Con đường dài để cải cách Doanh Nghiệp Nhà Nước của Việt Nam

Posted by ttxcc6 on 20/10/2012

Frances Yoon

Lê Quốc Tuấn/XCafeVN chuyển ngữ

Hà Nội đã công bố kế hoạch tái cơ cấu DNNN (doanh nghiệp nhà nước) cồng kềnh của họ bằng cách bán bỏ hoặc liệt kê chúng trên thị trường chứng khoán. Tuy nhiên, điều cần nhất là họ phải nhổ tận gốc cái chủ nghĩa đồng đội chia chác nhau từng thấm nhập quá đậm sâu trong các công ty và khu vực ngân hàng.

Việt Nam đang vấp ngã dưới một núi nợ nần. Và đất nước này có thể xụp đổ.

Cám dỗ tài chính của đất nước có được là nhờ sự giúp đỡ của một làn sóng đầu tư trực tiếp rất lớn từ nước ngoài (FDI) trong thập kỷ qua, vốn đã thúc đẩy lối chi tiêu không khôn ngoan của doanh nghiệp nhà nước vào các ngành kinh doanh không liên quan. Ví dụ như, tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN), đã dự trữ tài sản trong các ngành xây dựng, khách sạn và thậm chí cả một công ty taxi. Một số doanh nghiệp nhà nước đã có đến 400 công ty con.

“Sự tình không khác gì chuyện lấy thẻ tín dụng của cha mẹ để đi Las Vegas rồi nói rằng “nếu thắng thì là tiền của tôi, nếu thua thì bố mẹ tôi sẽ trả nợ “Andrew Clarke, một nhà phân tích tại VinaSecurities nhận xét. “Một điều tương tự như thế đã xảy ra ở đây. Tại sao một công ty có công ty lại phải có nhiều công ty phụ ? Ở đây, vẫn đang ở trong giai đoạn khám phá. Họ thực sự hiểu được rằng những điều này có thể tồi tệ đến đâu.”

Một báo cáo hôm 17 tháng 7 của Bộ Tài chính cho thấy, vào cuối tháng 9 năm 2011, tởng số nợ doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam ở mức khoảng 415 nghìn tỷ đồng (20 tỷ USD). Đấy là 16% tổng sản phẩm GDP 122 tỷ USD của đất nước trong năm 2011, hầu hết đều nằm trong tay các ngân hàng thất bại của họ. Việc quản trị kém cỏi và thiếu minh bạch đã giúp các doanh nghiệp nhà nước thủ đắc được những tài sản không thuộc ngành kinh doanh chính của mình thông qua các chính sách tài chính thoải mái. Kết quả là, nhiều doanh nghiệp nhà nước, chiếm khoảng 1/3 sản lượng của đất nước, đã trở thành quá lớn và quá yếu. Một số thực sự phải phá sản.

Chính phủ đang hành động quá muộn màng để giải quyết những vấn đề này. Ngày 17 tháng 7, Chính phủ của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khởi sự bằng cách quy định một kế hoạch lớn khiến các doanh nghiệp nhà nước phải thanh lý các vị trí trong doanh nghiệp không chuyên môn vào năm 2015. Đất nước cũng bắt đầu thương thảo với Ngân hàng Phát triển châu Á để tái cơ cấu hai doanh nghiệp nhà nước đầu tiên như các mẫu mực để giúp thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

Theo sau là một số vụ bắt giữ những nhân vật có tăm tiếng. Ngày 20 tháng 8 Nguyễn Đức Kiên, người sáng lập Ngân hàng Thương mại Cổ phần Châu Á, ngân hàng cho vay lớn nhất Việt Nam, đã bị bắt vì “hoạt động kinh doanh bất hợp pháp”, theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Ngày hôm sau, cổ phiếu của ngân hàng đã tụt giảm đến giới hạn hàng ngày 7%, khiến Ngân hàng Nhà nước phải bơm tiền vào hệ thống ngân hàng.

Tiếp theo là là Dương Chí Dũng, cựu giám đốc của Công ty Hàng hải Việt Nam, bị bắt ngày 05 tháng 9 về những cáo buộc tham nhũng dẫn đến 4,5 tỷ USD trong các khoản nợ xấu. Theo Saigon Times, ngân sách nhà nước phải huy động khoảng 14.6 nghìn tỷ đồng VN được huy động từ ngân sách nhà nước để trang trải các khoản lỗ.

Sau đó, vào ngày 26 tháng 9 Hà Nội công bố rằng Công ty xăng dầu PVN sẽ phải từ bỏ tất cả các tài sản không thuộc về kinh doanh chính của mình. Các câu hỏi quan trọng bây giờ là liệu những động thái này có quá ít và quá muộn hay không.

Tinh hình tài chính ngày càng nguy hiểm của doanh nghiệp nhà nước Việt Nam đã làm suy yếu các ngân hàng của họ. Ngân hàng Mizuho ước tính các khoản cho vay không hiệu quả (nợ xấu) chiếm đến 20% tổng số nợ. Trên thang điểm từ 1 đến 10, trong đó 10 là yếu nhất, tổ chức Standard & Poor xếp hệ thống ngân hàng Việt Nam vào hạng thứ chín. Mặc dù đã cam kết sẽ giải quyết khu vực ngân hàng, chính phủ vẫn bị chỉ trích rộng rãi vì không đưa ra được đường hướng cụ thể.

“Chúng tôi đã làm rõ các vấn đề cần phải giải quyết, bao gồm cả các khoản nợ xấu, và chính phủ đã chỉ đạo Bộ Tài chính và ngân hàng trung ương tiếp tục đẩy mạnh việc tái cơ cấu hai lĩnh vực tài chính và ngân hàng này”, Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ nói với Asiamoney, có vẻ tránh không muốn nói đến chi tiết cụ thể.

Theo một báo cáo ngày 29 tháng tám của Vina Securities và Macquarie , để ngăn chặn các ngân hàng của đất nước này không rơi vào cuộc khủng hoảng hệ thống, Việt Nam cần tài trợ khoảng 30 tỷ USD.

Để nâng cao lượng tiền đòi hỏi phải nhanh chóng gạt bỏ việc để tài sản nhà nước rơi vào tay tư nhân, đúng như chính phủ đã dự kiến. Những đầu tư như vậy cũng rất cần thiết để giúp các dự án doanh nghiệp nhà nước, là những đầu tư cần vốn mạnh và không thể tài trợ được từ trong nước mà phải cần đến công nghệ tiên tiến từ bên ngoài.

Tuy nhiên, các nhà đầu tư quốc tế đang ngày càng thận trọng về lối quản trị doanh nghiệp kém chất lượng của và các hoạt động bất hợp pháp ở Việt Nam, đặc biệt là sau các vụ bắt giữ gần đây. Để thúc đẩy dòng vốn, Hà Nội cần cung cấp cho các nhà đầu tư cổ phần đáng kể trong doanh nghiệp nhà nước với giá hấp dẫn, dù có phải chịu gánh nặng về chính trị.

Những lợi quyền khó lay chuyển

Trong nhiều năm, sự đầu tư mạnh mẽ của nước ngoài đã che giấu cho các doanh nghiệp nhà nước kém năng lực của Việt Nam.

Năm 2008, đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, FDI đạt mức kỷ lục 72 tỷ USD.

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 đã phơi bày những khó khăn của đất nước. Đầu tư FDI sụp đổ và chưa phục hồi lại được, với các hạng mục đầu tư trong nước sụt giảm đến14,7 tỷ USD trong năm 2011.

Nếu không có dòng tiền mặt này, các doanh nghiệp nhà nước đã bị chìm trong một hố nợ nần. Việc không trả được nợ là chắc chắn, phải bán tháo tài sản là bắt buộc sẽxảy ra.

Đến mức này, ngày 27 tháng 6, Bộ Tài chính mới công bố kế hoạch tái cơ cấu 889 doanh nghiệp nhà nước vào năm 2015.

Trong số ấy, 367 doanh nghiệp phải cổ phần hoá (một từ ngữ mà Đảng Cộng sản sử dụng để mô tả việc tư nhân hóa thông qua bán cổ phiếu hoặc bán hàng chiến lược mà không phải đề cập đến từ ‘tư nhân hóa’). 532 doanh nghiệp nhà nưóc khác hoặc sẽ được ký gởi, bán, khoán, cho thuê hoặc giải thể. 93 doanh nghiệp nhà nước đã đăng ký để cổ phần hóa vào năm 2012.

Các thông báo về chính sách và những vụ bắt giữ của chính phủ cho thấy rằng Hà Nội hiểu được mình phải cải cách và chống tham nhũng. Nhưng điều này sẽ không dễ dàng, nhiều giới tinh hoa cầm quyền của đất nước đã hưởng lợi rất tốt từ hệ thống hiện tại và miễn cưỡng không muốn nhìn thấy thay đổi.

Ví dụ, các công ty doanh nghiệp nhà nước của Việt Nam là những công ty lớn nhất của đất nước nhưng chỉ có sáu công ty, bao gồm cả Công ty Cổ phần Supe phốt phát Hóa chất Lâm Thao và PV Gas, được niêm yết trên thị trường chứng khoán của tháng Tám. Việc thiếu vắng các công ty đăng ký trên sàn chứng khoán phần lớn là hậu quả của việc quan chức chính phủ muốn bảo vệ quyền lợi bất di bất dịch của mình.

“Mọi người đều quan tâm nhiều về công việc của họ hơn là về việc thực hiện tiến trình này, ngay cả khi họ vẫn hiểu rằng mình có để thu hút các nhà đầu tư nước ngoài.

“Không ai muốn chịu trách nhiệm “, một quan chức cấp cao tại một công ty đầu tư tại Việt Nam nói.

Sự không sẵn lòng này được đi ra ngoài khuôn khổ đã mang lại một tác dụng phụ không mong muốn: các kỳ vọng không thực tế về giá cả.

“Vì những lợi quyền khó lay chuyển của họ, các nhà đầu tư có thể phải trả một chi phí cao để mua đứt các nhà quản lý hiện tại “, ông Alex Kun, nhà phân tích nghiên cứu đầu tư cao cấp tại ngân hàng tư nhân Wells Fargo tại Hồng Kông cho biết. “Giới quản lý và lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước thường … luận chuyển các lợi ích của việc điều hành các doanh nghiệp nhà nước về lại cho chính mình thông qua các phương cách có liên quan. Họ thích doanh nghiệp nhà nước thuộc về chính phủ để họ có thể tiếp tục các hoạt động mờ ám”.

Các quan chức đảng ngoan cố của các công ty thường đòi hỏi một tỷ lệ thu nhập trung bình (PE) là 30 lần nhiều hơn sổ sách dành cho tài sản doanh nghiệp nhà nước, trong khi các nhà đầu tư tin rằng thu nhập 9 hoặc 10 phần hơn là hợp lý hơn, theo các nhà đầu tư ở thành phố Hồ Chí Minh cho biết.

Mong đợi định cao giá của chính phủ rõ ràng là không đạt được khi nhìn vào hiệu quả của sàn Giao dịch Chứng khoán Hồ Chí Minh. Các chỉ số chứng khoán rơi vào một thị trường tụt giảm mạnh vào ngày 27 tháng Tám, sau khi đã giảm hơn 20% từ tháng 8 và thấp hơn 7% so với một năm trước đây, có nghĩa là cổ phiếu của các doanh nghiệp nhà nước sẽ tăng ít hơn rất nhiều từ khi rao bán lần đầu ra công chúng trong năm 2011 .

Chỉ số tụt giảm này giúp những nhà đầu tư tiềm năng thêm động lực để đòi hỏi mức định giá thấp hơn.

Tất cả cứ xảy ra quá thường xuyên, kết quả là một khoảng cách khá lớn giữa bên chính phủ muốn bán và bên nhà đầu tư sẵn sàng mua.

Vất vả cải thiện

“Cho đến nay, thị trường tài chính đã không được thân thiện” Kun của Wells Fargo cho biết.

“Thật không may là thị trường cổ phiếu chưa được thực sự phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Tính khích lệ để cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước bị thiếu sót trừ khi chính phủ có thể mang lại việc giảm giá nhiều hơn nữa. Nhưng điều ấy sẽ có nghĩa là giá bán sẽ quá rẻ “.

Để giải quyết vấn đề này chính phủ đã sửa đổi Nghị định số 59 về cổ phần hoá trong tháng tư để cho các nhà đầu tư chiến lược được mua cổ phiếu ở một mức giá thấp ngang với giá đấu thầu thấp nhất. Nó cũng cho phép các nhà đầu tư chiến lược được mua cổ phần trước khi bán đấu giá cho tư nhân, nhưng họ phải giữ các cổ phiếu trong ít nhất là năm năm, tăng lên từ mức ba năm trướcđây.

“Các quy định được thay đổi, chúng không hoàn toàn sửa chữa được vấn đề nhưng cũng là đạt được một số tiến bộ”, ông Jerome Buzenet, một đối tác tại công ty luật DFDL nhận xét.

“Nhưng đó là một quyết định chính trị rất khó khăn từng được chính phủ thực hiện để bán ra cho người nước ngoài những gì thấp hơn so với giá IPO”

Doanh nghiệp nhà nước như Tập đoàn Thép Việt Nam, Petrolimex, nhà nhập khẩu và phân phối dầu mỏ lớn nhất của đất nước, Ngân hàng Phát triển nhà ở Mê Kông và Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã nhìn thấy giá cổ phiếu của họ chỉ tăng khoảng 1% từ khi đưa ra bán trong công chúng vào năm 2011. Các công ty này vẫn chưa được niêm yết và hiện chỉ đang giao dịch trên thị trường ngoài quầy (OTC) vốn thiếu giá cả minh bạch.

Một điểm vướng mắc nữa là sự miễn cưỡng của chính phủ không muốn từ bỏ quyền kiểm soát các doanh nghiệp nhà nước của mình. Các công ty chiến lược nước ngoài muốn mua các cổ phần lớn trong công ty, nhưng Hà Nội lại cứ thích bán các cổ phần quá nhỏ khiến các cổ đông viên nước ngoài phải suy nghĩ.

Ví dụ, PV Gas đã được liệt kê trên sàn chứng khoán trong tháng năm, nhưng chính phủ chỉ đưa 5% ra để bán. Điều đó ngăn cản các nhà đầu tư nước ngoài, những người chỉ mua được 4,5% cổ phần có sẵn. Việc cầm giữ dòng vốn quá chặt của chính phủ cũng gây khó khăn cho giới đầu tư muốn tìm kiếm cổ tức lớn hơn.

“Họ phải bán các phần đủ lớn để công ty hiện không phải là công ty của chính phủ và các cổ đông sẽ bắt đầu có được một số quyền hạn và việc quản trị doanh nghiệp được cải thiện”, ông Marc Djandji, phó chủ tịch cấp cao của Indochina Capital nói. “Tuy nhiên, nếu chính phủ đang nắm giữ 95% của công ty, thật chẳng có gì thực sự thay đổi.”

Việc không sẵn lòng nới lỏng sự kiểm soát các doanh nghiệp nhà nước của chính phủ là một hệ quả của những lợi ích riêng tư mà các nhà quản lý doanh nghiệp nắm giữ được. Các công chức biết rằng điều này phải thay đổi nhưng bị bối rối vì không biết tiến hành như thế nào.

“Các quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước, cùng với đầu tư công cộng và khu vực tài chính, 3 khu vực mà chúng tôi nhấn mạnh này là … rất phức tạp, vì đó là sự nhạy cảm về chính trị và xã hội” Võ Trí Thanh, viện trưỏng viện Quản lý Kinh tế Trung ương ( CIEM), liên quan trực tiếp đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã cho biết.

Không có được một cách để gỡ rối các bộ phận hư hỏng của các doanh nghiệp nhà nước bằng cách chuyển các cổ phần bị kiểm soát trong các công ty mới niêm yết ra khỏi chính phủ, các công ty nước ngoài ít có động cơ để mua tài sản tại Việt Nam.

“Chúng tôi không thực sự tích cực tập trung hoặc chờ đợi những tài sản đó được cổ phần hoá vì lịch sử đã cho thấy rằng chúng từng được bán ở một mức giá quá cao hoặc không bán được đủ đểchúng trở nên thực sự quan trọng”, ông Djandji nói.

Chỉ có 1,2% cổ phần của Công ty Rượu Bia Hà Nội (Habeco) vào Tháng 3 năm 2008 đã được người nước ngoài mua giữa mối lo ngại rằng mức giá ban đầu 50, 000 là quá cao. Việc thiếu tiếp nhận đã đẩy mưc giá cổ phiếu thắng trung bình chỉ được 50, 015 Đồng.

Làm thế nào để tạo tiến bộ

Khi mọi việc xảy ra, Hà Nội đã bắt đầu nói lên những điều không đúng, nhưng họ vẫn chưa hành động đủ để lôi kéo các nhà đầu tư.

Bước đầu tiên của chính phủ để cải thiện quản trị doanh nghiệp và minh bạch nên là việc phải đẩy nhanh quá trình cổ phần hóa. Cần phải giải thích cho các nhà quản lý doanh nghiệp nhà nước và người lao động những lợi ích của việc lên danh sách và mời các nhà đầu tư nước ngoài có chuyên môn và công nghệ quản lý tiên tiến vào hội đồng quản trị để có khả năng thúc đẩy cạnh tranh và từ đó tạo nên dòng vốn.

Để tạo điều kiện thuận lợi này, phải loại bỏ các các quan chức cao cấp gây trở ngại và các giao dịch tham nhũng. Một phương cách thực hiện sẽ là việcphải có kiểm toán viên chính thức của nhà nước để kiểm tra các giao dịch của quản lý cấp cao và thiết lập các quy tắc có nền tảng pháp lý để tăng cường tính minh bạch.

Sau đó, các doanh nghiệp nhà nước nên chuẩn bị cho việc có nên niêm yết, giá trị cổ phiếu hay không. Điều đó sẽ buộc phải yêu cầu công bố các thông tin về tài chính công, đưa các vấn đề tài chính ra ánh sáng rõ ràng.

Chính phủ cũng phải nới lỏng hơn nữa các quy định về cổ phần hóa để chúng ít hạn chế đối với các nhà đầu tư chiến lược. Điều này có thể được thực hiện bằng cách loại bỏ các hạn chế về số năm mà các nhà đầu tư phải chờ đợi để chuyển cổ phần của họ từ năm năm. Nghị định số 59 cũng hạn chế các nhà đầu tư chiến lược trong giới hạn ba đối tượng. Nâng cao con số đó có thể cung cấp cho nhà đầu tư sự thoải mái của giảm thiều rủi ro.

Các công ty nước ngoài nên được cho phép để mua các phần chia lớn hơn trong các doanh nghiệp nhà nước bằng cách nâng cao mức 49% sở hữu nước ngoài. Gia tăng ảnh hưởng nước ngoài trong các quyết định của hội đồng quản trị cũng sẽ giúp Việt Nam nhập khẩu được kỹ năng quản lý, hướng dẫn các công ty trong nước thông qua các mô hình quốc tế.

Chính phủ cũng cần cung cấp những đánh giá công bằng để lôi kéo các nhà đầu tư.

“Giá trị của doanh nghiệp nên được dựa đa phần vào thị trường,” Võ Trí Thanh nói. “Điều quan trọng là làm thế nào để chúng ta có thể không chỉ thu hút vốn, mà quan trọng hơn là làm thế nào để chúng ta có thể có được công nghệ mới, kỹ năng mới về quản lý doanh nghiệp nhà nước cho các TNNN đã cổ phần hoá.” Với dòng vốn nước ngoài cạn đi, tình trạng hiện tại của các doanh nghiệp nhà nước nợ nần và khu vực ngân hàng khó khăn sẽ không chống đỡ được nữa.

Hà Nội cần phải kết hợp sự sẵn lòng đấu tranh chống lại nạn tham nhũng với sự sẵn sàng cung cấp cho các nhà đầu tư nước ngoài những quyền hạn gia tăng và sự linh hoạt trong khu vực doanh nghiệp nhà nước. Và Hà Nội phải nhanh chóng thực hiện những điều này trước khi gánh nặng nợ xấu của mình trở nên quá nặng nề không thể giải quyết được.

Nguồn: Asian Money

2 comments on “Con đường dài để cải cách Doanh Nghiệp Nhà Nước của Việt Nam

  1. Những năm đầu tiên khi chính quyền CSVN mở rộng cửa đón nhận doanh nghiệp nước ngoài vào làm ăn buôn bán , hình như cả thế giới cũng bị bọn ma cô chợ trời này lừa đảo . Sau một thời gian làm ăn với bọn ma cô đỉ điếm này , mặc dù đã luồn cúi , cung phụng chúng hết sức , các tập đoàn kinh tế nước ngoài cũng không thể chịu đựng nổi cái bản chất vừa tham lam vô độ vừa hèn hạ điếm đàng của cán bộ lãnh đạo csvn nên từ từ lặng lẽ …chuồn khỏi cái hang ổ của bầy quỷ đỏ này .
    Goobye VN !

    Tập đoàn đa quốc gia rời bỏ Việt Nam?

    Đến, ở rồi lại rút lui khỏi một thị trường âu cũng là lẽ thường tình trong “thế giới phẳng” ngày nay, nhưng để một loạt đối tác ngoại có thương hiệu uy tín lần lượt rời bỏ thị trường vì những lý do “không đâu” thật ra cũng chẳng phải là điều gì hay…

    http://www.baomoi.com/Home/ThiTruong/vef.vn/Tap-doan-da-quoc-gia-roi-bo-Viet-Nam/9583362.epi

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s