BÀN VỀ CHỮ “TÀI” VÀ CHỮ “ĐỨC” CỦA CÁC LÃNH TỤ CỘNG SẢN

Lăng Hồ Chí Minh-Ngày Cờ Vàng Tung Bay Ở Đó Sẽ Không Xa!

Nguyễn Thu Trâm

 Không phải ngẫu nhiên mà các quốc gia Đông Phương như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam từng dùng danh hiệu Thiên Tử (天子) tức là con Trời để chỉ các vị vua chúa, bởi Vua hay Chúa dù cũng là con người trần phàm được sinh ra lớn lên như những người khác trong xã hội, nhưng trong tâm thức của người Á Đông, thì Vua Chúa là những người có “Chân Mệnh Thiên Tử”, tức là người được Trời đất ban cho sứ mệnh trị nước, chăn dân, với sự mệnh đó, Trời đã ban cho họ những ân tứ đặc biệt mà người trần phàm không thể có được, ấy là “TÀI” “ĐỨC” vẹn toàn. Thực tế hẳn không hoàn toàn đúng như vậy: Vua Chúa, ngoài một số có Tài Đức thiên bẩm, thì phần nhiều, nhờ được sinh ra trong cung đình, được thừa hưởng một nền giáo dục rất căn bản nên việc họ hiểu sâu biết rộng hơn đa số thảo dân là điều không lạ.
 
Cũng nhờ niềm tin rằng Vua Chúa là Thiên Tử, mà thần dân trong các chế độ Phong Kiến hay Quân Chủ đều nhất nhất tuân theo những chiếu chỉ do “Thiên Tử” ban ra, và cũng hiếm có những cuộc bạo loạn chống lại “Thiên Tử” bởi chẳng ai dại dột mà đi chống lại “Trời Đất” cả, trừ một số hôn quân bạo chúa. Đó là lý do tại sao các nước theo chế độ cộng sản thường hay thêu dệt nên những câu chuyện hoang đường để thần thánh hóa lãnh tụ của họ, nhào nặn lãnh tụ của họ thành “Thiên Tử” để làm cái phao cho chế độ, bởi họ hiểu rằng người dân ở các nước Đông Phương mấy ai dám chống lại nhà Trời. Chẳng hạn như ở bắc Triều Tiên, dù là một quốc gia đói nghèo, lạc hậu nhất thế giới. Nạn đói ở Bắc Triều Tiên làm chết khoảng 840,000 người trong thập niên 1990. Ngày 24-3-2011, Chương Trình Lương Thực LHQ (WFP)  tường trình rằng một phần tư (¼) dân số Bắc Triều Tiên, 6 triệu người, đang đối mặt với nạn chết đói và xin cứu trợ quốc tế khẩn cấp. Nhưng Bắc Triều Tiên vẫn tiếp tục chương trình sản xuất vũ khí hạt nhân  vô cùng tốn kém, và tất nhiên việc đó cũng dẫn tới giảm sút cứu trợ của quốc tế. 
Chưa hết, đảng cộng sản Triều tiên cũng đầu tư hàng tỷ Mỹ Kim xây dựng hơn 800 tượng đài của Kim Nhật Thành trên khắp đất nước, có những tượng cao đến 150 mét, để cho dân chúng hàng ngày đến lễ bái, vì Kim Nhật Thành là “Người Nhà Trời” được phái xuống để cứu nhân dân triều tiên khỏi họa “Tư Bản”. Rồi đến Kim Chính Nhật tức lãnh tụ Kim Jong Il, “cũng là con Nhà Trời”, dù thực tế được sinh ra trên lãnh thổ của Nga năm ngày 16-2-1941 ở làng Vyatskoye gần Khabarovsk, nơi gia đình của Kim Nhật Thành đã sang lánh nạn ở đây. Kim Chính Nhật còn được cha đặt tên Nga là Yura. Nhưng  theo văn kiện chính thức của đảng cộng sản Triều Tiên để cho dân chúng học tập thì lãnh tụ Kim Chính Nhật sinh  ra ở núi Bạch Đầu (Paekdu), nơi cấm địa của phong trào kháng chiến chống Nhật của nhân dân Triều Tiên. Kim Jong-il  được sinh ra trong một hoàn cảnh hào hùng và linh thiêng ngày 16 tháng 2 năm1942 trên đỉnh núi Peaktu. Trong ngày trọng đại đó, chim chóc hót vang rừng núi, trên trời một cầu vòng 7 màu sặc sở hiện ra, và một ngôi sao sáng chói mọc lên khi đó. Và mầu nhiệm thay, năm đó cả nước trúng mùa, dân chúng mừng rỡ vì không còn ăn bo bo như năm trước. Một huyền thoại nữa cũng rất giống với huyền thoại Hồ Chí Minh của Việt Nam đó là họ Kim đã “giảng dạy” chiến tranh du kích lúc mới lên….10 tuổi! Đây cũng là một trong những huyền thoại của gia đình họ Kim miền Bắc bịa ra để lường gạt nhân dân của họ. Cả về đạo đức của Kim Chính Nhật nữa, Bắc Triều Tiên cũng phát động phong trào học tập đạo đức Kim Jong Il, cả về đời sống gia đình nữa. 
 

Lăng Kim Nhật Thành, Mỗi Năm Tiêu Tốn 450 triệu Mỹ Kim, Phí Vận Hành

Thực tế thì sao:
 
Theo cáo buộc của nhóm Tiếng Nói Phụ Nữ Quốc Tế (A Woman’s Voice International) thì nhà nước cộng sản Bắc Triều Tiên tuyển chọn những gái đẹp tuổi từ 14 đến 25 để đưa vào Lữ đoàn phục vụ niềm vui gọi là Kippumjo, gồm 2.000 mỹ nữ,  mà thực chất là phục vụ tình dục cho lãnh tụ Kim Jong-il và các lãnh đạo cao cấp của Bắc Triều Tiên. Cũng có nhiều trường hợp phụ vụ cho các quan khách đặc biệt từ Trung Cộng sang. Đến 25 tuổi, các cô gái nầy được gả cho những cận vệ của các lãnh đạo. Cũng theo Nhóm Tiếng Nói Phụ Nữ Quốc Tế thì Vương triều Kim Jong-il có một căn cứ bí mật dưới lòng đất, nơi đó 2,000 giai nhân tuyệt sắc để phục vụ niềm vui cho lãnh tụ. Đó là lữ đoàn Kippumjo phục vụ tình dục, đấm bóp và vũ thoát y. 
 
Kippumjo được gọi bằng nhiều cái tên khác nhau như Pleasure Brigade, Joy Brigade, hoặc Joy Division.
 
Lữ đoàn hộ lý phục vụ niềm vui chia làm 3 nhóm:
 
– Nhóm phục vụ tình dục (Satisfaction Team which provides sex)
 
– Nhóm phục vụ đấm bóp (Massages Team)
 
– Nhóm vũ thoát y (Striptease)
 
Kim Chính Nhật tin rằng việc quan hệ xác thịt với các mỹ nữ sẽ kéo dài tuổi thọ cho ông. Tuy vậy, ông đã khá đoản thọ, qua đời  ngày 17 tháng 12 năm 2011, ở tuổi 70. Khi Kim Jong Il qua đời, nhiều huyền thoại mới lại tiếp tục được thêu dệt về vị lãnh tụ “vĩ đại này:  Ngày 23-12-2011, hảng tin nhà nước KCNA cho hay, trời đất nhỏ lệ trước cái chết của Kim Jong-il. Đó là:
 
– Băng vở trên cái hồ nổi tiếng gây rung trời lở đất.
 
– Trên ngọn núi linh thiêng, nơi sinh ra Kim Jong-il có ánh hào quang bí ẩn hiện ra, một dòng chữ sáng chói trên vách núi (bằng tiếng Triều Tiên) Núi Paeku, ngọn núi thiêng của cách mạng Kim Jong-il.
 
– Một con sếu Mãn Châu đứng lặng một cách đau buồn dưới chân tượng Kim Nhật Thành ở thành phố Hamhung phía bắc.
 
Thông tin nhà nước cũng cho biết là có 5 triệu người được tổ chức cho khóc tập thể để tiếc thương người chết, tiếc thương vị chủ tịch vĩnh viễn. 
 
Tất cả những điều này cũng không khác gì những huyền thoại được xây dựng về “lãnh tụ vĩ đại”, về “cha gia dân tộc” Hồ Chí Minh, người có thể nói thông viết thạo trên 30 ngoại ngữ, người biết hết tất cả  “quá khứ vị lai”. Một câu chuyện kể lại Tạ Đình Đề là tình báo của CIA được huấn luyện để theo dõi và ám sát “Bác” Hồ. Chuyện kể rằng: “Vào một ngày đẹp trời, hôm ấy “Bác” Hồ sau khi giải quyết hết công việc Người rời phòng làm việc về phòng ăn sớm hơn mọi ngày.
 
Các đồng chí cận vệ chuẩn bị bữa trưa cho bác, khi mâm cơm đã chuẩn bị xong, trước khi ngồi vào bàn “Bác” nói với một anh cận vệ:
 
– Cho “Bác”  xin thêm một cái bát và một đôi đũa nữa!
 
Mỗi lần “Bác”  dùng cơm với người này, người khác, “Bác”,  thường báo cho các cần vụ biết trước để tiện chuẩn bị, nên anh cần vụ ngạc nhiên và hỏi lại:
-Thưa “Bác”, hôm nay Bác có khách ạ?
 
Bác gật đầu và nói:
 
– Có, có chứ!
 
Mang bát đũa lên anh cần vụ còn hỏi thêm:
 
– Thưa “Bác”, khách hôm nay là ai, sao chưa tới nơi?
 
“Bác” Hồ cười và nói:
 
– Khách đã đến từ lâu rồi mà các chú không biết nên không đón tiếp mời vào đấy thôi!
Các cán bộ cần vụ ngơ ngác nhìn “Bác”, chưa hiểu ý “Bác” nói gì, nhưng mặc dù đã đem thêm bát đũa lên, mà “Bác” vẫn chưa bắt đầu ăn, thì rõ ràng là “Bác” còn đợi ai đó rồi. Mọi người lấy làm lo lắng dòm trước, ngó sau song tuyệt nhiên không thấy ai vậy mà “Bác” bảo là khách đã đến từ lâu rồi!
 
Hiểu rõ ý nghĩ và tâm trạng của các cần vụ. “Bác” Hồ quay đầu hướng mắt về phía buồng ngủ, nói lớn tiếng:
– Xin mời anh Tạ Đình Đề vào ăn cơm trưa với tôi!
 
Các chiến sĩ cận vệ ngạc nhiên vô cùng. Cái tên mới nghe lần đầu, mà theo hướng nhìn của Hồ Chí Minh thì người ấy đang có mặt ở phía buồng ngủ của “Bác”, song không phải ở trong phòng, mà là… ở trên mái nhà. Mọi người lo lắng thật sự vì cứ như thái độ, cử chỉ và lời nói của “Bác” Hồ thì quả thật có một tên Tạ Đình Đề nào đó đã lọt vào được bên trong khu vực cần bảo vệ này rồi.
 
“Bác” Hồ nhỏ nhẹ nói với các cần vụ:
 
– Người này tài tình lắm, các chú không đối phó nổi đâu.
 
Nói xong, Người quay đầu và hướng mắt về phía trên mái bếp, nói lớn tiếng:
 
– Tôi mời anh vào phòng ăn, sao anh lại chuyền sang nóc nhà bếp?
 
Giọng nói của “Bác”,  đầy trách móc, nhưng thân mật, vừa kẻ cả vừa tha thứ.
 
Theo phản xạ Cận vệ vừa rút súng ra khỏi bao, vừa chạy đến cầm ống nghe của máy điện thoại định gọi báo động, nhưng Bác đã ra hiệu gác máy, cất súng.
 
Các anh cận vệ vẫn ở trong tư thế sẵn sàng bảo vệ “Bác”, còn “Bác” Hồ vẫn bình tĩnh ngồi yên trên ghế, xoay nửa người hướng mắt về phía phòng khách, vừa nhìn xuyên qua mái đúc vách xây, vừa dõng dạc nói:
 
– Đấy, anh lại phi thân đến bên trên phòng khách rồi. Tôi thành thật khen anh giỏi! Anh đã lọt vào được rồi, ngay giữa ban ngày, và mãi cho đến phút này vẫn chưa bị lộ… quả là có tài.
 
Thế rồi như tia chớp, một “ Ninh giang” khỏe mạnh nhanh nhẹn đã bỗng nhảy xoẹt một cái từ trên mái lầu xuống sân, rồi lẹ làng phóng ngay vào trong phòng khách, xông tuốt vào trong phòng ăn, đứng ngay trước mặt “Bác” Hồ . Sau giây phút yên lặng nhìn nhau, “Bác” Hồ lên tiếng trước:
 
 
– Chào anh Tạ Đình Đề! Trông anh già dặn hơn trước nhiều, song có phần gầy, đen hơn lúc mới ra trường!
 
Vị khách, trong bộ đồng phục giống như một môn phái võ nghiêng đầu đáp lễ và nói: “thưa Bác nếu tôi muốn, thì dù “Bác” có báo động và huy động toàn bộ lực lượng bảo vệ để truy bắt tôi, nhưng tôi vẫn có thể thoát khỏi nơi đây như thường được”…
Bác Hồ đứng dậy, tiến đến vị khách không mời chìa tay thân thiện nhìn với ánh mắt thật tươi. “Bác” chỉ ghế, mời Tạ Đình Đề ngồi xuống bên bàn ăn.
 
Tạ Đình Đề vẫn đứng thẳng người, chắp hai tay trước bụng, lễ phép nói:
 
– Thưa “Bác”, trước hết tôi xin bày tỏ lòng khâm phục của tôi đối với “Bác”. Thú thật, đứng trước mặt “Bác”, tôi linh cảm có một sức mạnh vô hình thúc đẩy tôi phải đổi hẳn từ thế thù nghịch sang niềm kính yêu. Vậy, tôi quyết định chấm dứt công tác của địch giao cho, và xin đặt mình dưới quyền sử dụng của “Bác” kể từ hôm nay.
 
“Bác” Hồ tay tay lên vai Tạ Đình Đề như một cử chỉ thân thiện.
 
– Tôi hiểu, tôi tin anh, và tôi đồng ý nhận anh.
Tạ Đình Đề rút trong người ra một khẩu súng lục có gắn một ống giảm thanh, tháo những viên đạn có đầu sơn đỏ ra, cùng với một ống nhòm, một bản đồ Dinh Chủ Tịch, một số giấy tờ tùy thân được làm giả v.v… trao cho nhân viên cận vệ . Xong đâu đấy Tạ Đình Đề móc từ trong kẽ răng ra một viên thuốc độc dành cho mình trong trường hợp bại lộ đặt lên thành mâm cơm trên bàn ăn.
 
Từ một nhân viên tình báo của CIA được phái  đi ám sát lãnh tụ, trở thành người bảo vệ trung thành của “Bác”… Và nhiều lần ông đã chứng tỏ tài năng xuất chúng của mình trong việc bảo vệ “cha già dân tộc”. Một chuyện kể rằng hồi Bác Hồ sang Trung Quốc, phía lãnh đạo “Nước Lạ” phái một nữ tiếp tân, sắc nước hương trời mời Bác hút thuốc lá. Bác vừa ngậm điếu thuốc trên môi thì ông Tạ Đình Đề đứng bảo vệ Bác rút súng lục bắn “oành” một phát trúng điếu thuốc rơi xuống,? Hóa ra là “nước Lạ” đã mưu sát bác bằng cách tẩm thuốc độc vào điếu thuốc lá và dung mỹ nhân kế để dụ “Bác” vào bẫy, nhưng tất cả đều không lọt được qua mắt của bảo vệ Tạ Đình Đề.
 
Một giai thoại khác không kém phần “gay cấn” là vụ nổ súng ngay tại sân khấu khiến cho khán trường ngơ ngác. Số là có lần đi dự một buổi trình diễn ca múa tạp kỷ  đặc biệt dành riêng cho “Bác”  và các ủy viên bộ chính trị, khi ca sỹ chưa kịp nói lời chào khán giả thì Tạ Đình Đề đứng dậy, rút súng bắn diễn viên chết ngay. Khi khám xét tử thi, người ta phát hiện ra một cục thạch anh và một khẩu súng nhỏ xíu được cất giấu trong người. Hoá ra, đó là một nữ điệp viên của CIA được huấn luyện để nhân cơ hội vào hát xướng phục vụ lãnh tụ mà ám sát Bác… Những câu chuyện như thế được truyền tụng khắp miền bắc XHCN, từ những thợ cát tóc đến những bà hàng chè chén, đều tranh thủ kể cho khách nghe, như là một chính sách tuyên truyền của đảng và nhà nước, đến nỗi hầu như tất cả đồng bào miền Bắc đều thuộc lòng những câu chuyện đó, và tất nhiên mỗi khi kể lại, người ta lại thêm thắt, lại cường điệu, để hình ảnh của “Bác”, của “vị cha già dân tộc” càng ngày càng trở nên huyền hoặc hơn. 
 
Ngay cả trong giới trí thức miền Bắc, mà chủ yếu là các giáo sư, phó giáo sư của các trường đại học ở Hà Nội và các tỉnh thành khác của miền Bắc đều truyền tụng cùng một nội dung để khẳng định “Bác” là “người Nhà Trời”, rằng “Bác” không phải là người trần phàm, mà đích thị là người “cõi trên” xuống:  “Có lần cấp trên báo xuống là hôm đó “Bác” đến trường nói chuyện, thầy trò cả trường chúng tôi trang trí hội trường rất trang nghiêm và tổ chức đón tiếp. Chúng tôi xếp hàng đôi từ Hội trường ra đến cổng chờ đợi để phất cờ vẫy hoa đón “Bác”, khi đoàn ô-tô vào cổng, qua khỏi đoàn sinh viên, dừng lại gần chổ của các thầy cô giáo chúng tôi đang đứng ngóng, đoàn khách ra khỏi ô tô, chúng tôi ai cũng nô nức, cố rướng cao người lên để mong được nhìn thấy “Bác”. Đang thất vọng, khi không thấy “Bác” đâu giữa đoàn khách, thì nghe tiếng trong hội trường vang lên, “Bác” đã ở trong hội trường rồi, mời các cô các chú vào đi… Cuối buổi nói chuyện của “Bác”, nhiều giáo sư, phó giáo sư và các thầy cô giáo chúng tôi cũng xếp hàng sẳn ở cửa từ hội trường ra đến ô tô, để mong được một lần đứng gần “Bác” và tặng hoa cho “Bác”, nhưng khi “Bác” vừa nói lời chào các cô các chú, thì chúng tôi nhìn lên khán đài và ông cụ đã biến mất. Chúng tôi đang hoang mang thì có điện thoại từ phủ chủ tịch gọi đến báo tin “Ông Cụ” đã về đến phủ bình an”. Tất nhiên, đó chỉ là cách tuyên truyền của chế độ cộng sản, và ở một chừng mực nào đó, chúng ta cũng phải khách quan mà nhìn nhận rằng cộng sản quá giỏi trong chính sách tuyên truyền, để xuyên thủng cả đầu óc của tầng lớp trí thức miền bắc suốt cả một thời gian dài, họ giỏi đến độ làm cho con người ta tin đến mức mê cuồng rằng chế độ cộng sản là tốt đẹp, rằng  “Chủ nghĩa cộng sản sẽ là giai đoạn cuối cùng của xã hội loài người, là một xã hội không có giai cấp, không có nhà nước và không có áp bức, mà trong đó các quyết định về việc sản xuất cái gì và theo đuổi những chính sách gì được lựa chọn một cách dân chủ, cho phép mọi thành viên của xã hội tham gia vào quá trình quyết định ở cả hai mặt chính trị và kinh tế. Việc sản xuất và phân phối của cải được tiến hành công bằng giữa các công dân”. Qua đó họ đã bị nhồi sọ để tin một cách mù quáng, mê cuồng rằng Hồ Chí Minh và một vĩ nhân, một “người Nhà Trời” tài đức vẹn toàn, để rồi cũng như tình cảnh của nhân dân Bắc Triều Tiên, 25 phần trăm người Bắc Triều Tiên đang đối diện với nguy cơ chết đói, kể cả quân đội là lực lượng ưu tiên nhất về lương thực thực phẩm, cũng đang đói ăn nghiêm trọng, trong khi nhà cầm quyền cộng sản Triều Tiên vẫn theo đuổi vũ chương trình sản xuất khí hạt nhân và vẫn vận hành lăng của Kim Nhật Thành vô cùng tốn kém, với chi phí khoảng 450 triệu Mỹ Kim mỗi năm, thì ở Việt Nam, hàng trăm tượng đài của Hồ Chí Minh cũng được xây dựng trên khắp cả nước, trong đó khu tượng đài ở quảng trường Hồ Chí Minh ở trung tâm thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An, mỗi năm cũng ngốn 50 triệu Mỹ kim tiền vận hành và bảo trì, rồi khu lăng mộ và đền thờ anh chị em ruột của của Hồ Chí Minh đang xây dựng ở Nam Đàn, Nghệ An, với kinh phí 11,000 tỷ đồng, và kinh phí vận hành sau khi hoàn tất cũng lên đến khoảng 50 triệu Mỹ kim mỗi năm với 300 triệu Mỹ kim bảo quản thi hài Hồ Chí Minh, bảo vệ và vận hành lăng của Hồ Chí Minh mỗi năm, có nghĩa là đồng bào Việt Nam qua nguồn thuế, phải đóng mồ hôi, nước mắt và cả xương máu của mình vì cái xác chết của “cha già dân tộc”, của “người Nhà Trời” đã hy sinh cả đời không vợ không con, vì dân vì nước. Trong khi khoảng 30 phần trăm người dân Việt Nam cũng đang sống trong đói nghèo thường xuyên thiếu ăn thiếu mặc. Và ngày Hồ Chí Minh qua đời ngày 02 tháng 9 năm 1969 đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam cũng tổ chức cho cả miền Bắc khóc thương tiếc “cha già dân tộc”, một con liu điu, con trai của một hoang thai một cuộc tình vụng trộm giữa dâm nữ Hà Thị Hy và một ông cử nhân dâm đảng của xứ Nghệ Hồ Sỹ Tạo, để đến nổi vị “Cha gia dân tộc” có cả một thời thiếu niên hoang đàng chi địa, bị đuổi học phải đi bụi đời từ tuổi 13, trưởng thành với những thói gian hồ thảo khấu, vì quyền lợi của cá nhân mà không từ bất cứ một thủ đoạn gian ác nào: Thủ tiêu đồng chí, đồng lieu, hành quyết ân nhân của cuộc kháng chiến, thủ tiêu cả người vợ hiền đầu gối tay ấp, chối bỏ cả con thơ, để giữ tròn hư danh “Cha già dân tộc”, bởi nếu để cho nhân dân biết mình có cả bầy đàn vợ con như thế, hóa ra Hồ phải can tội loạn luân, bác lấy cháu, cha già lấy con trẻ, sao nên? Dĩ nhiên, nhiều nhân sỹ, trí thức ở Hà Nội ở miền Bắc hiện nay đã hiểu rỏ bản chất của chế độ cộng sản, cũng như bộ mặt thật của Hồ Chí Minh, nhưng vì bát cơm manh áo, vì sự an nguy của bản thân và gia đình mà họ phải im lặng, cúi đầu để được an phận.
 
Cũng vậy, các lãnh đạo của đảng và nhà nước cộng sản Việt Nam hiện nay cũng “tài” cũng “đức” không kém gì “cha già dân tộc”, thậm chí còn phát huy hơn nữa những tội ác với đồng bào yêu nước và với cả hành vi dâng bán đất đai, biển đảo cho ngoại bang. Nếu trước đây Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng chỉ ký công hàm, dâng biển đảo cho Tàu cộng, thì ngày nay Nguyễn Tấn Dũng và đồng sự của Dũng trong bộ chính trị dâng bán cả rừng núi phía bắc, cả đất Tây Nguyên, cả Ải Nam Quan, cả Thác Bản Giốc, cả Bãi Tục Lãm và còn tống ngục cả những người dân yêu nước, dám biểu tình chống lại sự xâm lược của Bắc Phương. Tất nhiên, nhiều nhân sỹ trí thức hiện nay đã nhận ra được điều ô nhục bị bè lũ vô học từ bưng biền rừng rú về cưỡi cổ đè đầu. Nhiều kẻ sỹ của Việt Nam ngày nay đã biết bỉu môi, chề miệng khinh bỉ trước sự ngu dốt vô học của giới lãnh đạo cộng sản rồi, và cũng đã có không ít những đảng viên cộng sản, là những trí thức cấp tiến, đã thể hiện lòng tự trọng của một kẻ sỹ, đã mạnh dạn trả lại thẻ đảng viên, xin bước ra khỏi đảng: Một đại tá quân đội, ông Phạm Đình Trọng đã xin ra khỏi đảng, đã tuyên bố đốt thẻ đảng để bày tỏ sự nuối tiếc cho một sai lầm quá lớn là ông đã trót đi theo đảng mấy mươi năm. Nhiều đảng viên có lòng tự trọng có liêm sỷ cũng lần lượt trả lại thẻ đảng, rời khỏi tổ chức ô nhục này bởi họ gần đây họ đã nhận ra bản chất của chế độ cộng sản cũng như bộ mặt thật của các lãnh tụ cộng sản cũng những dối gian và những tội ác của chúng. Chắc chắn trong một thời gian không xa nữa, giới đảng viên là trí thức cũng mạnh dạn quay lung lại với đảng, khi họ nhận ra họ đang tôn thờ những con người lưu manh gian ác, họ đang tôn thờ một chủ nghĩa phi thực, chỉ đem lại đau thương, chết choc cho nhân loại, đem lại đói nghèo cơ lại cho dân tộc, đem lại cảnh hoang tàn đổ nát và ly loạn cho quê hương, bởi hơn ai hết, những trí thức đảng viên đó sẽ nhân ra những kẻ đang ngồi trên đầu trên cổ họ chẳng phải là những “thiên tử” mà thực ra chỉ là một bọn lưu manh, thảo khấu, vô học và gian ác. 
 
Để kết thúc cho bài tâm bút này, tôi xin phép nhà văn Chu Tất Tiến trích đăng lại thư ngỏ của ông gởi Nguyễn Tấn Dũng, nguyên một y tá R, hiện là Thủ Tướng chính phủ nước Việt Nam cộng sản, với trình độ văn hóa lớp 3 trường làng mà đang ngồi trên đầu trên cổ của cả 96 triệu dân, mà không ít là nhân sỹ trí thức:
 
THƯ NGỎ CỦA NHÀ VĂN CHU TẤT TIẾN GỬI THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG,

Lời đầu tiên là một điều minh xác
Thư này được viết với tư cách một công dân
Sinh đẻ tại Việt Nam, lớn lên và lập thân
Rồi đi xa, nhưng vẫn nhớ quê hương ngào nghẹn
Tôi không gửi thư đến ông như một người kiếm chuyện
Làm quen ông, một chức vụ lẫy lừng
Ðể sau này, có cơ hội tưng bừng
Về đất nước, bon chen, kiếm chút cháo
Tôi cũng không phải là người táo bạo
Tìm cách gần ông, một triệu phú giầu nhất vùng
Nhất Việt Nam, nhất Ðông Á, tài sản nhiều vô cùng
Nếu được ông cho một chút lẻ, cũng tiêu hoài không hết
Những biệt thự Hồ Tây, những công ty hàng may, hàng dệt
Những cổ phần con cháu đứng tên giùm
Vợ lớn, bồ nhí, hộ lý,cần vụ, từng chùm
Một cái chỉ tay, người người cúc cung, tận tụy
Những trương mục rải khắp nơi, Mỹ, Tây, Thụy Sĩ
Tiền cứ vô nhà như thác chẩy vào hồ
Từ hồi 75, khi hành chính còn xô bồ
Ðảng đổi tiền, đánh tư sản, cướp tiền dân, bỏ túi
Cả miền Nam, vài chục tỷ đô la, bỗng nhiên, chia dấm dúi
Cho vài chục lãnh đạo, thử hỏi ai chẳng giầu to
Rồi độc quyền thương gia, xí nghiệp, buôn bán vô bờ
Ký một tờ giấy, là tiền vô như nước
Chị Ba nắm vùng này, anh Sáu vùng kia hưởng phước
Có Công An, còng số 8 , súng Aka
Ðứa nào ho he, cứ “nhốt chúng cho ta!”
Còn “đồng chí”  thích biệt thự nào, cứ lấy
Trước là làm Trụ sở, sau thì ký giấy
Hóa giá nhà, cho làm chủ khơi khơi
Chưa kể mười sáu tấn vàng, của Trời ơi!
Chia chác cho nhau,không  hề vô Sổ
Các đồng chí vợ lớn, vợ bé tha hồ kêu khổ
Ðếm vàng mỏi tay, mắt nhức, lưng đau
Thế là  tài sản đất nước biến mất đâu đâu
Một chốc bốc hơi, nước thì nghèo, Ðảng thì giầu bự
Thôi, nhưng mà, nói làm chi chuyện cũ
Ba mươi mấy năm rồi, gợi lại, nước mắt nhòa
Tôi chỉ muốn hỏi ông chuyện hiện tại, không xa
Vài câu hỏi, khi ông đến nước Mỹ…

Có bao giờ ông nhớ lại thời chống Mỹ
Những mẹ già nhịn đói, nuôi ông
Những người thôn quê, giúp ông vót hầm chông
Củ sắn, củ khoai chia cho ông một nửa
Ông nịnh họ là Mẹ Cách Mạng, Mẹ Chiến Sĩ, Mẹ… gì nữa?
Giờ đây, ông huy hoàng, họ vẫn cứ long đong
Vách lều năm xưa, vẫn rách nát, từ Xuân đến Ðông
Mưa vẫn dột, gió vẫn lùa, lạnh giá
Họ chỉ có chút đất ruộng, chút vườn xưa hương hỏa
Mà Ðảng ông lại nỡ trưng thâu
Không một chút gì ơn trả cho nhau
Lại táng tận tịch thu, đuổi cổ
Mẹ Chiến Sĩ năm xưa, giờ này, đang khóc khổ
Ðứng ngoài đường, làm một lũ “DÂN OAN”
Ông ngồi xe láng đi qua, còi hú vang vang
Không nhìn thấy nước mắt mẹ già ướt phố!

Những chiếc áo rách kia, ở nhà ông, chó không thèm rớ!
Ðầy tớ ông, toàn vải ngoại, hàng sang
Những chiếc nón lá kia của lũ “DÂN OAN”
Không bao giờ thấy trong cầu tiêu ông Tỷ Phú
Ông Thủ Tướng ơi! Ðảng ông quá giầu, còn tham chi nữa?
Ông chỉ có hai tay, một cái miệng, một bụng to
Ăn đồ ngon bao nhiêu, cũng chỉ đến lúc no
Sao lại để NHÂN DÂN, “NGƯỜI CHỦ ÐẤT NƯỚC” chết đói?
Có lẽ  các ông chỉ thích xài danh từ le lói
Ủy Ban Nhân Dân, Thư Viện Nhân Dân, Quân Ðội Nhân Dân
Trung với Ðảng, Hiếu với Dân, Ðầy Tớ Nhân Dân…
Mà thực chất, chỉ những Nhân Dân ấy khiếu kiện
Vậy xin ông “Ðầy Tớ Nhân Dân” ấy, làm ơn mở lòng từ thiện
Trả lại cho Nhân Dân ruộng đất cắm cái dùi
Một tấc đất thôi, để mưa nắng khỏi dập vùi
Già sắp chết rồi, mong có chỗ trú mưa cho con cháu
Mấy tấm huy chương, ngày xưa, Ðảng cho, là của báu
Giờ xin hoàn lại ông, để đổi lấy chỗ nằm
Có mấy mét vuông, chỉ nhỉnh hơn cái hầm
Hồi đó, Mẹ đào gẫy tay cho các ông ẩn náu… 

****
Thưa Ông Thủ Tướng, ông đông bồ nhí, lắm con, nhiều cháu
Có khi nào ông nghĩ chúng đứng đường
Mặc quần lòe, áo hở ngực, kệ phong sương
Chụp giật khách qua đường, bán xác
Những đứa bé mới lớn lên, mặt còn ngơ ngác:
“Chú chơi con đi! Con hãy còn trinh!
Miễn sao cho mẹ con, khỏi phải bán máu mình
Có mấy lít máu, bán hoài cũng chết
Em con, đang rửa bao ny lông đựng chuột chết
Ðựng bao cao su, máu mủ, băng vệ sinh
Ðôi khi đựng cả chân tay người thúi sình
Ruột gan, cơ phận người, bệnh viện vất ra đống rác
Chú ơi! Cả đời con chả biết gì, ngoài rác
Ðẻ trên đống rác, và lớn cũng ở đây
Mười mấy năm rồi, con mới bỏ que sắt cầm tay
Ði bán “của trời cho”, mong bữa cơm thay cháo…”
Những em gái khác, con cán bộ, lại là dân chơi bạo
Dư bạc tiền, nên hút, chích, lắc như điên
Thích ngủ lang mà không phải vì tiền
Bố mẹ chúng, Giám Ðốc, Bộ Trưởng, quyền uy kinh khiếp
Chúng tha hồ chơi, đứa nào dám ăn hiếp?
Cả họ phải rũ tù, mang chục án làm gương.
Cho nên, cả thành phố, về đêm, đầy gái đứng đường
Ông có thấy nhục không, ông Nguyễn Tấn Dũng?
****
Hò ơ!
Dân tộc ta bốn ngàn năm anh dũng
Từ Văn Lang, Trưng, Triệu, Lam Sơn
Giờ đây, thần khóc, quỷ hờn
Giang Sơn một dải chập chờn thương đau
Hồn sông, hồn núi âu sầu
Tương lai đất nước dãi dầu, mông lung
Nếu ông rời đô thành, đến cao nguyên, thung lũng
Ðâu đâu cũng có nghề làm gái không biên cương
Phủ Lý, Lạng Sơn, Bắc Cạn, Hải Dương…
Những địa danh thơ mộng giờ thành ổ đĩ
Một khi con người đói quá, thì không cần suy nghĩ
Có chi bán nấy, giật dọc qua ngày.
Chân Cửu Vạn, tay xe thồ, lưng không bao giờ thẳng ngay
Vì khiêng vác, gái trai, ông già, bà lão
Có những làng, cả ba đời vác gạo
Vượt đồn canh, biên giới, suối khe
Những thân người gầy yếu như cây tre
Chỉ xương cốt, gân xanh, gân đỏ
Có những làng chỉ nghe đàn bà thở
Vì đàn ông chết ráo đâu rồi
Ðào vàng, đi ăn mày, tìm trầm, chết dưới vực khơi
Nên đêm tối, tiếng thở dài như bão nổi
Những cô gái chỉ mong một đời có lần trao đổi
Tấm băng trinh lấy chút vị yêu đương
Trong thế giới chửi thề, lên chiếu, xuống giường
Sống như trâu chó, lấy chi mà mơ mộng!
        *****
Ông Thủ Tướng ơi! Có bao giờ ông thấy lòng bỗng động?
Khi nhìn hình lũ con gái thơ ngây
Ðứng trần truồng hàng lũ, dạn dầy
Ðể lũ vượn ngoại bang sờ sớ, nắn nắn
Thè lưỡi, chu môi, cho chúng mua mua, bán bán
Gái cần đi ngoại quốc, mong có tấm chồng Hàn
Hay Ðài Loan, Singapore, các nước lân bang
Một chồng, hay chục chồng, vợ lớn hay vợ lẽ
Nô lệ tình dục ư? Miễn sao no lòng thì mặc kệ
Ðứng trong lồng gương, lên Yahoo rao bán, ôi.. mặc thây!
Chính ông Chủ Tịch nước cũng mới vừa đây
Dụ Việt kiều về nước, nói “gái quê nhà đẹp lắm!”
Không biết ông nghĩ sao, chứ chúng tôi nhục lắm!
Nhục cả ba bốn đời, nhục Quốc Tổ, nhục tông môn
Khi con người chỉ còn nghĩ đến bán trôn
Nuôi cái miệng, còn chi là danh dự?
Bốn ngàn năm văn hiến, ngời ngời lịch sử
Chống Bắc Phương, Thanh, Tống, Nguyên, Mông
Dũng sĩ trời Nam hiển lộng thần thông
Ðánh cho chúng tơi bời cây cỏ
“Ðánh cho sử tri Nam Quốc Anh Hùng chi hữu chủ” (1)
Lời Nguyễn Huệ xưa còn lồng lộng không gian
Vậy mà, giờ đây, ông đã dâng Ải Nam Quan
Nộp Thác Bản Giốc cho đàn anh hưởng dụng
Chỉ để cho các ông tung hoàng, dung túng
Lũ công an bắt bớ, dầy vò
Các cựu đảng viên, nhà phản kháng, bác sĩ, nhà văn, nhà thơ
Linh mục, luật sư, Thượng Tọa, Ðại Ðức
Chỉ vì họ dám hy sinh sức lực
Ðể nói lên tiếng nói tự lương tâm
Chống đối bất công, chống tham nhũng, bọn vô tâm
Cướp đất, cướp nhà, hành dân hơn trộm cắp…
****
Ông Dũng ơi! Có bao giờ ông trả lời những câu hỏi đầy ắp:
Tại sao đất nước ta, Người bóc lột Người?
Karl Marx ngày xưa chống nô lệ người
Ăng Gen viết: “Người công nhân phải làm chủ!”(2)
Giờ đây, người lao động sống như trong cũi chó
Không thuốc men, không bảo hiểm, sống liều
Trong “Phố Liều”, “Phường Liều”, hay “Xóm Liều” (3)
Những chỗ đất hoang, nặc nồng hôi thối
Có khác nào phu mỏ than sống đời tăm tối
Bên nước Anh, nước Pháp thời xa xưa
Nơi Karl Marx tiên đoán cách mạng sẽ nổ ra (4)
Ðể thực tế, nước ta, hiện nay là vậy đó!
Mấy mươi năm trước :”Nhà văn An Nam khổ như chó!”(5)
Mấy mươi năm sau, hàng chục triệu dân cực hơn trâu
Trừ đi chục triệu dựa vào Ðảng, sống trên cổ trên đầu
Dân Việt còn lại, kiếp ngựa trâu, khốn nạn
Các ông đánh bạc, chơi ngông hàng trăm vạn
Tiền đô như tiền lèo, khi lao động chỉ vài xu.
Một em bé cao nguyên, gánh củi có vài chục xu (6)
Em bé thành phố, đánh giầy, một ổ bánh mì chưa đủ
Trinh trắng em tôi, có chục “đô” một lần ngủ
Thầy cô giáo một tháng được hơn trăm.
Giám Ðốc kia , chơi bạc bằng cả làng ăn nhiều năm
Ông nọ cá độ, bằng vài ngàn người sống “mút chỉ”.
Ðốt một phong pháo chơi, bằng tiền mua bao trinh nữ
Nuôi một chú “bẹc giê”, phải nuôi thêm vệ sĩ cả bầy
Các sân chơi Gôn của ông, thẳng cánh cò bay
Bằng ruộng lúa cả làng tôi, hay cả họï

****

Hỡi anh đi đường cái quan
Dừng chân đứng lại, em than đôi lời
Dân ta khổ lắm, anh ơi!
Trẻ thơ thiếu áo, người người thiếu ăn
Bí Thư, Ðảng Ủy hung hăng
Con ông, cháu cậu, bạo tàn hiếp dân.
          
****

Ông Thủ Tướng ơi! có bao giờ nhìn thấy lũ người rúm ró
Lạy lục van xin trước cửa bệnh viện Nhân Dân
Xin được chữa bệnh, được nạo thai, được một chỗ đặt chân
Một chiếc chiếu đặt thằng con sắp chết
Ông có nghe tiếng quát nạt giữa tiếng rên xiết
Tiếng khóc than ấm ức, tiếng kêu Trời
Tiếng “cò bán máu”, “cò thuốc Tây” hay “cò chạy quan tài”
Muốn được chết cũng không yên thân nằm chỗ
Ông Công An chưa cho phép “chết”, gia đình còn khổ
Còn nhờ “cò” đút lót, trao tay
Ở đâu cũng có “cò”: “cò xin việc”, “cò chạy án”, hay “đường dây”
“Ðường dây bán máu”, “đường dây phá thai”, “đường dây bệnh viện”
Muốn chữa bệnh: Tiền! Muốn chết: Tiền! Muốn chôn: Tiền!
Chôn rồi, muốn không bị phá, lại cần thêm tiền nữa!
Ôi! Từ sinh ra đến chết, lúc nào cũng có người đứng giữa
Có bóng anh Công An Nhân Dân quyền hạn tầy đình
“Luật ở miệng tao!” Anh hãnh diện chỉ vào mình (7)
Kẻ cai trị những con người Việt Nam Mù, Lòa, Câm, Ðiếc
Không còn thấy chút nào nhiệt huyết
Chỉ thấy Mù lương tâm, Ðiếc tai, Lòa mắt, Câm mồm!
Trước hiện tượng cả nước đang phát triển nghề “Ôm”!
Bia ôm, ngủ trưa ôm, võng ôm, hớt tóc ôm
Karaokê ôm, chè đậu xanh ôm, mía ôm…
Học sinh ra trường, không có nghề, thì ôm đại
Cả nước, chỉ 30% học sinh được “Tổ” đãi (8)
Vào đại học rồi nam sinh cờ bạc, nữ sinh làm vợ thuê
Còn lại nhóm kia, thì làm đủ nghề
Miễn sao có tiền trường để tiếp tục học
Trong xã hội có Bí Thư-“Cử Nhân” mà không biết đọc
Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân đi mua bằng
HIệu trưởng Trường Ðại học không có lấy một tấm bằng
Giám Ðốc Bệnh Viện mới học lớp ba bổ túc
Tổng Giám Ðốc mới vừa qua chương trình bổ túc
Tất cả  giống nhau  là tham nhũng, khoe khoang
Mua xe hơi trăm ngàn đô la mới sang
Trong khi người nghèo thì bán mạng, làm liều mong sống sót…
      
****

Ông Thủ Tướng ơi! Ðảng ông thích lời nói ngọt:
“Lương tâm của Thời Ðại, Ðất nước Anh Hùng”
Nhiều đến nỗi “ra ngõ cũng gặp anh hùng” (9)
Giờ thì chỉ thấy một văn chương “Ðéo!” (10)
Từ nữ sinh đến ông già, mở miệng là “đéo”
“Ðéo sợ thằng nào! Ðéo thông cảm! Ðéo cần lịch sử!”

“Ðéo cần tử tế! Ðéo cần giúp ai! Ðéo vào thiên hạ sự!”
Ở đời, cứ có tiền là nhào dô, đánh du kích, rồi rút lui.
Cây gỗ quý cứ chặt bừa, thú rừng cứ đốt thui
Chất hóa học đổ tràn, kệ cha chúng mày chết dấp!
Kệ rừng biến thành sa mạc, kệ sông đục rồi vùi lấp
Kệ bờ sông lở bồi, cứ lấy cát bán buôn
Kệ nhà dân tụt xuống sông, kệ rạch biến thành truông
Kệ khói bụi, ho lao, thủng phổi
Kệ thức ăn pha trộn chất diêm muối
Kệ nước tương là chất độc kinh hoàng
Kệ thế hệ này, thế hệ nữa, tan hoang
Miễn tiền đô Mỹ cứ chui vào quỹ
      
*****

Ông Thủ Tướng ơi! Biết nói chi nữa nhỉ?
Nói nhiều thì lệ tràn, mà cũng vô ích mà thôi
Ðảng của ông vẫn chễm trệ ngồi
Trên mấy chục triệu dân ngu, dân khổ
Hàng trăm bài báo, hàng ngàn tờ công tố
Vài vạn buổi truyền thanh, truyền hình quốc tế
Trăm cuộc biểu tình của DÂN OAN như thế
Ông vẫn bình tâm rung đùi, máy lạnh, gái chung quanh
Ông như Lê Ngọa Triều, Lê Chiêu Thống hôn quân
Ðóng cửa, bịt tai tàn tàn hưởng thụ
Những khẩu hiệu khiếu kiện tràn đầy đường phố
“Thủ Tướng ơi! Cứu Dân!”, “Ðảng ơi! Cứu dân!”
Ông ra lệnh tống giam mấy thằng kích động nhân dân
Mặc dù chúng chỉ khóc than những lời đau đớn
Báo chí ông chụp mũ, bắt những ai có lòng hảo hớn
Ðến chia gói mì, chia ly nước cho DÂN OAN
Chưa có ai dám gọi ông là HÔN QUÂN
Chưa có ai dám gọi ông: “Lũ cướp ngày của lịch sử!” (11)
Họ chưa sánh ông với Tần Thủy Hoàng, Staline, hoặc ai trong lịch sử
Ðã dùng cường quyền trấn áp dân đen
Họ chỉ quỳ xuống, van xin ông, đừng “Ðến hẹn lại lên” (12)
Cứ đến hẹn là nhà bay, đất mất
Bí thư Xã, Chủ Tịch Phường hễ ra hẹn nộp đất
Mà không tuân, thì Xử Lý nghiêm minh
Còn bồi thường? Thì tuy đất một nghìn
Ông “Lý Trưởng”: “Một trăm? Không chịu?
Kệ mẹ!” (13)
Ông “Trương Tuần”: “Chống phá Cách Mạng! Ðánh bỏ mẹ!?”
Bà “Tổng Cai” thì: “Nhốt chúng cho biết tay!”
Những tay “phú lít Tây” lập tức ra tay
Có khác gì đâu, những ngày mà các ông bị Tây nhốt
Xà lim sẵn sàng cho “cặp rằng” đi hốt
Hơn nửa thế kỷ sau, những “chị Dậu” của “Tắt đèn”
Những Bà Ðịa Chủ ngỏn ngoẻn ép buộc dân đen
Bán chó, bán con, cho mấy thằng già bú sữa
Những “anh Dậu” bị gông ra đình, đánh cho ụa mửa
Vẫn dẫy đầy trong xã hội ông trị cai
Chỉ khác là ngày xưa, thông tin ít, nên thế giới không đoái hoài
Nay thì cả quốc tế đồng thanh lên án
Các ông vẫn mặt trơ, bóng trán
Ngậm miệng ăn tiền, đàn áp lũ “dân ngu, khu đen”

        ****

Thủ Tướng ơi! Còn nhớ ngày các ông giương lá cờ lên
Có “búa – liềm” tượng trưng cho nông dân, lao động?
Các ông hô hào đánh tư sản mại bản, tiếng loa lồng lộng
Bảo vệ nông dân, hỗ trợ công nhân!
“Vùng lên! Hỡi các nô lệ của thế gian!”
Giờ thì nông dân vẫn là ngựa, nông dân vẫn là trâu
Vài trăm ngàn người ông cho là Tư sản, địa chủ, đã theo nhau
Chết trong đấu tố, Lý bá Sơ, hoặc kinh tế mới hết ráo
Chủ trương của các ông được thi hành rốt ráo
Sao bây giờ cả Ðảng thành Tư Sản Mại Bản, bán nước cho Tầu?
Hoàng Sa, Nam Quan, Thác Bản Giốc nay còn đâu?
Ðảng nhượng từng phần Vũng Tầu, Ðồ Sơn, Nha Trang… mở sòng bạc
Chỗ nào có tiền ngoại ngon lành là các ông kiếm chác
Ký giấy nhượng luôn cho Tư bản vài chục năm
Không còn nhớ từ Triệu, Trưng.. luôn chống giặc ngoại xâm
Các ông chỉ đặt bút ký là đất thiêng biến mất!
Ôi! Có khi nào mà ông nghĩ đến đau thương chất ngất
Hàng triệu triệu người chiến sĩ hy sinh
Ðã đổ máu xương ra bảo vệ từng tấm sinh linh
Bảo vệ danh dự dân Việt, bốn ngàn năm lịch sử
Có bao giờ mà mắt các ông nhòa lệ?
Nâng ly ruợu ngoại lên là thấy máu trong tay?
Ăn miếng cơm ngon mà tưởng như ăn thịt dân đây?
Mỗi ngụm ruợu là cả triệu trẻ em đói khát
Một lần các ông vung tay chơi bời, ngàn gia đình tan nát…      

****
Thủ Trưởng ơi! Ông có tin vào một Ðấng trên cao?
Oâng có khi nào thấy hồn ma thét gào?
Mỗi khi ông ngủ, có một hồn ma đứng cạnh giường ông đó!
Hồn chiến sĩ Sinh Bắc, Tử Nam nhìn ông dúm dó
Sau trận truy hoan gái đẹp, rượu ngon
Ông ngủ say sưa, cứ  thay nhau từng hồn
Hồn Bộ Ðội, hồn Giao Liên, hồn Thiếu Nhi, cháu Bác
Hồn Mẹ Nuôi, Hậu Cần,Thương Binh Trung Nam Bắc
Cùng kéo nhau về thăm “Thủ Trưởng” năm xưa
Họ sẽ hỏi ông: “Thủ Trưởng muốn chết mấy cho vừa?
Lòng Tham, Sân, Si của những người lãnh đạo
Một chế độ độc tôn, độc quyền, tàn bạo
Không kể hạnh phúc dân đen, vận nước long đong
Mới vừa đây, báo cáo “vài ngàn tỷ xuống sông
Vì tiêu phí cho mấy ông Thủ Trưởng?”
Ôi! Trời ơi! Nước ơi! Không thể tưởng tượng!
Giữa thế kỷ văn minh này mà đất nước tồi tàn
Vẫn long đong giữa thế lực ngoại bang
Một Tầu, hai Mỹ, miễn sao cho các ông hưởng thụ!

        ****

Thưa Ông Thủ Tướng!
Chúng tôi, không kể là người chế độ cũ
Người miền Bắc, Nghệ An, Quảng Trị, hay Quảng Bình
Cùng viết thư này mong các ông nghĩ tình
Là dân Việt mà lắng nghe lời chân thực
Hãy quỳ xuống, sám hối, khi còn kịp lúc!
Sám hối với nhân dân, sám hối với Tổ Tiên!
Tội nghiệt các ông mang, lẽ ra phải trừng phạt triền miên
Nhiều đời, nhiều kiếp, vạc dầu, tùng xẻo
Nhưng vì tương lai của dân ta, thôi đành hòa dịu
Không muốn đấu tranh, chỉ đòi các ông trả lại dân quyền
Trả Tự Do, Dân Chủ, Nhân quyền
Cho mọi người dân cùng dựng xây trên tan nát
Bỏ điều 4 đi, đừng nghĩ là tự sát!
(Ðúng ra, nếu các ông Tự Sát, cũng đúng thôi!)
Hãy từ bỏ đặc quyền, trả lại quyền cho tất cả chúng tôi
Tám mươi triệu người Việt máu đỏ, da vàng yêu dấu
Hãy nhìn thẳng vào những khuôn mặt đau đáu
Hãy lắng nghe tiếng nói của lương tâm
Hãy bàn giao quyền lợi cho giới trẻ, thanh xuân
Những người chủ tương lai của đất nước
Hãy mở cửa nhà tù, tìm những người từ trước
Vẫn kiên gan đòi sống theo trái tim
Như vậy, mới mong đất nước không đắm chìm
Trong nô lệ, cùm gông, không lối thoát
Mau mau lên, rừng vàng biển bạc
Sắp tan thành sa mạc, bể dâu
Thế hệ này không kịp nữa đâu
Chỉ còn thế hệ sau, mới mong vững chãi
Thôi, vài lời dông dài, viết hoài nói mãi
Cũng chỉ là những giọt lệ thương đau
Những giọt máu trong tim đã vỡ vụn, nát nhàu
Của những tâm hồn Việt Nam
Chân Thành, Trung Thực.

 
Ngày 06 tháng 10 năm 2012
Nguyễn Thu Trâm

10 comments on “BÀN VỀ CHỮ “TÀI” VÀ CHỮ “ĐỨC” CỦA CÁC LÃNH TỤ CỘNG SẢN

  1. chú châu ơi.lá cờ của vn mình hồi mà việt nam cộng hòa là như thế nào dậy chú,có phải loại cờ jo treo ko chú?con nghĩ diệt dc bon cs mình nên thay cờ mới,cờ này con nhìn thấy ghét lắm

    • Quốc kỳ Việt Nam Cộng hòa
      Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

      Quốc kỳ Việt Nam Cộng hòa, còn gọi là cờ vàng ba sọc đỏ được vua Bảo Đại sử dụng năm 1948. Đây là Quốc kỳ của Quốc gia Việt Nam (do Pháp kiểm soát ở cả miền bắc và miền nam Việt Nam) từ năm 1949 đến 1955 và sau đó là Việt Nam Cộng hòa từ 1955 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975. Tuy nhiên lá cờ này qua Chiến dịch Cờ Vàng lại được chính quyền của nhiều thành phố và tiểu bang thuộc Hoa Kỳ công nhận là “Lá Cờ Tự Do và Di Sản” (Heritage and Freedom Flag) và như là biểu tượng cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt tại địa phương.

      http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_k%E1%BB%B3_Vi%E1%BB%87t_Nam_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a

    • Cờ vàng 3 sọc đỏ nhìn thấy ghét là sao??? Có phải ghét vì nó phất phới bay nơi các xứ tư bản giãy( hoài ko) chết đúng ko???

  2. Nhà văn Dương Thu Hương: ‘Chế độ cộng sản là chế độ man rợ và phi nhân’

    Nhà văn Dương Thu Hương đã có lần công khai bầy tỏ rằng, Tháng Tư năm 1975, bà đã ngồi trên lề đường của Sàigòn ôm mặt khóc vì khám phá ra rằng, chế độ chiến thắng cuộc chiến chẳng qua chỉ là một thể chế man rợ. Từ đó, bà chọn cho mình một hướng đi riêng, là đấu tranh cho một nước Việt Nam tự do dân chủ.

    Dương Thu Hương: Tất cả những lời lẽ của giới lãnh đạo vừa ngu xuẩn vừa dối trá. Bản thân họ biết sự dối trá đó. Tất cả những kẻ mở mồm nói Xã Hội Chủ Nghĩa thì con cái chúng nó đều buôn bán, đều làm mọi cách tận thu, tận dụng, ăn cắp thật là nhiều tiền và trở thành những thằng tư bản. Chúng nó phát huy tối đa khả năng ăn cắp, ăn cướp, biến tất cả tiền tài, của cải của nhân dân trở thành vốn liếng riêng của chúng nó, hoặc là gởi tiền ra nước ngoài để sau này bỏ trốn, hoặc là nếu tình hình còn thuận tiện thì chúng nó sẽ ở lại trong nước để giữ một vốn liếng to lớn trực tiếp lấy từ xương máu của dân chúng.
    Còn về Xã Hội Chủ Nghĩa thì những người nào không ngu lắm thì họ cũng đều biết rằng chủ nghĩa này chỉ là câu nói đầu lưỡi. Tại sao giới lãnh đạo đảng nói thế? Họ nói thế vì họ dựa vào sự hèn hạ, sự hèn nhát của dân chúng. Dân chúng sợ hãi họ vì bản thân của chế độ này là chế độ dựa trên nòng súng theo đúng nguyên tắc của Lênin, cho nên người dân vì sợ hãi mà phải hèn nhát cúi đầu, cho dù dân chúng biết rằng, cả người nói và người nghe đều biết những điều ấy là những điều giả dối. Người nói thì trơ tráo vô liêm sỉ, còn người nghe thì vì sợ hãi nên đành nuốt nước bọt thôi…. Tóm lại, không có gì đáng bàn về cái thứ Chủ Nghĩa Xã Hội, tất cả chỉ là trò lừa bịp của danh từ và sự lừa bịp này còn tồn tại vì nó dựa trên hai vế. Vế thứ nhất, kẻ cầm quyền thì dùng sức mạnh và bạo lực đàn áp dân chúng, còn vế thứ hai là dân chúng cam phận, hèn nhát vì sợ bạo lực và vì tinh thần nô lệ nó đã tẩm nhiễm quá lâu rồi.
    ……
    http://dietvietgian.com/2012/04/30/nha-van-duong-thu-huong-che-do-cong-san-la-che-do-man-ro-va-phi-nhan/

  3. Ai xây “chủ nghĩa tư bản man rợ” ở VN?

    Lý luận gia Marxist và nhà nghiên cứu chính trị về đảng Cộng sản Việt Nam từ trong nước, ông Lữ Phương cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay không hề “liên quan” gì tới Chủ nghĩa Marx, mà chỉ đang “lợi dụng” chủ thuyết này trong việc xây dựng một thứ “chủ nghĩa tư bản man rợ, rừng rú.”
    Ông nói: “Tôi thấy, Chủ nghĩa Marx chẳng dính dấp gì đến thực tại Việt Nam cả. Thứ nhất, những người nhân danh chủ nghĩa Marx để họ quản lý, lãnh đạo xã hội, họ cho rằng ‘tiến lên chủ nghĩa xã hội’, nói một cách văn vẻ, thì họ ngộ nhận, họ hiểu lầm, họ không hiểu gì cả.
    “Còn nói trắng ra, họ lợi dụng, họ bóp méo hoàn toàn chủ nghĩa Marx, không dính dấp gì ở đây, nó là một chủ nghĩa Lênin, Stalin hóa, và nó là của Mao Trạch Đông. Cho nên những người nhân danh cái này để gọi là lãnh đạo Việt Nam, thì hoàn toàn không có cơ sở thực tế.

    http://dietvietgian.com/2012/02/27/ai-xay-ch%E1%BB%A7-nghia-t%C6%B0-b%E1%BA%A3n-man-r%E1%BB%A3-%E1%BB%9F-vn/

  4. BÀN VỀ CHỮ “TÀI” VÀ CHỮ “ĐỨC” CỦA CÁC LÃNH TỤ CỘNG SẢN:

    1/. Bàn cái gì thì cũng phải nói trước tiên là ông tổ sáng lập CỘNG SẢN = KARL MARX
    Karl Marx chỉ là anh làm biếng, hận đời, ngồi nhà viết sách mắng thiên hạ. Đứa con sung sướng nhất của ông ta là đứa con do ông ta ngoại tình mà sinh ra -nó được mẹ nó nuôi dưỡng khá 1 chút- chứ 07 đứa con khác của Marx thì chết yểu hết 04 đứa do đói, nghèo, bệnh tật… Cả đời, Marx ăn bám anh bạn Engels, bồ cũ của Jenny vợ Marx. Trong số 7 người con của Marx, thật ra không biết bao nhiêu là con của Engels.

    Ông tổ CỘNG SẢN KARL MARX chuyên viết về kinh tế, mà để cho con chết đói, thì thấy không khá rồi. Tu thân không xong, vì đi ngoại tình. Tề gia không xong, vì để gia đình nghèo quá, cả nhà sống trong cảnh bùn sình, dơ bẩn, trong nhà không có cái ghế nào ngồi được…

    KARL MARX “nói xấu nhà nước Tư bản” kinh hoàng, xuất khẩu sách đòi dẹp, đòi dùng “bạo lực cách mạng” xâm chiếm toàn thế giới, lập thiên đường CS.
    Karl Marx đâu chỉ chống các “chính quyền quân chủ”, ông ta chống TẤT CẢ mọi chính quyền trên thế giới kể cả dân chủ, quân chủ, phong kiến, các bộ lạc sống độc lập 1 mình, v.v… Gom hết lại, lập thành CN CỘNG SẢN TOÀN THẾ GIỚI, chứ không chỉ ở Đức, Anh quốc.

    Và không chỉ trên thế gian này mà thôi, …KARL MARX còn chống cả Thượng đế, chứ không chỉ đơn giản là vô thần, …Marx ghen ghét cả VŨ TRỤ (!!)

    ————————————-> Marx chống cả VŨ TRỤ, chỉ trừ người bạn Engels hàng tháng gởi kiều hối nuôi ông ta, bà vợ, 7 đứa con, cô nhân tình, đứa con rơi – tổng cộng 11 miệng ăn.

    Hay là Marx cũng ghét Engels thậm tệ, chỉ là giả vờ thân thiện, để nhận kiều hối(?).

    Ông tổ sáng lập CỘNG SẢN nghèo quá, con cái đau bệnh bồng đi xin thuốc không ai cho, chết xin tiền mua hòm chôn cũng không ai bố thí cho xu lẻ, nên sinh ra hận đời.
    Chỉ thiếu việc cào mặt ăn vạ, là Marx không khác Chí Phèo ở làng Vũ Đại bao nhiêu. Nhưng nếu đem so sánh, thì Chí Phèo cao cả hơn Karl Marx nhiều. Ít ra, Chí Phèo từng là người tốt, và không gây hại lại cho các thế hệ sau. Mình làm, mình chịu. Chí Phèo còn 1 chút anh dũng trong đó.

    ———————————-> Karl Marx gây hại cho MỌI người xung quanh.
    Thiếu gia Engels hẳn phải bị gia đình trách mắng do chuồn tiền gia đình nuôi dòng họ Marx.
    Con Marx đâu muốn chết yểu, hẳn phải van nài ông đem đi bác sĩ, bệnh viện, nhưng ông bỏ ngoài tai, không quan tâm.
    Trong các cơn đau, ho sùng sục, các con ông hẳn phải khóc gào đau đớn -bị sưng phổi do lạnh -10 độ C thường thấy tại London- không có lò sưởi, không có thức ăn ngon quanh năm, ngay cả bánh mì khô cũng thường thiếu thốn, nhưng ông không chịu đi làm bảo vệ, phu khuân vác, thư ký tòa báo… thì ít ra cũng kiếm được chút bánh mì, bơ, về trét ăn.
    Vợ Marx hẳn phải đau khổ nhìn đàn con què quặt, chết yểu, đứa sống sót thì bệnh rề rề, mãn tính, sau này trong số 7 đứa con chỉ 1 đứa sống sau khi Marx chết, tức là Marx đi đưa đám cả 6 đứa con, bà vợ.
    Người có máu lạnh, vô trách nhiệm, như Marx thật là hiếm thấy trên đời.

    ——————————> Và Marx muốn đập đổ TẤT CẢ chứ không muốn cải cách, thay đổi một phong trào, một chính phủ nào đó.
    Marx không cho CN Tư bản bất cứ 1 cơ hội mong manh nào để thay đổi, tiến bộ, bỏ điều xấu, cải cách cho tốt hơn.
    Marx bảo: dẹp hết, kể cả Thượng đế (!!)

  5. ——————————————> Lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản thế giới: KARL MARX đi MUA BẰNG:
    Tại Đại học Tổng hợp Bonn, cuộc đấu tranh lớn nhất mà Marx đương đầu là thói nghiện rượu và thói tiêu tiền phóng túng của mình. Cậu đã thua cuộc còn ông Heinrich thì mất rất nhiều tiền. Marx học luật và thu được một chút kinh nghiệm thực tiễn về luật pháp khi cậu bị bắt giam vì tội say mèm. Kể từ khi trường đại học có thùng rượu cho uống đến say thì việc bắt giam không còn nghiêm khắc nữa. Những người khách có thể chơi bài và tiếp tục uống với người đang bị xử phạt. Sự tự do phóng túng đã chứng tỏ tác dụng. Thắng lợi chính trị đầu tiên của Marx làm cho cậu trở thành vị chủ tịch hội Tửu quán Trier.

    Sau một năm với những bữa tiệc ở Bonn, Heinrich chuyển cậu con trai quý tử của mình sang Đại học Berlin, một nơi ít chè chén nhậu nhẹt hơn. Ông hy vọng như vậy. Nhưng Heinrich nhanh chóng mất ngay hy vọng: “Cứ như thể là chúng tôi được làm bằng vàng. Cậu con trai quý tử của tôi tiêu sạch 700 đồng thale chỉ trong vòng có một năm, vi phạm mọi điều cam kết và các tục lệ. Trong khi đó người giàu nhất cũng chỉ tiêu có hơn 500 đồng thôi”.3 Những người cho vay đã kiện Marx vài lần. Việc này khiến cậu phải chuyển nhà ít nhất là mười lần trong vòng năm năm ở Berlin.

    Heinrich còn phàn nàn nhiều hơn về sự phóng đãng: Marx là một kẻ lười biếng và bẩn thỉu. Một ông thánh biện hộ cho những sinh viên đại học đầu tóc bù xù, không tắm rửa gì. Nước da ngăm đen làm cho cậu có cái biệt danh “Người Maroc”. Những người bạn và những đứa con của ông sau này thường hay gọi ông như thế một cách trìu mến. Với màu da tối và mái tóc dài bết chặt vào nhau, cậu xuất hiện như là một lời biện hộ bờm xờm cho một sinh viên.

    Heinrich cũng phản đối sự vòng vo trong con đường học vấn của Marx khi cậu chọn học môn luật và triết học. Nếu Marx đi loanh quanh, chắc chắn cậu ta sẽ đi loanh quanh ở bên ngoài lớp học. Trong những năm học cuối, cậu chỉ theo có vài cua học và trở thành một “sinh viên tự do phóng túng, một người chỉ coi trường đại học như là nơi cắm trại”.4 Mặc dù vậy, Marx học triết học theo cách của riêng mình và gia nhập Phái Hegel trẻ, những người phê phán triệt để tôn giáo và những môn đệ theo chủ nghĩa chiết trung của Hegel – một triết gia ở Berlin đã qua đời vài năm trước khi sự nghiệp học đại học của Marx bắt đầu. Marx đã tiếp thu một cách tài tình phương pháp của Hegel và chứng minh cho thế giới thấy rằng bỏ học đôi khi phải trả giá (mặc dù không phải trả giá về mặt tài chính).

    Thật không may, Marx chưa bao giờ chứng minh được điều này với cha mình. Cha cậu đã qua đời vào năm 1838. Marx vẫn giữ được lòng thương trìu mến đối với cha mình, cậu luôn mang theo mình một bức ảnh của cha. Nhưng Marx không bao giờ thể hiện lòng yêu mến như vậy đối với mẹ cậu, cậu chỉ coi bà như một nguồn tài trợ keo kiệt. Cậu không tham dự đám tang của bà và cũng chẳng hề chảy nước mắt khi bà qua đời.

    Sau cái chết của cha, Marx nghĩ khôn ngoan hơn cả là nên kết thúc việc học hành ở đây. Đột nhiên cậu hăm hở rời bỏ học thuật rồi từ chối nộp bản luận văn về triết học Hy Lạp của mình theo các thủ tục nghiêm ngặt ở Đại học Berlin. Thay vào đó, cậu gửi luận văn tới Đại học Jena, một xưởng sản xuất bằng cấp có tiếng. Một cua học từ xa sáu tuần lẽ ra phải kéo dài hơn. Chỉ vài ngày sau đó, Jena đã lấy con dấu cao su mục nát của mình và phong tặng cậu học vị tiến sĩ. [/indent]
    http://www.vietlandnews.net/forum/showthread.php?t=13058&page=52&p=98399#post98399

  6. Anh Chau a
    Tuong Nguyen Trong Vinh len tieng day :
    anh cho dang di, vach tran bo mat that cua DCS VietNam

    http://phamvietdao2.blogspot.com/2012/10/khong-e-trung-quoc-can-thiep-vao-cong.html#more

    KHÔNG ĐỂ TRUNG QUỐC CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ VIỆT NAM

    Nguyễn Trọng Vĩnh
    – Mỗi lần Bộ Chính trị phía ta chuẩn bị dự kiến nhân sự cho nhiệm kỳ tới, thì thế nào cũng có Ủy viên Bộ Chính trị Trung Quốc sang thăm để thăm dò sự sắp đặt nhân sự mới của ta, khi cần thì gợi ý “khéo”. Khi dự kiến các chức danh Chính phủ cho nhiệm kỳ Đại hội X, có ý kiến đề nghị đồng chí Phạm Bình Minh làm Bộ trưởng Ngoại giao thì Tổng bí thư Nông Đức Mạnh gạt đi, nói rằng “Trung Quốc không đồng ý”, và bố trí đồng chí Phạm Gia Khiêm.
    Chúng tôi không biết rõ nội dung cụ thể của Hội nghị trung ương 6 khóa XI hiện đang họp tại cung đình ngoài những lời thông báo tổng quát của ông Nguyễn Phú Trọng trên các phương tiện truyền thông lề đảng, và thú thực cũng không để tâm cho lắm. Nhưng các vị lão thành cách mạng thì rất quan tâm đến mục tiêu và diễn biến của Hội nghị ấy. Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh là một trong số các vị lão thành đó. Ông vừa gửi đến BVNmột bài viết trình bày một vài quan điểm cá nhân liên quan đến Hội nghị nói trên. Trên tinh thần tôn trọng ý kiến của một bậc cách mạng đàn anh suốt đời nêu tấm gương yêu nước nồng nàn và lối sống đạo đức mẫu mực cho con cháu, chúng tôi xin trân trọng đăng nguyên bài viết của ông, để các cấp có thẩm quyền và bạn đọc xa gần tham khảo. Qua điện thoại, tác giả có một lời nhắn đến chúng tôi, rằng ông chịu trách nhiệm hoàn toàn về những vụ việc dính dáng đến tên tuổi các nhân vật mà bài viết đề cập – Bauxite Việt Nam.
    PHÁT HUY TINH THẦN ĐỘC LẬP, TỰ CHỦ, KHÔNG CHO PHÉP NƯỚC NGOÀI CAN THIỆP VÀO CÔNG VIỆC NỘI BỘ CỦA NƯỚC TA!
    Chúng ta từng tuyên bố: “Việt Nam muốn làm bạn với tất cả các nước trên tinh thần tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, không can thiệp vào nội bộ của nhau, hợp tác cùng có lợi”. Tuyên bố đó, về chiến lược, sách lược đều đúng.
    Trong quan hệ quốc tế, các quốc gia độc lập, bất kỳ lớn nhỏ đều phải như vậy.
    Đáng thất vọng là trong cuộc đàm phán Việt – Trung về bình thường hóa quan hệ lại không thể hiện tinh thần ấy.

    Trong cuộc chiến xâm lược nước ta năm 1979 mà Đặng Tiểu Bình nói là: “Dạy cho Việt Nam một bài học”, tuy có giết hại được bộ phận đồng bào ta, tàn phá các tỉnh biên giới miền Bắc nước ta, nhưng cũng bị quân dân ta đánh cho sứt đầu mẻ trán phải tháo lui. Ta đâu có phải là bại trận mà trong đàm phán phải đi nước dưới để Trung Quốc đòi ta phải gạt bỏ Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, đòi không được nhắc đến trận chiến năm 1979… Phái đoàn ta lại chấp nhận?!
    Đại hội VII năm 1991 gạt bỏ đồng chí Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch, một nhà ngoại giao yêu nước, đầy tài năng và rất cảnh giác với bành trướng, bá quyền Trung Quốc; mỗi khi đến tháng 2 hàng năm (kỷ niệm Trung Quốc xâm lược vào các tỉnh biên giới) không dám có phái đoàn lên thắp hương tượng trưng cho đồng bào chiến sỹ đã hy sinh bảo vệ Tổ quốc; thậm tệ hơn, chỉ cách đây vài năm, trước cái ngày Trung Quốc đánh Việt Nam đúng một ngày, bà Phó chủ tịch Quốc hội còn mở tiệc chiêu đãi Đại sứ Trung Quốc (chiêu đãi mừng chính cái kẻ, vào đúng ngày này 30 năm trước, đã “quạt lửa” vào mặt chúng ta, thử hỏi có nước nào rửa cho sạch nhục?). Mỗi người Việt Nam yêu nước đều cảm thấy nhục nhã.
    Từ nhiệm kỳ của nguyên Tổng bí thư Nông Đức Mạnh, Trung Quốc càng dễ can thiệp vào nội bộ nước ta và muốn gì được nấy.
    Lãnh đạo Trung Quốc muốn khai thác bô-xít và chiếm lĩnh điểm chiến lược Tây Nguyên, được Tổng bí thư chấp nhận ngay mặc dầu chưa có ý kiến tập thể Bộ Chính trị. Mỗi lần Bộ Chính trị phía ta chuẩn bị dự kiến nhân sự cho nhiệm kỳ tới, thì thế nào cũng có Ủy viên Bộ Chính trị Trung Quốc sang thăm để thăm dò sự sắp đặt nhân sự mới của ta, khi cần thì gợi ý “khéo”. Khi dự kiến các chức danh Chính phủ cho nhiệm kỳ Đại hội X, có ý kiến đề nghị đồng chí Phạm Bình Minh làm Bộ trưởng Ngoại giao thì Tổng bí thư Nông Đức Mạnh gạt đi, nói rằng “Trung Quốc không đồng ý”, và bố trí đồng chí Phạm Gia Khiêm.
    Khi Trung Quốc cắt cáp tàu Bình Minh và tàu Viking II của ta thăm dò khảo sát trong thềm lục địa Việt Nam, nhân dân phẫn nộ biểu tình phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền. Tình hình rất căng, đáng ra Trung Quốc phải “hạ nhiệt” thì phía ta lại cử đặc phái viên Thứ trưởng Ngoại giao sang Trung Quốc có vẻ cầu hòa. Trung Quốc tỏ ra bực mình vì những cuộc biểu tình, thì sau khi đặc phái viên về là các cuộc biểu tình bị đàn áp.
    Cái gì Trung Quốc muốn cũng được, cái gì cũng nghe theo ý kiến Trung Quốc, cái Trung Quốc không bằng lòng thì không dám làm, vậy thì còn gì là độc lập tự chủ?
    Được biết gần đây có việc bổ sung Ủy viên Bộ Chính trị, có ý kiến trong số người dự định bổ sung, nên có đồng chí M. thì liền có ý kiến sợ “căng thẳng với Trung Quốc”. Trong vụ Nguyễn Tấn Dũng có ý kiến can thiệp gì của Tập Cận Bình không? Nếu có thì theo Tập Cận Bình hay theo Ban Chấp hành trung ương và theo dân? Việc của nội bộ chúng ta thì chúng ta tự giải quyết việc gì phải nể vì ai, theo ai? Nếu không kiên quyết xử lý dứt điểm vấn đề Nguyễn Tấn Dũng trong thời điểm hiện nay để mắc mưu ông ta thoát khỏi bị xử lý ngay trong hội nghị trung ương kỳ này và kỳ họp Quốc hội tháng 11 tới thì vô cùng nguy hại.
    Nhớ xưa: Vua và dân một lòng thì dù quân Nguyên Mông hùng mạnh nhất một thời cũng bị 3 lần đại bại. Hồ Quý Ly tuy có tư tưởng cải cách tiến bộ, có thành đá, hào sâu, nhưng vì không được dân ủng hộ nên mất nước.
    Không nên quá sợ Trung Quốc đánh. Thắng bại trong chiến tranh chủ yếu là do thiên thời, địa lợi, nhân hòa, không chỉ do vũ khí và phương tiện. Na-pô-lê-ông đã thất bại trước nước Nga, Hít-le đã thất bại trước Liên Xô, Nguyên Mông và Mỹ đã thất bại trước Việt Nam…
    Trung Quốc có chỗ mạnh nhưng cũng có đầy chỗ yếu. Bối cảnh quốc tế và nội tình Trung Quốc không thuận cho Trung Quốc gây chiến. Nhưng nếu ta nhu nhược quá thì Trung Quốc sẽ thực hiện được “bất chiến tự nhiên thành”.
    Bauxite Việt Nam
    Được đăng bởi Nhà văn Phạm Viết Đào vào lúc Thứ bảy, tháng mười 06, 2012

  7. Xin được tiếp lời….:
    Vào các năm 1848 – 49, các cuộc cách mạng tại châu Âu đã không thành công, những kẻ xúi dục nổi loạn bị truy lùng, Karl Marx vì vậy phải bỏ chạy qua thành phố London vào mùa hè năm 1849. Từ tuổi 31, Marx đã trải qua phần còn lại của cuộc đời trong cảnh túng thiếu. Karl Marx có 6 người con, ba đứa bị chết yểu, hai trong số còn lại sau này đã tự sát. Trong cảnh sống cơ cực, Karl Marx đã được Friedrich Engels trợ giúp cho khỏi chết đói bởi vì lợi tức của Marx chỉ là một món tiền rất nhỏ nhờ các bài viết cho tờ báo New York Tribune, mô tả các sự việc xẩy ra tại châu Âu. Do hoàn cảnh sống quá eo hẹp và bất mãn này mà các bài viết của Karl Marx thường bộc lộ lòng hận thù, cay đắng. Karl Marx là một người học rộng nhưng mang thành kiến và tự kiêu, ông ta được nhiều người ngưỡng mộ nhưng có ít bạn bè và rất nhiều kẻ thù.

    Mặc dù thường bị đau yếu vì bệnh tật và sống trong cảnh nghèo túng trong khu vực Soho buồn tẻ của thành phố London, mỗi ngày Karl Marx thường ra Viện Bảo Tàng Anh Quốc (the British Museum) tìm kiếm tài liệu để viết nên một tác phẩm có tên là “Tư Bản Luận” (Das Kapital). Cuốn sách này đã được soạn thảo trong 18 năm trường, đôi khi bị ngưng lại vì các lần đau bệnh hay vì vài hoạt động khác của tác giả. Friedried Engels rất lo lắng cho tác phẩm này, e sợ nó bị dở dang. Engels đã nói “ngày mà cuốn sách được đưa in, tôi phải uống rượu thật say để chúc mừng”. Cả hai Karl Marx và Engels đều coi cuốn “Tư Bản Luận” là “cuốn sách bị nguyền rủa” (the damned book) bởi vì nó sẽ mang lại một “cơn ác mộng”.

    Karl Marx qua đời trong thành phố London vào ngày 14/3/1883. Chỉ có 8 người tham dự đám tang của danh nhân này tại nghĩa trang Highgate, gồm cả người vợ và 2 người con. Trong bài điếu văn đọc trước ngôi mộ của Karl Marx, Friedrick Engels là người bạn thân nhất, người cộng tác lâu năm và cũng là một môn đệ của Karl Marx, đã tóm tắt rằng “Trên hết, Marx là một nhà cách mạng và chủ đích chính trong cuộc đời của ông là lật đổ xã hội tư bản cùng các định chế do chế độ này lập nên”.

    Những người điên thường kết bạn với nhau, và thường là rất thân, bởi não của những người điên thường phát ra những xung điện có cùng tầng số và bước sóng… Đó là trường hợp của karl Marx và Friedrich Engel, hai thánh tổ vĩ đại của bọn cộng sản, đặc biệt là cộng sản Việt Nam

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s