KT* – 593 – 040412 – DN mắc kẹt vì chính sách?

Đăng lần đầu: 04.04.2012

Cảnh Thái 

       Theo: vef-vn
(Lời bình): – Đọc những bài viết của những người biết tí xíu về vận hành doanh nghiệp thì bây giờ lên mặt chỉ trích những Tiến sĩ Kinh tế giấy.
Thực chất là những người như Cảnh Thái này không có một khái niệm về KT vĩ mô, học lóm , gán ghép mỗi chỗ một chút nhưng đầy dẫy những sai phạm như “lạm phát cao là hậu quả của siết chặt tín dụng” trong khi mọi người đều biết và kết quả ngay ngày hôm nay cho thấy rằng:”để kiềm chế lạm phát cao, tín dụng phải siết chặt để giảm bớt sức đòi hỏi của thị trường, từ đó sức mua giảm dần (nhưng 3 Dũng vì thiếu kiến thức nên giải quyết bằng phương pháp búa tạ nên tất cả DN chết hết cùng một lúc)”.
Vấn đề về những người viết kinh tế thì mỗi người biết một mảng, suy diễn theo hiểu biết hạn hẹp của mình trong mãng đó, chúng ta thấy 2 mảng là mảng tiến sĩ KT giấy và mảng DN tự nghĩ mình “hiểu biết” về KT vĩ mô (bằng cách đọc những bài viết của tôi).
Những bài viết của tôi đều ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề, minh chứng vấn đề theo 2 kinh nghiệm của tôi là doanh nghiệp và lý thuyết kinh tế vĩ mô. Chính vì có sự hiểu biết thấu đáo của cả 2 lãnh vực nên bài viết của tôi không bao giờ bị chỉ trích vì thiếu hiểu biết bởi bất cứ ngành nào.
Đọc bài viết này của Cảnh Thái thấy toàn là viết lan man, không dính đâu vào đâu, nhưng cái thông điệp duy nhất là..”Đinh la Thăng thu phí để đưa vào đầu tư công là không chấp nhận được”.

Để đánh lạm phát thì phải đánh 2 mặt trận Tiền tệ và Ngân sách (Monetary and Budgetary policy) chứ không đánh tiền tệ mà bỏ ngỏ ngân sách thể hiện qua đầu tư công. Đầu tư công bị cắt giảm nên Đinh la Thăng thu phí để làm thêm đầu tư công, để tham nhũng rút ruột công trình chứ không có gì cả.

Báo như Vef-vn để những bài viết lan man như thế này sẽ làm giảm giá trị Vef-vn rất nhiều. Bài viết KT không cần nhiều, không cần ba hoa chích chòe để “khoe kiến thức hạn hẹp của mình” nhưng phải ngắn gọn, đi thẳng vào vấn đề một cách dể hiểu nhất…Rất nhiều bạn đọc nói rằng họ chỉ thích bài tôi viết, đọc phần ngắn gọn lời bình mà không cần đọc phần bài chính bên dưới mà vẫn biết thông điệp của tôi là gì, rất nhiều người nói trước khi đọc bài anh Châu, em không biết gì về kinh tế nhưng bây giờ em khôn ra. Một người thầy giỏi phải nắm vấn đề thật rõ ràng thì mới truyền đạt được rõ ràng và kinh tế là một môn rất nhàm chán, đơn giản là để hiểu một vấn đề, người đọc phải có một vốn căn bản nhỏ, đó là điều tôi làm trong 3 năm nay, đưa nhũng thí dụ nhỏ, chứng minh những nguyên tắc kinh tế nhỏ và khi bạn đọc bắt đầu có sức hiểu biết thì mới viết những bài “nặng ký” như những bài tổng hợp CXN.
Công An và quân đội có đứng ra bảo vệ 3 Dũng bất tài này nữa hay không, ngay cả Bộ Chính Trị và Trung Ương đảng nữa, có để 3 Dũng đưa cả đảng CS và 90 triệu dân VN “Xuống Hố Cả Nước” hay không. 3 Dũng có vài tỉ usd trong bank Thũy sĩ mà cô gái rượu Nguyễn thanh Phượng giữ ở Thụy Sĩ rồi, còn Bộ Chính Trị và 200 Ủy Viên Trung Ương có gì không, rồi CA và bộ đội có gì hay không ???
Cong lưng ra để bảo vệ 3 Dũng cứ ngỡ rằng “còn đảng còn mình”, ai dè 3 Dũng làm “mất đảng mất mình” luôn. Ngày đó sẽ xẩy ra trong năm 2012 này đây, ko lâu đâu, doanh nghiệp phá sản và họ biết (qua đọc bài trang này) là suy thoái sẽ là 7 năm thì 90 triệu dân sẽ hành động, Cựu chiến binh đã kêu gọi dân oan biểu tình rồi đấy, có dám đàn áp cựu chiến binh hay không ???
CP hậu CS của Chau Xuan Nguyễn sẽ không có chuyện học tập cải tạo, đó là lời hứa của tôi và Nhóm Vì Dân với Bộ Đội và cán bộ.
ĐCS không sụp nhanh năm nay mới là lạ.
Nếu người VN may mắn, đuổi được bọn cai trị và đô hộ khỏi VN thì những nhà cửa mà chúng bỏ của chạy lấy người còn rẻ nữa

Khi CP Hậu CS tiếp thu, một sự dân chủ, công bằng và minh bạch, thực sẽ đem lại lòng tin cho 90 triệu dân VN cùng thế giới tự do. Từ đó, 1 hay 2 năm sau thì kinh tế sẽ trỗi dậy và giá BĐS sẽ cao gấp mấy lần bây giờ vì tất cả VKHN đều muốn về VN sống và phục vụ.

Hiện giờ chỉ có dân đen là chịu khổ thôi, còn tư bản đỏ và cánh hẩu, vây cánh của chúng nó vẫn sung sướng.
Châu Xuân Nguyễn

Melbourne
04.04.2012

———————————————————————————–

Tác giả: CẢNH THÁI
Bài đã được xuất bản.:
(VEF.VN) – Nếu chỉ điều chỉnh chính sách tiền tệ với “lãi suất cao” hay thắt chặt tín dụng tiền tệ thì rõ ràng không phải là giải pháp căn cơ để giải quyết tận gốc căn bệnh “lạm phát cao” – mà ngược lại, đây rõ ràng là căn nguyên dẫn đến tình trạng này trong năm nay.
Một hiện tượng xã hội xuất hiện thường chưa phản ánh được hết, chưa lột tả được tổng thể bức tranh về bối cảnh xã hội đương đại. Nó có khi chỉ là “bề nổi của một tảng băng chìm”.
Nếu các chính sách công về kinh tế – xã hội chỉ đơn thuần dựa vào các “bề nổi của tảng băng chìm” này, mà không thấy hết cả “một tảng băng khổng lồ” thì sẽ dẫn tới nhiều bất cập.
Vậy cái khó là làm sao phát hiện được đâu là “bề nổi của tảng băng”, và đâu là “cả một tảng băng” hiện tượng kinh tế xã hội. Nói các khác, cần phải hiểu được đâu là nguyên nhân và cái gì là hệ quả.
Tác dụng phụ của thuốc trị “bệnh” lạm phát cao?
Trong những ngày đầu năm 2012, thông tin về tình hình doanh nghiệp Việt Nam gặp nhiều khó khăn dẫn tới phá sản hàng loạt với hơn 79 ngàn doanh nghiệp đã phá sản thì chúng ta phải hiểu là đây chỉ là “bề nổi của tảng băng chìm”, và có thể còn có hàng trăm ngàn doanh nghiệp khác đang ngắc ngoải, thoi thóp chờ đăng ký tạm ngưng hoạt động hay phá sản.
Tại sao vậy? Các doanh nghiệp Việt Nam đa phần, hoặc tới 95-99%, là doanh nghiệp vừa và nhỏ hoặc “siêu nhỏ” so với quy mô thế giới (trên thế giới, doanh nghiệp có doanh số dưới 10 triệu USD được xem là nhỏ; dưới  100 triệu USD được xem là doanh nghiệp cỡ vừa; còn ở Việt Nam các doanh nghiệp có doanh số siêu nhỏ cỡ vài trăm triệu đồng hay vài tỉ đồng là phần nhiều), do đây phần nhiều là doanh nghiệp mới, có tính chất gia đình, bạn bè, có thâm niên dưới 3-5 năm, mà theo lý thuyết thì có tới hơn 70% các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể ra đời và chết đi trong vòng 3-5 năm trong điều kiện rất bình thường của nền kinh tế – xã hội.
Gặp thời kỳ khủng hoảng kinh tế – xã hội bất thường như hiện nay thì số doanh nghiệp vừa và nhỏ lại càng dễ chết sớm hơn. Đây chính là “phần chìm của tảng băng khổng lồ” khi mà tâm lý của người Việt là vẫn còn sĩ diện khi phải tuyên bố doanh nghiệp mình phá sản. Con số doanh nghiệp thực sự gặp khó khăn phải cầm cự chưa muốn tuyên bố phá sản có thể lên tới hàng trăm ngàn doanh nghiệp.
Một trong những điểm bất thường lớn nhất của nền kinh tế ta hiện nay là “lạm phát cao” và “lãi suất cho vay rất cao” như suốt từ năm 2008 đến nay. Như vậy các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) Việt Nam đã trải qua 5 năm chịu đựng mức lãi suất vay ngân hàng cao khoảng 20%/năm – mà so sánh trên thế giới quả là một hiện tượng kinh tế xã hội rất đặc biệt (1).
Tất cả các doanh nghiệp hoạt động bằng nguồn vốn vay ngắn hạn hay dài hạn từ năm 2008 đến nay đều có nguy cơ đình trệ hoặc phá sản. Đặc biệt là các doanh nghiệp có liên quan đến đầu tư bất động sản với tỉ lệ nợ vay ngân hàng rất lớn so với vốn tự có.
Thường thì doanh nghiệp bất động sản chỉ có khoảng dưới 10% tới 30% vốn đối ứng trên tổng nguồn vốn đầu tư, trong khi phải vay tới 70-90% phần còn lại để làm dự án. Chưa kể các doanh nghiệp chỉ được thành lập lập nhờ mối quan hệ thân hữu, nguồn vốn thực sự không có nhiều. Các doanh nghiệp có tham vọng lớn, có 1 làm 10, sử dụng đòn cân nợ lớn hơn rất nhiều lần so với nguồn vốn thực sự của cổ đông và doanh nghiệp thì nay, khi phải trải qua rất nhiều năm trả lãi vay ngân hàng cao hơn 20%/năm, bao nhiêu lợi nhuận thu được trước giờ phải trả lại hết thì đuối sức, lãi vay ăn cả vào vốn tự có, phải tuyên bố phá sản là chuyện đương nhiên và có thể nhìn thấy trước.
Các doanh nghiệp không kinh doanh bất động sản mà chỉ làm trong các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác mà chịu lãi vay cao hơn 20%/năm thì cũng khó khăn rất nhiều. Để bán được 1 đồng doanh số, doanh nghiệp phải có 1 đồng đang sản xuất, 1 đồng tồn kho, và 1 đồng cho khách hàng nợ trả chậm.
Do vậy, nếu không có ưu thế kinh doanh về sản phẩm dịch vụ đặc biệt nào, doanh nghiệp phải có 2-4 đồng vốn mới có được 1 đồng doanh số. Nếu doanh nghiệp chỉ có 1 đồng vốn tự có thì phải đi vay thêm hơn 1 tới 3  đồng từ ngân hàng, tức phần nợ vay chiếm tới 100% và lên tới hơn 300% so với vốn tự có của doanh nghiệp.
Trong tình hình lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp (ROE), đặc biệt là các DNVVN thường dưới 20%/năm, thì doanh nghiệp cầm chắc thua lỗ khi vòng quay vốn chậm lại, tình trạng nợ đọng, hàng tồn kho cao, thiếu nợ dây chuyền như hiện nay.
Vậy chính sách công đưa mức lãi suất ngân hàng cho vay doanh nghiệp lên trên 20%/năm và nhìn thấy trước là DNVVN sẽ gặp khó khăn, thua lỗ kéo dài, dẫn đến phá sản cầm chắc là do đâu? Và tại sao các nhà làm chính sách công lại ra một quyết sách mà có thể nhìn thấy trước được hệ quả như vậy trong một thời gian dài?
Thế kẹt của chính sách công
Câu trả lời của các nhà điều hành chính sách công thường là do phải kiềm chế “lạm phát cao”? Nhưng tại sao lại có “lạm phát cao”? Câu trả lời của các nhà kinh tế vĩ mô trên khắp thế giới thường là do “chi tiêu công” cao không hợp lý, bội chi ngân sách so với thực thể của một nền kinh tế quốc gia.
Lãi suất cao khiến nhiều DN gặp khó khăn về vốn (ảnh minh họa)
Do vậy, nếu chỉ điều chỉnh chính sách tiền tệ với “lãi suất cao” hay thắt chặt tín dụng tiền tệ thì rõ ràng không phải là giải pháp căn cơ để giải quyết căn nguyên của căn bệnh “lạm phát cao”. Ngược lại, đây rõ ràng là căn nguyên dẫn đến tình trạng doanh nghiệp gặp khó và phá sản tăng cao bất thường trong năm nay.
Một số ý kiến của một số chuyên gia kinh tế, thường là các giảng viên đại học hoặc nhà điều hành ngân hàng, chủ ngân hàng, thường lại thiên về giải pháp thắt chặt tiền tệ. Vì những người này thường không trực tiếp sống và làm việc hay cảm nhận được nỗi thống khổ của doanh nghiệp do họ không trực tiếp làm doanh nghiệp hoặc có quyền lợi mâu thuẫn ngược lại (lãi suất cao thường có lợi cho người gửi tiền hơn là người vay tiền, hay doanh nghiệp vay tiền).
Thế kẹt của chính sách công hiện nay còn nằm ở chỗ mà nay chúng ta thường nghe nói là mâu thuẫn “lợi ích nhóm”. Quốc gia nào cũng có các “nhóm lợi ích” có quyền lợi trái ngược nhau.
Nếu lợi nhuận của doanh nghiệp suy giảm thì có khi các ngân hàng lại thu lợi lớn như báo cáo tài chính năm 2011 của một số ngân hàng lớn có lợi nhuận tăng lớn rất đột biến (các ngân hàng lớn có tiềm lực mạnh; còn các ngân hàng nhỏ thiếu tiềm lực nguồn vốn thì cũng gặp khó khăn như doanh nghiệp vì phải vay liên ngân hàng với lãi suất cao và cũng dẫn đến tình trạng ngập nợ, mất thanh khoản phải bị sát nhập hoặc phá sản).
Nếu một chính sách công vô tình hay hữu ý cổ vũ cho lợi ích của các tập đoàn tài chính ngân hàng thì phần thiệt thòi có khi thuộc về doanh nghiệp hay cá nhân người đi vay tiền từ ngân hàng. Đây cũng xem như là một sắc thuế đánh vào lợi nhuận của doanh nghiệp vay tiền. Dĩ nhiên, khi doanh nghiệp gặp khó khăn phải phá sản hàng loạt thì sau đó tới lượt ngân hàng với nhiều nợ xấu sẽ phải lãnh đủ khó khăn ở pha tiếp theo (2).
Ví dụ khác là các chính sách công về thuế trong đó có thuế thu nhập cá nhân tại các quốc gia, trong đó có Việt Nam, nếu các khoản thu ngân sách tại Việt Nam mỗi năm một tăng thêm thì việc giảm trừ cho đối tượng này đồng nghĩa với việc tăng thu ở nhóm đối tượng khác và ngược lại.
Bộ Giao thông Vận tải vừa đề xuất tăng thu thuế, phí bảo trì hay lưu thông của đối tượng là các loại phương tiện vận tải cá nhân (xe máy, xe ôtô, xe tải ..v.v…) thì vấn đề được đặt ra là số tiền thu tăng thêm này dùng để làm gì? Có kế hoạch sử dụng cụ thể nào, bao nhiêu và việc gì, mang lại lợi ích cụ thể cho đối tượng nào chưa? Nếu không sẽ tạo một tiền lệ nguy hiểm là Bộ ngành nào cũng có thể có quyền đề xuất thu thêm phí cho ngành mình mà thực chất là một sắc thuế mới đánh vào một đối tượng người dân nào đó nhằm phục vụ một lợi ích còn mơ hồ, hoặc chưa có kế hoạch rõ ràng, dẫn tới cơ hội tham nhũng trục lợi mới dựa vào nguồn thu mới này. Thử tưởng tượng là Bộ Giáo dục Đào tại muốn tăng thêm phí bảo trì  hay khấu hao cho nhà trường, Bộ Tài nguyên Môi trường tăng thêm phí bảo vệ môi trường, Bộ Văn hóa Thông tin muốn thêm tăng phí trả bản quyền và tác quyền, Bộ Công Thương muốn tăng một số phí trên hàng hóa dịch vụ như xăng, viễn thông, ..v..v. thì sẽ ra sao?
Các việc liên quan đến chính sách công có liên quan đến quốc kế dân sinh, thu chi ngân sách quốc gia là những việc quốc gia đại sự, cần có các nghiên cứu luận chứng khả thi, các tư vấn đánh giá độc lập để hiểu rõ căn nguyên vấn đề, cần thiết phải có các “trưng cầu dân ý” hay Quốc hội biểu quyết đồng tình thì mới nên làm.
Điều này giúp chúng ta có cái nhìn thấu đáo về một hiện tượng kinh tế xã hội đúng với bản chất của nó và giải pháp được đưa ra phần nào thỏa mãn nhu cầu của đại đa số người dân khắp đất nước.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s