ Tư Lệnh Huấn Luyện Không Lực Hoa Kỳ. Do đó, Sinh Viên Sĩ Quan Phi Công có thể được huấn luyện trên phi cơ T-28A, T-37, T-33, T-38 hoặc B-25. Khi tốt nghiệp Sinh Viên Sĩ Quan Phi Công Hoa Kỳ và Việt Nam được cấp Chứng Chỉ Chuyên Môn Hàng Không (Certificate of Aeronautical Rating), Thẻ Phi Cụ Tr?ng (Instrument Rating) và cấp bực Thiếu Úy (Second Lieutenant). Khi hồi hương, Sinh Viên Sĩ Quan Việt Nam bị giáng xuống cấp Chuẩn Úy (Warrant Officer) vì sự khác biệt giữa hai quan niệm và ảnh hưởng của hai hệ thống huấn luyện Pháp và Hoa Kỳ. Tổ chức Không Quân Hoa Kỳ không có trường huấn luyện Hạ Sĩ Quan Phi Công.
Khác với tổ chức Không Quân Hoa Kỳ, Không Quân Pháp có trường đào tạo Hạ Sĩ Quan Phi Công tuyển mộ từ dân sự vào. Sau khi hoàn tất phần huấn luyện căn bản từ căn cứ Marakech, những Sinh Viên Phi Công này sẽ tiếp tục chương trình huấn luyện chuyên biệt về ngành vận tải tại căn cứ Avord, hoặc khu trục tại căn cứ Meknes và phải qua một lớp huấn luyện quân sự Cấp 1 và Cấp 2 (Peloton 1 và 2) để trở thành Hạ Sĩ Quan. Riêng những Học Viên Phi Công đã mang cấp bậc sĩ quan, khi nh?p h?c t?i căn cứ Marakech, Avord hoặc Meknes không phải học quân sự. Trường Huấn Luyện Sĩ Quan của Không Quân Pháp là École de L’Air, Salon de Provence. École de L’Air đào tạo cả hai ngành phi hành và không phi hành. Trong tài liệu này, người viết không đề cập tới École Militaire de L’Air tại Salon de Provence hoặc các trường huấn luyện sĩ quan khác tại Pháp. Phi công xuất thân từ École de L’Air, Salon de Provence cũng phải qua chương trình huấn luyện chuyên biệt về ngành vận tải tại căn cứ Avord, hoặc khu trục tại Meknes. Khi mãn khóa, phi công sẽ tốt nghiệp với cấp bậc Thiếu Úy và bằng Kỹ Sư Hàng Không.
[5] Chứng Chỉ Hàng Không Tổng Quát (Certificat de Connaisance Aéronautique Général) là một chương trình địa huấn gồm nhiều đề tài do Đại Úy Phạm Long Sửu hướng dẫn và huấn luyện để xác định phi công khu trục. Người viết đã phối kiểm với một số Cựu Phi Hổ, nhưng vì bộ nhớ đã bị quá tải và yếu kém theo thời gian, những đề tài nêu trong tài liệu này có thể không được 100% chính xác.
[6] Vào những giờ phút nguy biến của chiến trường Điện Biên, chính phủ Pháp kêu gọi sự giúp đỡ quân sự của Hoa Kỳ như đã hứa, nhưng Tổng Thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower, đã từ chối. Lý do Tổng Thống Eisenhower từ chối là vì không được sự tán thành của Ngoại Trưởng Anh Quốc, Anthony Eden, không có sự ủng hộ của các Đồng Minh và e ngại nếu đơn phương thi hành Chiến Dịch Kên Kên (Operation Vulture) có thể sẽ lôi cuốn Trung Cộng và Nga Sô vào vòng chiến.
(Operation Vulture, Ibooks, New York 2002. Tác giả John Prados)
[7] Phi cơ A-1H Skyraider do hãng Douglas chế tạo và sản xuất. Đặc tính kỹ thuật như sau:
– Động cơ Wright R-3550-26WD “Cyclone” radial cung cấp 2700 mã lực với bơm tăng nạp một tầng, hai tốc độ (Single Stage, Two-Speed Super Charger)
– Trọng lượng tối đa cất cánh 25,000 lbs
– Tầm hoạt động 2657 hải lý (Nautical Miles) với 1228 gallons xăng, tốc độ trung bình 177 hải lý trong 14.91 hrs và trọng lượng khi cất cánh 23,752 lbs
– Cao độ tối đa 24,900 ft
– Tốc độ hành quân 256 knots ở cao độ mặt biển (Sea Level) với cơ chế hành quân
– Tốc độ tối đa 271 knots ở cao độ 12,000 ft với cơ chế hành quân
– Vũ khí trang bị 4 đại bác 20mm trong hai cánh và 14 quả bom hoặc 14 ống phóng hỏa tiễn cộng 1 bình xăng phụ dưới hai cánh và bụng phi cơ. Tổng cộng tối đa 6500 lbs
[8] Phi cơ A-37A Dragonfly do Công Ty Cessna chế tạo và sản xuất. A-37A Dragonfly là hậu thân của phi cơ huấn luyện T-37 được cải biến thành phi cơ khu trục với đặc tính kỹ thuật như sau:
– Hai động cơ phản lực General Electric J85s với 2400 lbs sức đẩy mỗi động cơ
– Trọng lượng tối đa cất cánh 11,000 lbs
– Tầm hoạt động 270 miles, với 3000 lbs trang bị dưới cánh
– Tốc độ thường du 425 mph
– Tốc độ tối đa 485 mph
– Vũ khí trang bị: một đại liên GAU-2/A 7.62mm Gatling. Có thể gắn thêm súng dưới cánh. Có thể chở bom, ống phóng hỏa tiễn dưới cánh. Tối đa 3,000 lbs
[9] Xem “ Who runs Congress? ” by Mark Green with Michael Calabrese, 3rd Revised Bantam Edition, Oct 1979

Bui Ngoc Thang
713 820 1470
21226 Somerset Park Ln
Katy TX 77450

http://canhthep.com/
http://hoiquanphidung.com/

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s