“Chiến Thắng Điện Biên Phủ”, 53 Năm Xét Lại

Trần Bá Hợi

Để bảo vệ Lịch sử (In Defense of History) là tựa đề của một cuốn sách do Richard J. Evans viết năm 1997 và W. W. Norton & Company, Inc – New York xuất bản. Richard J. Evans là giáo sư Sử Học Cận Đại tại Cambridge University . Ông là tác giả của nhiều cuốn sách giá trị trong số có cuốn Death in Hamburg đã chiếm giải thưởng Wolfson Literary Award for History và nhiều giải thưởng khác. Trong cuốn Để bảo vệ Lịch sử, giáo sư Evans có nêu lên những xung đột ý kiến giữa những sử gia tên tuối trên thế giới về: Sử là gì? Giá trị lịch sử cận đại đối với hậu cận đại? Sự khủng hoảng về nhận thức luận trong việc ghi nhận lịch sử v.v.. Tựa đề cuốn sách của giáo sư Evans khiến tôi suy nghĩ về lịch sử cận đại Việt Nam .

Nhóm từ lịch sử cận đại dùng trong bài này xin được giới hạn trong 62 năm, từ năm 1945 cho tới tháng 4 năm 1975 và từ 1975 đến hiện tại 2007. Khoảng thời gian từ khi tôi còn là một thiếu niên 10 tuổi cho tới nay ở tuổi 72 và còn nhớ rõ quân đội Nhật Bản đảo chánh quân đội Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945. Đây chính là khúc quanh quan trọng mở đường cho nền độc lập của Việt Nam mà Hồ chí Minh và đảng cộng sản Đông Dương tiếm nhận. Chỉ trong 62 năm vừa qua, còn có nhiều diễn biến lịch sử quan trọng tại Việt Nam đã được nhiều học giả, sử gia trong và ngoài nước ghi chép với những quan điểm hoàn toàn mâu thuẫn, đối nghịch nhau khác hẳn những gì tôi đã được chứng kiến.

Tôi ưu tư thấy nhiều dữ kiện lịch sử cận đại Việt Nam bị bóp méo vì thiên kiến và cảm tính. Và tôi bỗng trở nên hoài nghi về tính cách vô tư cùng mức khả tín của những sự kiện lịch sử xảy ra tại quê hương từ nhiều thế kỷ trước? Là một quân nhân thuần túy, vì tò mò nghề nghiệp nên tôi muốn tìm hiểu sự xác tín về quân sử Việt Nam từ đầu thập niên 1950 cho đến tháng 4 năm 1975. Đặc biệt là những trận đánh lớn có tiếng vang quốc tế như chiến dịch Điện biên Phủ năm 1954 giữa cộng sản Việt Minh và quân đội viễn chinh Pháp và chiến dịch Hồ Chí Minh khi cộng sản Bắc việt cưỡng chiếm miền Nam (Việt Nam Cộng Hòa) năm 1975. Sau khi đọc một số sách vở, tài liệu nghiên cứu về chiến trường Điện Biên Phủ và cuốn Đại Thắng Mùa Xuân của tướng Văn Tiến Dũng viết về chiến dịch Hồ Chí Minh do nhà xuất bản Quân Đội Nhân Dân phát hành năm 1976, tôi thất vọng thấy trên lãnh vực quân sử cũng bị bóp méo và xuyên tạc. Vào tháng 3 năm 2007, tôi đã phát biểu cảm nghĩ của tôi về cái gọi là Đại Thắng Mùa Xuân của cộng sản Bắc Việt trên diễn đàn công cộng. (1)

Chiến trường Điện Biên Phủ đã được nhiều trường chỉ huy tham mưu, đại học quân sự, nhiều học giả, sử gia dân và quân sự Tây phương và Á Châu đem ra làm đề tài thảo luận và nghiên cứu. Tuy có rất nhiều tác giả Hoa Kỳ, Pháp, Trung Hoa, Việt Nam và Hòa Lan v.v. đã nghiên cứu và viết về Điện Biên Phủ nhưng sự thực vẫn còn mơ hồ và lẫn lộn. Điều này cũng dễ hiểu vì mỗi quốc gia có những tư liệu khác nhau, có sự khác biệt về phương pháp ghi nhận sử liệu vì nhu cầu chính trị đối ngoại tế nhị nên ghi chép kém trung thực. Ngoài ra những tài liệu quan trọng còn bị ràng buộc bởi những quy tắc bảo mật và giải mật tùy theo mức đô nhậy cảm của sự việc. Thêm nữa, những học giả, sử gia và những nhà nghiên cứu quân sử ngoại quốc có thể có quan điểm chính trị khác biệt, có thể vì thiên kiến nên đã có những phân tích, những nhận định thiếu vô tư và rất thiên lệch.

Tôi hiểu rằng đào sới thêm về một sự việc đã xảy ra hơn nửa thế kỷ cũng không thay đổi được những thảm họa cộng sản Việt Minh đã reo rắc trên quê hương Việt Nam suốt mấy chục năm từ Bắc vào Nam . Nhưng nếu có thêm những dữ kiện khả tín để hóa giải bớt những tuyên truyền bịp bợm, những bưng bít và phóng đại vô trách nhiệm về huyền thoại Điện Biên Phủ của cộng sản Việt Minh trong suốt mấy thập niên qua cũng là việc nên làm. Là một nhân chứng sống, một quân nhân gián tiếp tham dự vào chiến trường Điện Biên Phủ thời đó và những giai đoạn khói lửa kế tiếp tại quê hương, tôi chỉ ghi lại vài dữ kiện quân sự đã được tai nghe, mắt thấy. Do một ngẫu nhiên của số mệnh, khi còn là một tân binh Không quân Việt Nam tại Đệ Tam Quân Khu Hà Nội chờ đợi đi du học về cơ khí hàng không năm 1953, tôi được lệnh biệt phái đến Phi Đoàn Khu Trục 2/22 Languedoc của Pháp tại căn cứ Cát Bi, Hải Phòng, Bắc Việt để học việc. Phi Đoàn này là một trong mấy Phi Đoàn Khu Trục tại Bắc Việt trực tiếp yểm trợ hỏa lực cho chiến trường Điện Biên Phủ. Sau khi tốt nghiệp tại Hoa Kỳ và hồi hương, tôi xin chuyển sang ngành phi hành và trở thành phi công. Vì nhu cầu công vụ, tôi trở thành huấn luyện viên phi công quan sát và đã từng thi hành rất nhiều phi vụ quan sát và hướng dẫn khu trục. Khi cộng sản Bắc Việt gia tăng đánh phá miền Nam , nhu cầu yểm trợ không địa trở nên cấp thiết nên tôi chuyển ngành và trở thành một phi tuần trưởng khu trục. Với nhiệm vụ mới, tôi đã thi hành nhiều phi vụ oanh kích trên khắp bốn vùng chiến thuật tại miền Nam và trên lãnh thổ Bắc Việt. Với những gì đã được chứng kiến, với chút hiểu biết về hành quân không lục và với một số tài liệu liên hệ đến trận Điện Biên đã phổ biến, tôi muốn ghi lại nhận xét riêng về cái gọi là Chiến Thắng Điện Biên của Cộng sản Việt Minh ngày 7 tháng 5 năm 1954.

Khách quan nhìn lại quá khứ và phối kiểm với nhiều tài liệu mới, tôi nhận thấy tướng Navarre và tướng Giáp đều có những sai lầm quan trọng có thể đưa đến thất bại.

Tướng Henri Navarre

Được sự yểm trợ của Hoa Kỳ, tướng Navarre thảo một kế hoạch tam niên để tái lập thế chủ động chiến trường. Ông chia Đông Dương thành hai chiến trường Bắc và Nam tại vĩ tuyến 18 nhằm tiêu diệt du kích Việt Minh về phía Trung và Nam phần vào mùa Xuân 1954, và sau đó, vào mùa Xuân 1955 sẽ tập trung lực lượng để giao chiến một trận quyết định với lực lượng cộng sản tại vùng đồng bằng sông Hồng. (2) Nhưng tướng Navarre được tin tình báo về những hoạt động chuyển quân của Việt Minh vào cuối tháng 10 năm 1953. Theo kế hoạch nguyên thủy, tướng Navarre quyết định thả 6 Tiểu Đoàn Dù xuống Điện Biên Phủ, một vị trí chiến lược quan trọng trong vùng Tây Bắc, vào ngày 20 tháng 11 năm 1953. Ông tin rằng nếu kiểm soát được Điện Biên Phủ, Pháp sẽ ngăn chặn được cộng sản chiếm giữ vùng Tây Bắc để tấn công Thượng Lào và đây cũng trở nên khởi điểm để tấn công tiêu diệt lực lượng Việt Minh. (3)

Theo Journal of the Air Force Association – August 2004, Vol 87, No. 8 và The National War College Strategic Studies Report Abstract Feb 1986 cùng nhiều tài liệu khác xác nhận là tướng Navarre còn muốn dùng Điện Biên Phủ như một cái bẫy dụ Việt Minh vào một trận địa chiến (Conventional, set-piece battle) để Pháp dùng hỏa lực pháo binh hùng hậu phối hợp với Không Quân tiêu diệt Việt Minh. Tướng Navarre đã thành công về chiến thuật khi lừa được tướng Giáp vào trận địa chiến. Nhưng tướng Navarre không đạt được mục đính vì ước tính sai lầm.

Trong giai đoạn hoạch định, đa số sĩ quan Pháp nghĩ rằng cộng sản Việt Minh chưa được huấn luyện đầy đủ và chưa có khả năng sử dụng pháo binh hữu hiệu và chính xác. Trước ngày cuộc chiến khởi sự, Đại Tá Charles Piroth, Phụ Tá Pháo Binh của tướng de Castries tại Điện Biên Phủ đã từ chối nhận thêm pháo binh vì ông tin rằng với số pháo hiện hữu đã đủ để khóa miệng pháo binh địch.(4) Tướng Navarre không ngờ Trung Cộng đã gửi chuyên viên và cả đoàn cố vấn pháo thủ cùng một lực lượng pháo và hỏa tiễn hùng hậu sang chiến trường Điện Biên Phủ giúp cộng sản Việt Minh. (5) Tướng Navarre cũng chủ quan đánh giá quá cao khả năng yểm trợ không địa của lực lượng không quân chiến thuật của Pháp. Không Quân chiến thuật khả dụng cho chiến trường Điện Biên Phủ gồm có: (6)

– 1 Phi Đoàn Khu Trục 2/22 (GC 2/22 Languedoc ) đồn trú tại Căn Cứ Cát Bi, Hải Phòng.

– 1 Phi Đoàn Khu Trục 1/22 (GC 1/22 Saintogne) đồn trú tại Căn Cứ Bạch Mai, Hà Nội.

– 1 Phi Đoàn Oanh Tạc Nhẹ 1/25 (GB 1/25 Tunisie) đồn trú tại Căn Cứ Cát Bi, Hải Phòng.

Theo bảng cấp số lý thuyết của Không Quân Pháp thời đó, mỗi Phi Đoàn Khu Trục hoặc Oanh Tạc có thể được trang bị tới 24 phi cơ. Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều phi đoàn không có được số phi cơ như dự định. Hai Phi Đoàn Khu Trục 1/22 và 2/22 được trang bị loại phi cơ cánh quạt F8F Bearcat. Phi Đoàn Oanh Tạc được trang bị loại oanh tạc cơ nhẹ hai động cơ cánh quạt B-26C Invader. Phi cơ khu trục F8F Bearcat do hãng Grumman chế tạo để đáp ứng nhu cầu không chiến trong Đệ Nhị Thế Chiến. Do đó, khi dùng để yểm trợ không địa, phi cơ F8F không được hữu hiệu vì hỏa lực rất hạn chế. Khu trục F8F được trang bị 4 đai bác 20mm (hoặc 50 caliber) trong 2 cánh và chỉ mang được tối đa 2,000 cân Anh bom (2,000lbs) hoặc 4 hỏa tiễn 5 inch dưới cánh. Oanh tạc cơ B-26 là loại oanh tạc cơ nhẹ đã được sử dụng tại chiến trường Triều Tiên. B-26 được trang bị 8 đại liên 50 caliber trước mũi, 6 đại liên 50 caliber trong hai cánh, một pháo tháp trên lưng gắn 2 đại liên 50 caliber và một pháo tháp dưới bụng gắn 2 đại liên 50 caliber. Tuy là oanh tạc cơ, nhưng B-26 cũng chỉ mang được sáu ngàn cân Anh bom (6,000lbs), 4,000lbs trong hầm chứa bom và 2,000lbs dưới hai cánh. Hiển nhiên, lực lượng Không Quân chiến thuật của Pháp không đủ mạnh để hóa giải lưới phòng không của cộng sản Việt Minh đã được Trung cộng yểm trợ tối đa.

Tướng Võ Nguyên Giáp

Theo thiển ý, tướng Giáp đã sai lầm nghiêm trọng khi tập trung đại quân chính qui cùng toàn bộ chiến cụ trên những triền núi bao quanh công sự tác chiến của Pháp. Công sự này nằm trong thung lũng Điện Biên Phủ với chiều dài Bắc-Nam chừng 12 cây số và bề ngang Đông-Tây chừng 8 cây số. Nếu lực lượng trú phòng Pháp không có Không Quân yểm trợ hoặc tướng Giáp cũng có Không Quân để bảo vệ lực lượng diện địa thì tướng Giáp đã chọn được vị trí lý tưởng để tấn công địch. Nhưng trong trường hợp này, toàn bộ lực lượng của tướng Giáp được trải dài trên những triền núi cố định tương đối nhỏ, đại pháo nặng nề khó di chuyển và không có Không Quân bảo vệ ngoài lực lượng phòng không thì rất dễ bị không quân Pháp tiêu diệt.

Có thể tướng Giáp không hiểu dụng ý muốn gài bẫy của tướng Navarre, và cũng rất có thể ông biết ý đồ của tướng Navarre, nhưng muốn tương kế tựu kế tiêu diệt lực lượng đồn trú vì ông coi thường hỏa lực pháo binh và Không Quân Pháp. Lý luận này không đứng vững vì tướng Giáp không thể không biết Hoa Kỳ tài trợ 80% ngân sách chiến tranh chống cộng của Pháp tại Đông Dương. Do đó Hoa Kỳ có thể trực tiếp can thiệp bằng nhiều phương tiện bất cứ lúc nào nếu cần. Với kiến thức quân sự và khả năng tham mưu của tướng Giáp và Bộ Tham Mưu của ông, tôi không tin ông tiên liệu được Hoa Kỳ sẽ không can thiệp bằng Không Quân nếu Pháp yêu cầu. Một yếu tố khác ít được nêu lên là ảnh hưởng của tướng lãnh cố vấn Trung Cộng trong chiến dịch Điện Biên. Đa số dư luận Tây phương cho rằng tướng Giáp đơn phương chỉ huy chiến trường Điện Biên và hoặc vô tình hoặc cố ý, không đề cập vấn đề Trung cộng trực tiếp cố vấn và chỉ huy về quân sự. Chính Mao Trạch Đông rất háo hức mong Việt Minh chiến thắng lớn tại Điện Biên Phủ hầu làm bàn đạp chuẩn bị tấn công Hà Nội vào đầu năm 1955. Để thực hiện ý đồ này, ngày 3 tháng 4 năm 1954, Mao gửi thư cho Phụ Tá Quân Ủy Trung Ương Peng Dehuai, cựu Tư Lệnh Lực Lượng Trung Cộng tại Triều Tiên, cho biết Việt Minh cần tổ chức thêm hai Trung Đoàn Pháo binh và hai Trung Đoàn Công Binh nữa trong vòng sáu tháng. Nếu không đủ số pháo thặng dư để trang bị cho Việt Minh, Peng có thể dùng pháo của quân đội chính qui Trung Cộng để chuyển cho Việt Minh. Quân Ủy Trung Ương Trung Cộng cũng chỉ thị cho tướng Wei Guoping thông báo cho Việt Minh biết cứ dùng đạn pháo tự do không giới hạn và Trung Cộng sẽ tiếp tế đầy đủ cho Việt Minh để tận diệt quân trú phòng. (7)

Bộ chính trị Đảng Lao Động Việt Nam họp vào tháng 9 năm 1953 và Hồ chí Minh đồng ý với quan điểm của Trung Cộng là tập trung nỗ lực vào chiến trường Tây Bắc. Ngày 10 tháng 10 năm 1953, Ủy Ban Trung Ương đảng Cộng Sản Trung Hoa thông báo cho Ủy Ban Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam, tướng Wei Guoping sẽ được đề cử chức vụ Tướng Cố Vấn quân sự và Luo Guibo vào chức vụ tướng Cố Vấn chính trị đại diện đảng cộng sản Trung Hoa về mọi quyết định quân sự và chính trị trong tương lai. Vào cuối tháng 10 đầu tháng 11 năm 1953, tướng Wei và Bộ Chỉ Huy Tối Cao Việt Minh thảo kế hoạch hành quân mùa Đông năm 1953 và mùa Xuân 1954. Kế hoạch này sẽ tiếp tục chú trọng vào việc chiếm trọn Lai Châu vào tháng 1 năm 1954 và từ đó sẽ tấn công nhiều điểm bên Trung và Thượng Lào. Bộ Chính Trị Đảng Lao động Việt Nam đồng ý kế hoạch này ngày 3 tháng 11 năm 1953 và vào trung tuần tháng 11 di chuyển 5 Trung Đoàn hướng về Lai Châu. Khi tướng Wei được tin Pháp đã cho nhẩy dù chiếm Điện Biên Phủ, ông tham khảo với Đoàn Cố Vấn Quân Sự Trung Hoa (CMAG) và sau đó đề nghị với Quân Ủy Trung Ương để lực lượng Việt Minh khởi sự một chiến dịch bao vây Điện Biên Phủ trong khi vẫn tiến hành kế hoạch tấn công Lai Châu. Đảng cộng sản Trung Hoa rất quan tâm đến Điện Biên Phủ vì tầm quan trọng quốc tế. Sau chiến tranh Triều Tiên, cộng sản quốc tế đã tung ra chiến dịch tấn công hòa bình (peace offensive) cuối năm 1953. Ngày 26 tháng 9 năm 1953, Nga sô đề nghị với Pháp, Anh quốc và Hoa Kỳ một hội nghị ngũ cường (kể cả Trung Hoa) nhằm giảm bớt những căng thẳng quốc tế. Ngày 8 tháng 10 năm 1953, Chu Ân Lai ra thông cáo ủng hộ đề nghị của Nga sô và hai tháng sau, ngày 9 tháng 1 năm 1954, Chu xác định những căng thẳng quốc tế cần được giải quyết qua sự dàn xếp của các cường quốc. Do đó một chiến thắng ở Điện Biên Phủ sẽ giúp củng cố và nâng ưu thế thương lượng của cộng sản trong hội nghị sắp tới rất nhiều.

Có thế thượng phong về pháo binh và quân số, Việt Minh khởi sự tấn công Điện Biên Phủ ngày 13 tháng 3 năm 1954 với mưa địa pháo và tấn công biển người. Chỉ trong vài ngày, tình hình quân trú phòng trở nên nguy kịch khiến tướng Paul Ely, Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Pháp phải sang Hoa Thịnh Đốn vào ngày 20 tháng 3 năm 1954 thỉnh cầu Hoa Kỳ can thiệp.

Tại Hoa Thịnh đốn, Ngoại Trưởng John Foster Dulles, Đô Đốc Arthur W. Radford, Chủ Tịch Ủy Ban Tham Mưu Liên Quân Hoa Kỳ, cùng tướng Ely bàn thảo kế hoạch giải nguy Điện Biên Phủ. Đô Đốc Radford đề nghị Hành Quân Kên Kên (Operation Vulture) để đáp ứng nếu cần thiết. Hành quân Kên Kên do Đô Đốc Radford đề nghị gồm việc sử dụng sáu mươi (60) pháo đài bay B-29 Superfortress với 150 phi cơ khu trục thuộc Hạm Đội 7 hộ tống. (8) Pháo đài bay B-29 là loại oanh tạc cơ chiến lược hạng nặng được dùng trong phi vụ thả bom nguyên tử tại Hiroshima và Nagasaki trong Đệ Nhị Thế Chiến. B-29 có khả năng chở 20,000lbs bom và được trang bị máy nhắm thả bom (Bombsight) Norden. Máy nhắm Norden có thể giúp phi công thả bom từ cao độ sáu (6) cây số, khoảng 20 ngàn bộ, với sự chính xác trong vòng 30 thước. (9) Bay ở cao độ 20 ngàn bộ, oanh tạc cơ B-29 gần như vô hiệu hóa đại bác phòng không 37mm và 57mm của Việt Minh do Trung Cộng hoặc Nga chế tạo được đặt trên triền núi Điện Biên. Thời gian đó, Việt Minh chưa có hỏa tiễn địa không (SAM). Oanh tạc cơ B-29 cũng được biến cải thành thám thính cơ RB-29 và đã được sử dụng trong công tác thám thính rất thành công tại Triều Tiên.

Nếu Hoa Kỳ phát động Hành Quân Kên Kên, chắc chắn RB-29 phải được dùng ngày và đêm để xác định vị trí mục tiêu. Dù có tàn cây rừng che chở và được hóa trang, vị trí pháo của tướng Giáp vẫn khó qua được mắt quan sát của RB-29. Nhưng dù cho vị trí pháo binh Việt Minh không được RB-29 phát hiện, 60 oanh tạc cơ B-29 với 1,200.000lbs bom trải thảm dài trên những triền núi chung quanh Điện Biên Phủ mỗi ngày cũng đủ tiêu diệt toàn bộ lực lượng pháo binh của tướng Giáp. Nhưng Tổng Thống Hoa Kỳ Dwight D. Eisenhower đã không cho phép phát động Hành Quân Kên Kên (Operation Vulture) như đã dự trù!

Trước đó, Pháp được Hoa Kỳ cho phép sử dụng công ty Civil Air Transport dùng loại phi cơ Flying Boxcar C-119 cải biến để thả bom săng đặc (Napalm) vào vị trí pháo cộng sản trên khu vực triền núi chừng nửa dậm ngoài vòng đai phòng thủ. Dù chỉ với số lượng hạn chế bom săng đặc mà chính tướng Trần Độ sau đó đã phải xác nhận: “Cuộc oanh kích khá hữu hiệu. Dưới sức nóng của bom săng đặc, đến đá và đất cũng phải cháy.” (10)

Trong mấy thập niên qua, tướng Giáp vẫn được xưng tụng là một thiên tài quân sự, một chiến lược gia tài ba và một tướng lãnh lỗi lạc của cộng sản Bắc Việt. Ông cũng được bộ máy tuyên truyền của cộng sản ca ngợi là người đã đánh bại quân đội viễn chinh Pháp tại chiến trường Điện Biên Phủ.

Nhưng khi khách quan tìm hiểu vấn đề vào từng chi tiết, sự thực không đúng như vậy. Căn cứ vào những điều chính tướng Giáp kể lại trong nhiều hồi ức đã được xuất bản tại Việt Nam và trong buổi phỏng vấn với Phan Hoàng vào tháng 9 năm 1998, (11) ông chưa bao giờ cho biết ông được huấn luyện để trở thành sĩ quan hoặc được học hỏi về kiến thức quân sự, tham mưu và chiến thuật, chiến lược ở đâu và trường nào. Theo lời ông, giữa năm 1940, ông được Hoàng Văn Thụ thay mặt Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng viết thư giới thiệu ông và Phạm Văn Đồng sang Trung Quốc gặp Hồ Chí Minh. (12) Căn cứ vào một tài liệu của Bảo Tàng Lịch Sử Quân Sự Việt Nam , ông Giáp chính thức gia nhập Đảng cộng sản Đông Dương năm 1940 và nhập ngũ năm 1944. (13) Bốn năm sau, ông được Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 110/SL ngày 20 tháng 1 năm 1948 phong Đại Tướng Tổng Chỉ Huy Quân Đội Quốc Gia và Dân Quân Tự vệ. (14) Như vậy, ông Giáp từ một nhà giáo dân sự nhẩy lên cấp Đại Tướng với chức vụ Tổng Chỉ Huy Quân Đội Quốc Gia và Dân quân Tự Vệ trong vòng 4 năm mà không cần phải qua một lớp huấn luyện sĩ quan hoặc tham mưu nào cả! Đọc tuyển tập Phỏng Vấn Tướng Lĩnh Việt Nam của Phan Hoàng, nhà Xuất Bản Trẻ 2000, đa số tướng lãnh trong quân đội cộng sản không được huấn luyện để trở thành sĩ quan. Trong tuyển tập này, Phan Hoàng phỏng vấn 18 tướng lãnh cộng sản Việt Minh như: Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, các Thượng Tướng Hoàng Cầm, Trần Văn Trà, Nguyễn Minh Châu và Trần Nam Trung. Các Trung Tướng Đồng Văn Cống, Lê Tự Đồng, Đồng Sĩ Nguyên, Dương Cự Tẩm, Nguyễn Hữu Xuyến và Lê Văn Tri. Các Thiếu Tướng Trần Đại Nghĩa, Trần Văn Danh, Phan Khắc Hy, Tô Ký, Dũng Mã, Bùi Cát Vũ và Nguyễn Dưỡng. Trong số 18 tướng lãnh Phan Hoàng phỏng vấn, có bốn tướng tham dự trận Điện Biên Phủ. Đó là Tướng Giáp, Tư Lệnh Chiến Trường, tướng Dũng Mã, thư ký riêng của tướng Giáp kiêm Trung Đoàn Trưởng đặc phái viên Bộ Chỉ Huy Chiến Dịch, tướng Hoàng Cầm, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn Sông Lô và tướng Lê Văn Tri, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn Pháo Cao Xạ 367. Không tướng nào xác nhận đã xuất thân từ một trường đào tạo sĩ quan trước cuộc chiến Điện Biên. Đặc biệt và khôi hài nhất là tiết lộ của tướng Lê Văn Tri. Ông cho Phan Hoàng biết như sau: “Năm 1954, cấp trên điều tôi về làm Trung Đoàn Trưởng đầu tiên của Trung Đoàn Pháo Cao Xạ 367 tham gia Chiến Dịch Điện Biên Phủ. Tôi chưa từng biết cao xạ là gì và lần đầu tiên nhận trọng trách ở mặt trận đất đối không thật hết sức khó khăn. Sau chiến thắng Điện Biên, tôi được sang học Liên Sô bốn năm.” (15) Đó là lời tự thú của Trung Đoàn Trưởng Lê Văn Tri về khả năng chuyên môn của chính ông ta khi tham dự chiến dịch Điện Biên Phủ!

Cuộc phỏng vấn của Phan Hoàng trên đây đã cho thấy từ tướng Giáp đến các sĩ quan tham mưu của ông đều không được chính thức đào tạo (formal training) để trở thành sĩ quan và cấp chỉ huy. Nếu không được huấn luyện căn bản sĩ quan, không được qua những lớp huấn luyện chỉ huy tham mưu, tham mưu trung cấp, tham mưu cao cấp, cao đẳng quốc phòng v.v., làm sao chỉ huy các đại đơn vị? Không lẽ toàn thể tướng lãnh và các cấp chỉ huy của cộng sản Việt Minh đều là thiên tài quân sự nên không cần qua những thủ tục này? Cộng sản Việt Minh có thể lý luận rằng Tổng trưởng Quốc Phòng Hoa Kỳ đâu có học qua một lớp huấn luyện sĩ quan? Điều này đúng vì Hoa Kỳ là một trong số rất ít quốc gia có hệ thống tổ chức quốc phòng khác biệt. Tổng Trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ có thể là một quân nhân đã giải ngũ hoặc một dân chính hoàn toàn. Nhưng để phụ tá cho Tổng Trưởng Quốc phòng về mọi vấn đề quân sự là một Chủ tịch Ủy Ban Tham Mưu Liên Quân (Chairman of the Joint Chiefs of Staff), một sĩ quan cấp tướng giầu kinh nghiệm quân sự và tham mưu. Trong Ủy Ban này còn có một Phó Chủ tịch, một Tham Mưu Trưởng Lục Quân (Chief of Staff of the Army), một Chỉ Huy Trưởng về các Chiến Dịch Hải Quân (Chief of Naval Operations), một Tham Mưu Trưởng Không Quân ( Chief of Staff of the Air Force) và một Chỉ Huy Trưởng Thủy Quân Lục Chiến (Commandant of the Marine Corps). Chỉ có cộng sản Việt Minh mới có hiện tượng tướng tá leo ngang trèo tắt như vậy. Để tạo ưu thế chỉ huy, chính Mao Trạch Đông đã chỉ thị cho Peng Dehuai phải chọn lựa những quân nhân đã từng chiến đấu bên Triều Tiên để huấn luyện và cố vấn cho cộng sản Việt Minh. Vì thiếu căn bản tham mưu và lệ thuộc 100% vào quân viện nên tướng Giáp phải tùng phục rất nhiều vào quyết định quân sự của cố vấn Trung Cộng. Ngày 13 tháng 3 năm 1954, tướng Trung Cộng Wei Guo-qing và Li Chen-hu cố vấn tướng Giáp phát lệnh tấn công biển người như đã áp dụng trong chiến trường Triều Tiên. Chỉ trong 3 ngày, từ 13 đến 16 tháng 3 năm 1954, tướng Giáp đã nướng hết chín ngàn (9,000) quân. Hai ngàn quân sĩ (2,000) tử vong và phần còn lại bị loại khỏi vòng chiến. (16)

Nhưng có một số ký giả Hoa Kỳ coi những vấn đề như tướng lãnh chỉ huy thiếu khả năng và số lượng quân sĩ thương vong quá cao không quan trọng. Họ chỉ đặt trọng tâm vào tin tức gây xúc động, giật gân: Pháp đã bị Việt Minh đánh bại tại Điện Biên Phủ! Và không tiếc lời ca tụng tướng Giáp là một tướng lãnh tài ba, một chiến lược gia lỗi lạc và tô điểm chiến thắng Điện Biên Phủ của cộng sản Việt Minh như một kỳ tích trong quân sử.

Trên thực tế, Điện Biên Phủ thất thủ chỉ là một hậu quả của nhiều yếu tố sẵn có. Người xưa có câu: “Ba đánh một chẳng chột cũng què”. Tướng Giáp đã áp dụng phương pháp này trong chiến trường Điện Biên. Với cao trào chống thực dân thời đó và dưới chế độ độc tài, ông dễ dàng huy động một lực lượng 50,000 chiến binh và trên 200,000 dân quân hoặc lao công chiến trường để phục vụ hậu cần và có thể chiến đấu khi cần. Trong khi quân trú phòng Pháp tổng cộng chỉ có 13,000 quân vừa tác chiến vừa yểm trợ. Tỷ lệ quân số Việt Minh so với quân Pháp đông hơn từ 3 đến 5 lần. Về hỏa lực, quân trú phòng Pháp có 60 khẩu pháo các loại, 10 chiến xa và lực lượng không quân chiến thuật. Với quân viện vô giới hạn của Trung cộng, Việt Minh được trang bị 200 khẩu pháo cộng với những dàn hỏa tiễn Katyusha, (Stalin Organs) đã dùng trong chiến trường Triều Tiên rất lợi hại. Ngoài những ưu điểm về quân số và hỏa lực nêu trên, hoàn cảnh chính trị thế giới thời đó đã tạo nhiều may mắn và thuận lợi cho tướng Giáp và cộng sản Việt Minh. Tình hữu nghị đồng minh giữa Trung Cộng và cộng sản Bắc Việt rất chặt chẽ và tốt đẹp. Đặc biệt là sau khi Hoa Kỳ, Trung Cộng và Bắc Hàn ký hiệp định ngừng bắn tại Triều Tiên ngày 27 tháng 7 năm 1953, Trung Cộng dồn hết nỗ lực trực tiếp giúp đỡ chư hầu cộng sản đàn em phía Nam hết sức tận tình bất chấp dư luận thế giới. Trung Cộng và cộng sản Việt Minh đều là thể chế độc tài toàn trị nên cả hai không gặp những đối kháng trong nội bộ. Trong lúc đó, đồng minh chính của Pháp là Hoa Kỳ, một quốc gia tôn trọng nguyên tắc tự do dân chủ, nhiều khi quá độ, nên thường gặp nhiều trở ngại ngay trong nội bộ. Do đó, khi Pháp chính thức yêu cầu Hoa Kỳ phát động hành quân Kên Kên để giải nguy Điện Biên Phủ, Tổng Thống Eisenhower đã phải từ chối. Cho tới nay, lý do Tổng Thống Eisenhower từ chối vẫn không được xác định rõ rệt và có nhiều giả thuyết:

1 – Sau Thế Chiến II, chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ và Nga Sô trở nên trầm trọng. Sự căng thẳng càng thêm nặng nề khi Mao Trạch Đông chiếm trọn Trung Hoa tháng 10 năm 1949 và kết thân với Nga Sô qua Hiệp Ước Thân Hữu, Liên Minh và Hỗ Tương vào tháng 2 năm 1950. Khi Nga Sô chiếm trọn đông Âu, Cộng sản Bắc Hàn ngang nhiên tấn công Nam Triều Tiên vào ngày 25 tháng 6 năm 1950 với sự hỗ trợ tích cực trực tiếp của Trung Cộng từ quân cụ tới nhân lực đã khiến Hoa Kỳ nhìn thấy hiểm họa bành trướng của khối cộng sản đỏ. Đó là khởi điểm của chính sách phong tỏa (Containment Policy) do Giáo sư George F. Kennan, Giám đốc Kế Hoạch về Chính Sách của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ và chuyên viên về Nga Sô vụ đề xướng. Có thể Hoa Kỳ muốn trực tiếp quản lý chính sách phong tỏa tại Đông Dương nên nhân cơ hội này dùng Việt Minh để đẩy Pháp ra khỏi Đông Dương? Giả thuyết này rất hợp lý vì không lâu sau khi Việt Nam bị chia đôi tại vĩ tuyến 17, Hoa Kỳ chính thức ủng hộ miền Nam dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Ngô Đình Diệm. Hoa Kỳ khởi sự trực tiếp huấn luyện Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa. Tôi cùng một số chuyên viên thuộc Không Quân Việt Nam được gửi sang Hoa Kỳ huấn luyện vào tháng 6 năm 1955.

2 – Hoa Kỳ là quốc gia chống đối chế độ thuộc địa đã được các quốc gia Âu châu thiết lập từ thế kỷ 19. Thế chiến II chấm dứt đã giúp thúc đẩy mạnh phong trào giải thể chế độ thuộc địa trên thế giới. Hoa Kỳ trao lại độc lập cho Phi Luật Tân năm 1946. Anh quốc trả lại độc lập cho Ấn Độ năm 1947 và Palestine năm 1948. Hòa Lan cho Nam Dương độc lập năm 1949. Có thể Hoa Kỳ quyết định không muốn tiếp tục giúp Pháp tiêu diệt Việt Minh vì e ngại dư luận thế giới hiểu lầm, nhất là Anh quốc, là Hoa Kỳ tiếp tục ủng hộ cuộc chiến tranh thuộc địa của Pháp tại Đông Dương.

3 – Xin trích đoạn vài nhận xét của sử gia quá cố người Pháp Bernard B. Fall về trận Điện Biên Phủ đăng trong Time Magazine đăng trong số thứ sáu ngày 10 tháng 2 năm 1967 như sau:

“Trong những ngày ảm đạm của tháng 4 năm 1954, chỉ có một điều duy nhất có thể cứu vãn được lực lượng đồn trú: sự can thiệp của Hoa Kỳ. Sự can thiệp đó đã bị từ chối – và, theo lời của sử gia Pháp Bernard B. Fall, phần lớn do lãnh tụ phe thiểu số Thượng Viện Lyndon B. Johnson. Nếu quyết định ngả về phía thuận, ông Fall biện luận trong cuốn sách mới về Điện Biên Phủ, Hỏa Ngục ở Một Nơi Quá Nhỏ, trận đánh đã thắng, và cuộc chiến hiện tại có thể đã không xảy ra. Là một giáo sư về môn quan hệ quốc tế (International Relations) tại Đại Học Howard đã từng biết Việt Nam từ năm 1953, ông Fall cho biết, thực ra, một trận oanh tạc của Hoa Kỳ nhằm triệt hạ những dàn phòng không quanh Điện Biên Phủ đã được Ngoại Trưởng John Foster Dulles và Chủ Tịch Ủy Ban Tham Mưu Liên Quân, Đô Đốc Arthur W. Radford hậu thuẫn mạnh mẽ. Trên thực tế, bộ tham mưu quân sự Hoa Kỳ đã suy nghĩ đến việc oanh tạc bằng bom thường và bom nguyên tử và có báo cho Chính Phủ biết rằng, nếu phải can thiệp, Không Quân cần được tự do sử dụng bất cứ loại vũ khí nào thích hợp nhưng không nhận được quyết định. Dù rằng, ông Fall viết, kế hoạch đã thảo luận trước rất chi tiết là chừng 548 phi cơ Hoa Kỳ được chỉ định vào lực lượng oanh tạc. Pháp đặt mật danh cuộc hành quân là Kên Kên (Operation Vulture).

Quyết Định nghiêm trọng. Ngày 3 tháng 4 năm 1954, kế hoạch trên bị hoàn toàn bác bỏ khi Ngoại Trưởng Dulles và Đô Đốc Radford hội kiến với tám vị lãnh đạo lập pháp thỉnh cầu Quốc Hội hỗ trợ. Theo báo cáo, Johnson, một trong những nhà lập pháp, hỏi đã có bao nhiêu quốc gia được mời tham dự với Hoa Kỳ. Vì thời gian cấp bách nên không có quốc gia nào tham dự và những nhà lập pháp cho Ngoại Trưởng Dulles biết Quốc Hội sẽ không ủng hộ cuộc oanh tạc khi không có sự ủng hộ của đồng minh.

Ông Fall kết luận, sự chất vấn về đồng minh của Johnson “có vẻ là vấn đề then chốt và là trở ngại chính”. Và cứ thế, phòng không cộng sản tiếp tục tàn phá phi cơ tiếp vận Pháp, cô lập công sự phòng thủ đẫm máu. Trong vòng năm tuần lễ, Điện Biên Phủ thất thủ sau khi mười ngàn người đã chết, 8,000 quân tấn chiếm Việt Minh và 2,000 quân Pháp. Một ngày sau khi thất thủ, Pháp cầu hòa.

Ông Fall viết: “Có thể không nhận thức được, Lyndon B. Johnson, ngày 3 tháng 4 năm 1954, đã làm một quyết định nghiêm trọng tại Việt Nam.” (17)

Để kết luận, về phương diện chiến lược, Pháp và cộng sản Việt Minh đều dự kiến Điện Biên Phủ như một chiến trường tạo ưu thế cho hòa đàm. Về chiến thuật, tướng Navarre và tướng Giáp đều chủ quan tin tưởng vào mục đích hữu lý đã chọn dù cả hai bên đều phạm lỗi lầm nghiêm trọng. Về nội tình chính trị, Việt Minh có nhiều ưu thế hơn Pháp vì: 1/ Tinh thần ái quốc của toàn dân đang dâng cao tại Việt Nam . 2/ Dưới chế độ độc tài toàn trị của cộng sản Việt Minh, dân chúng không còn sự lựa chọn nào khác là cúi đầu tuân lệnh. Trong thời điểm này, tình hình chính trị rất bất lợi cho quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương vì Đảng cộng sản Pháp đang kích động phong trào chống chiến tranh Đông Dương. Cán cân hữu nghị đồng minh giữa Pháp/Hoa Kỳ và giữa Việt Minh/Trung Cộng nghiêng hẳn về phía Việt Minh. Trong khi Việt Minh được Trung Cộng quyết tâm yểm trợ từ nhân sự đến các loại vũ khí tối tân vô giới hạn thì Hoa Kỳ, đồng minh của Pháp thiếu quả quyết, lệ thuộc vào dư luận thế giới và có mưu tính nước đôi.

Hiển nhiên, chiến thắng Điện Biên Phủ của cộng sản Việt Minh không phải do tài thao lược của tướng Giáp. Tướng Giáp không có tài thao lược nhưng đã chứng tỏ khả năng siêu việt trong việc nướng quân sĩ dưới quyền không thương tiếc! Nếu tướng Giáp chỉ huy quân lực Hoa Kỳ trong chiến trường này, chắc chắn báo chí toàn quốc đã đưa tên ông lên trang nhất và “nướng” ông tận tình thay vì ca tụng ông! Và dưới áp lực chính trị đảng phái, ông đã bị triệu hồi để ra điều trần trước Quốc Hội và sẽ được về hưu sớm! Bằng chứng là trong cuộc chiến tranh chống khủng bố tại Iraq, sau bốn năm chiến đấu với số tử vong chỉ hơn ba ngàn đã khiến cho Tổng Thống, Tổng Trưởng Quốc Phòng và các tướng lãnh Hoa Kỳ thất điên bát đảo với dư luận.

California Hè 2007

Chú thích:

(1) Xem “Sự Thực về Cái Gọi Là Đại Thắng Mùa Xuân” dưới đây:

http://www.bietdongquan.com/baochi/30thang4/thangtulaive.htm

(2) China and the 1st Indochina War, 1950 – 1954 by Dr. Chen Jian. page 9.

http://groups.google.com/group/soc.culture.vietnamese/browse_thread/thread/54e908d08bb0a0fa?hl=en

(3) China and the 1st Indochina War, 1950 – 1954 by Dr. Chen Jian. page 10.

http://groups.google.com/group/soc.culture.vietnamese/browse_thread/thread/9776f43279ec88b9?hl=en

(4) The Battle of Dien Bien Phu by Jules Roy. page 175. Sau khi bị pháo binh địch áp đảo nặng nề, Đại tá Charles Piroth, phụ tá của tướng de Castries về pháo binh tại Điện Biên Phủ tỏ ra rất ân hận và tự sát bằng lựu đạn.

(5) China and the 1st Indochina War, 1950 – 1954 by Dr. Chen Jian. page 11

http://groups.google.com/group/soc.culture.vietnamese/browse_thread/thread/ac7df93c668b8fc1?hl=en

(6) Tour of Duty – Armée de l’Air and Aéronavale Squadron deployments to Indochina .

http://members.lycos.co.uk/Indochine/cefeo/air.html

(7) China and the 1st Indochina War, 1950 – 1954 by Dr. Chen Jian. page 11

http://groups.google.com/group/soc.culture.vietnamese/browse_thread/thread/ac7df93c668b8fc1?hl=en

(8) The Battle of Dien Bien Phu by Jules Roy. page 198

(9) WWII Encyclopedia – http://www.skylighters.org/encyclopedia/norden.html

(10) Journal of the Air Force Association – August 2004, Vol.87, No 8.

http://www.airforce-magazine.com/MagazineArchive/Pages/2004/August%202004/0804dien.aspx

(11) Tuyển tập Phỏng Vấn Tướng Lĩnh Việt Nam của Phan Hoàng nhà Xuất bản Trẻ tái bản năm 2000

(12) Tuyển tập Phỏng Vấn Tướng Lĩnh Việt Nam của Phan Hoàng nhà Xuất bản Trẻ tái bản năm 2000,

trang 161.

(13) Việt Nam Defence – Đại TướngVõ Nguyên Giáp

http://vndefence.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=39

(14) Việt Nam Defence – Đại TướngVõ Nguyên Giáp

http://vndefence.info/modules.php?name=News&op=viewst&sid=39

(15) Tuyển tập Phỏng Vấn Tướng Lĩnh Việt Nam của Phan Hoàng nhà Xuất bản Trẻ tái bản năm 2000,

trang 353.

(16) New Perspectives on Dien Bien Phu . Pierre Asselin, University of Hawaii , Manoa.

http://www.hawaii.edu/cseas/pubs/explore/v1n2-art2.html

(17) The War That Might Not Have Been – Time Magazine Feb 10, 1967 .

http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,840809,00.html

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s