Sư Đoàn 23 Bộ Binh và cuộc quyết chiến Ban Mê Thuột tháng 3.1975

28.10.2012

Theo LytuongnguoiViet

Phạm Phong Dinh (Trích trong THIÊN HÙNG CA QUÂN LỰC VIỆT NAM CỘNG HÒA, phát hành đầu tháng 12,2004)

Tình hình Tây Nguyên những tháng đầu năm 1975 Hai năm sau ngày ký Hiệp Định Ba Lê 27.1.1973, cộng sản Hà Nội đã trắng trợn vi phạm hiệp định lên đến con số nhiều ngàn lần. Thực chất ý nghĩa hiệp định mà phía Hoa Kỳ và Bắc Việt cùng tay sai của nó là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (Việt Cộng) ký với nhau bất chấp nguyện vọng của dân chúng miền Nam, là hợp thức hóa sự hiện diện của binh đội Bắc Việt trong lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa và nâng Mặt Trận Giải Phóng lên thành một thực thể tại miền Nam. Như vậy Việt Nam Cộng Hòa cùng một lúc phải đương đầu với hai lực lượng võ trang và chính trị của cộng sản, mặc dù trên thực tế chúng chỉ là một và đều cùng là một loại thổ phỉ như nhaụ Trong lúc lính Mỹ còn đang lục tục lên phi cơ rút lui ra khỏi Việt Nam theo qui định trong vòng 60 ngày, thì trước, ngay và sau giờ hiệu lực của hiệp định là 8 giờ sáng ngày 28.1.1973, cộng quân đã mở nhiều cuộc vi phạm, mà lớn nhất là việc tấn chiếm xã Sa Huỳnh, thuộc tỉnh Quảng Ngãị Với sự trợ lực rất lộ liễu của phái đoàn Ba Lan và Hung Gia Lợi trong Ủy Ban Quốc Tế Kiểm Soát Ngừng Bắn như làm lơ không cứu xét khiếu nại của Việt Nam Cộng Hòa, chụp hình những căn cứ quân sự của Việt Nam Cộng Hòa và lén lút gửi cho các “đồng chí” Hà Nội của chúng, binh đội Bắc Việt và quân Việt Cộng ngang nhiên mở những cuộc xâm nhập, tấn công, phục kích, làm đường giao thông, giành dân lấn đất và những hình thái chiến tranh xâm lược khác hoàn toàn giống hệt và dữ dội hơn trước khi ký hiệp định nữạ
Phía Việt Nam Cộng Hòa nhẫn nại tuân thủ những điều khoản ngừng bắn, thậm chí tháng 6.1973 chính phủ của chúng ta ra thông tư đề nghị phía cộng sản cùng ngồi xuống bàn thương nghị để thảo luận những chi tiết cho cuộc tổng tuyển cử dự trù tổ chức trong tháng 12.1973, dưới sự giám sát của Liên Hiệp Quốc. Dĩ nhiên phía Bắc Việt làm bộ phớt lờ, giả câm, giả điếc, không nghe, không thấy gì hết. Nghe nói đến có sự giám sát của quốc tế là bọn chúng sợ và co vòi lại tức khắc. Những người thường vỗ ngực xưng là “đánh Mỹ cứu nước” và “giải phóng” cho dân tộc, là “chính nghĩa” đầy mình mà lại sợ hãi một cuộc tổng tuyển cử chân chính hay saọ
Điều này hoàn toàn đúng, vì cộng sản rất ngán ngại trực diện với sự thật. Chúng biết chắc nếu nhận cùng tổ chức tổng tuyển cử hai miền để bầu lên một chính phủ duy nhất với những con mắt “cú vọ” rất nghiêm nhặt của quốc tế, chẳng những dân miền Nam sẽ bầu cho những chiến sĩ quốc gia mà cả dân miền Bắc sẽ nhân thời cơ này tẩy chay thẳng thừng bọn giết người khát máu cộng sản. Một điều có lợi cho cộng sản là dân số miền Bắc nhỉnh hơn của miền Nam, thì chúng còn sợ cái gì nữa chứ.
Vậy con đường duy nhất mà Hà Nội chỉ có thể chọn lựa, là tiếp tục xua thanh niên miền Bắc tràn xuống miền Nam, nhồi nhét đủ mọi thứ căm thù vào đầu óc mà họ đã bị đầu độc từ lúc cắp sách đến trường, để gây nên thành cảnh núi xương biển máu, trong tiếng kêu khóc hãi hùng và thảm thiết của nhân dân hai miền. Sau khi chiếm được Phước Long trong những ngày 30.12 đến 7.1.1975 để trắc nghiệm khả năng chống trả của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa và đo lường phản ứng của Hoa Kỳ, Bắc Việt quyết định mở rộng chiến trường và tái phát động một cuộc chiến tranh tổng lực mới, mà sử gia thế giới gọi là Cuộc Chiến Tranh Đông Dương Lần Thứ Ba 1973 – 1975 (Lần thứ nhất: 1945 – 1954, lần thứ nhì: 1954 – 1973).
Mục tiêu kế tiếp của chúng sẽ là một tỉnh nào đó nằm trên cao nguyên thuộc Quân Khu II của Việt Nam Cộng Hòạ Trong cuộc chiến tranh Việt Nam, vùng cao nguyên luôn luôn là cánh cửa quan trọng bậc nhất mà phía cộng muốn mở toang để ào xuống đồng bằng miền Nam, phía Việt Nam Cộng Hòa cố khóa chặt nó bằng bất cứ giá nàọ Cho nên các vị Tư Lệnh Quân Khu II đều coi trọng hai tỉnh Kontum và Pleiku, là hai vị trí tiền đồn ngăn chống cơn bão đỏ cộng sản bảo vệ toàn lãnh thổ phía sau lưng.
Khi Thiếu Tướng Phạm Văn Phú nhận nhiệm vụ lên Quân Khu II cuối năm 1974, bản thân ông đã gặp khó khăn đầu tiên, khi ông không được quyền chọn lựa nhân sự cho bộ tham mưu Quân Đoàn II mà ông biết chắc chắn là những sĩ quan mẫn cán và tài ba cùng làm việc với ông, điều mà những vị tư lệnh các quân khu khác đã chưa từng gặp phảị Ông phải chấp nhận bộ tham mưu do Bộ Tổng Tham Mưu bố trí sẵn hay thành phần sĩ quan của bộ tham mưu cũ. Ông sẽ phải tìm cách thuyết phục bộ tham mưu đang chờ đón ông trên Thành Pleime, tức bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II, cùng hợp tác với ông tìm được phương cách làm việc chung và hữu hiệu trong tình chiến hữu để bảo vệ Quân Khu IỊ Nhân đây cũng xin được nhắc lại danh xưng Quân Khu và Vùng Chiến Thuật. Trước năm 1970, trong thời Đệ Nhị Cộng Hòa lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa được sắp xếp lại thành bốn Vùng Chiến Thuật, cải danh từ danh xưng Quân Khu dưới thời Tổng Thống Ngô Đình Diệm và nền Đệ Nhất Cộng Hòạ Theo đà lớn mạnh và cải tổ quân đội từ năm 1967 trở đi, Tổng Thống Thiệu quyết định nâng cao vai trò chiến lược của bốn Vùng Chiến Thuật.
Tháng 10.1970, Tổng Thống Thiệu ký sắc lệnh cải danh bốn Vùng Chiến Thuật thành bốn Quân Khu và danh xưng này giữ đến ngày 30.4.1975. Thiếu Tướng Phạm Văn Phú dù lên cao nguyên rất muộn trong những tháng cuối của năm 1974, đã nhanh chóng thiết trí một trận liệt phòng thủ cao nguyên rất chặt chẽ, dựa trên cái cột xương sống là Sư Đoàn 23 Bộ Binh, với sự tăng cường hùng mạnh của năm Liên Đoàn Biệt Động Quân : 21, 22, 23, 24 và 25, cộng với Lữ Đoàn 2 Kỵ Binh, Thiết Đoàn 21 Chiến Xa và Pháo Binh. Với trận thế cứng như thép đó, Hà Nội nhận thấy không thể đánh thủng nổi như thời mùa hè 1972.
Chúng họp bàn tìm một cái kẽ hở, chỗ yếu nhất của quân ta để thọc mũi nhọn vào, từ đó xé toang ra và mở rộng cường độ chiến tranh. Rà tới rà lui, chúng tìm thấy tỉnh Darlac và Quảng Đức. Nhưng quân cộng đã thất bại nhiều trận lớn trên chiến trường Quảng Đức, mà ở đó có Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân đã đánh chúng thua xiểng liểng trong những tháng cuối năm 1973. Tỉnh Darlac và thành phố tỉnh lỵ Ban Mê Thuột được chọn làm mục tiêu tấn công của chiến dịch mà Bộ Chính Trị Hà Nội mệnh danh là Chiến Dịch 275, danh xưng ghép từ số 2 của tháng 2 và số 75 của năm 1975.
Bước sang tháng 4.1975, nhận thấy chiều hướng chiến tranh đã nghiêng hẳn về phía chúng, Hà Nội cải danh Chiến Dịch 275 thành Chiến Dịch Hồ Chí Minh. Tướng Văn Tiến Dũng sẽ là Tư Lệnh của chiến dịch này và đã dự trù nó sẽ kéo dài trong hai năm 1975 và 1976. Có nghĩa là Tướng Dũng chỉ hy vọng đánh tiêu hao lực lượng QLVNCH, chứ Dũng chưa dám mơ tưởng đến một chiến thắng chung cuộc. Phòng thủ Ban Mê Thuột chỉ vỏn vẹn có Tiểu Đoàn 2 của Trung Đoàn 53 Bộ Binh và một tiểu đoàn của Trung Đoàn 45 Bộ Binh, thuộc Sư Đoàn 23 Bộ Binh với trách nhiệm bảo vệ Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Đoàn do Đại Tá Vũ Thế Quang, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn chỉ huỵ
Nằm chệch về hướng Tây Nam thành phố vài cây số là Phi Trường Phụng Dực do Tiểu Đoàn 3, Trung Đoàn 53 trấn giữ, đồng thời Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn của Trung Tá Võ Ân cũng nằm trong chu vi phi trường. Tiểu Đoàn 1 của Trung Đoàn 53 đang hành quân đánh địch tại mặt trận Daksong của tỉnh Quảng Đức. Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Darlac có trong tay sáu Tiểu Đoàn Địa Phương Quân và một số trung đội Nghĩa Quân đóng rải rác khắp tỉnh Darlac, nhưng ông chỉ có thể cho di chuyển hai tiểu đoàn về phòng thủ thành phố. Quân số của lực lượng phòng giữ Ban Mê Thuột lúc nổ ra cuộc ác chiến tương đương bốn tiểu đoàn.
Phía cộng quân có ba sư đoàn hùng hậu 320, 316 và 10, cùng nhiều đơn vị chiến xa, phòng không, pháo binh, đặc công. Quân số ít ỏi của Ban Mê Thuột không quá 3.000 tay súng, mà phải chống chỏi một sức nặng bốn sư đoàn địch, với quân số tương đương 40.000 ngườị Có nghĩa là mỗi chiến sĩ Ban Mê Thuột phải chiến đấu với 10 tên lính cộng sản. Trước khi chiến trường Ban Mê Thuột khởi diễn, binh đội cộng sản Bắc Việt đã có nhiều cuộc giao tranh với chiến sĩ cao nguyên từ những ngày đầu năm.
Cấp chỉ huy chiến trường B3 địch, tức Mặt Trận Tây Nguyên theo danh xưng của cộng quân do Thượng Tướng Hoàng Minh Thảo làm Tư Lệnh, đã dấy động chiến cuộc khắp nơi để tạo hỏa mù và đánh lạc hướng phán đoán của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II hầu che dấu chuyển động của những sư đoàn sắp tham dự trận đánh Ban Mê Thuột.
Những ngày tháng Giêng năm 1975, các phi cơ oanh tạc của Sư Đoàn 2 và Sư Đoàn 6 Không Quân Việt Nam Cộng Hòa đã rất bận rộn oanh kích nhiều đoàn xe tiếp vận của giặc ở phía Bắc Kontum và đã hủy diệt được 17 xe vận tải Molotovạ Nhiều toán thám kích Lôi Hổ của Nha Kỹ Thuật đã được thả sâu xuống vùng địch và đã phá hủy được nhiều đường ống dẫn dầu của địch. Những chiến sĩ Lôi Hổ, những bóng ma trong rừng sâu và trên đường biên giới đã chiến đấu và chết trong âm thầm để đưa được những tin tức quí báu về Bộ Tư Lệnh.
Trong một cuộc chạm súng và bị truy đuổi ác liệt, một toán Lôi Hổ tình cờ ngồi nghỉ trên một vật tròn dài và lành lạnh. Nhìn kỹ, thì nó chính là một cái ống dẫn dầụ Trước khi rút, quân ta cho nó nổ tung lên trên trờị Những mảng lửa bùng lên thành những chiếc nấm khói đen cuồn cuộn che kín một khoảng trờị Nhưng những chiến công đó không ngăn nổi đoàn quân Bắc Việt đêm ngày rùng rùng tuôn xuống phương Nam. Đặc cộng địch hoạt động rất mạnh và gây nhiều tổn thất cho quân tạ
Ngày 9.1.1975 kho dầu chứa một triệu rưỡi lít nhiên liệu bị đặc công địch đột nhập đặt chất nổ phá hủy hoàn toàn. Sư Đoàn 23 Bộ Binh phối hợp với Biệt Động Quân mở những cuộc hành quân càn quét khu vực phía Bắc tỉnh Kontum trong tháng 1.1975 đã gặp sự kháng cự dữ dội của các đơn vị địch. Dự định tiến lên Căn Cứ Võ Định cũ hồi mùa hè 1972 của Sư Đoàn 23 đã không thành công. Thời điểm này, người hùng Kontum 1972 Chuẩn Tướng Lý Tòng Bá đã rời cao nguyên về Sài Gòn giữ chức vụ Chỉ Huy Trưởng Thiết Giáp Binh, thay thế ông là Chuẩn Tướng Trần Văn Cẩm, rồi đến Chuẩn Tướng Lê Trung Tường.
Ngược lại tại mặt trận Pleiku trên Quốc Lộ 19, cộng quân tràn ngập các cứ điểm của Tiểu Đoàn 233 Địa Phương Quân cách Căn Cứ Lệ Trung 19 cây số về hướng Đông. Chuẩn Tướng Tường lập tức đưa Trung Đoàn 45 Bộ Binh đến giải tỏa và tái chiếm được. Trong khi đó thì Trung Đoàn 271 cộng quân rời bỏ chiến trường Quảng Đức để xuống tham dự mặt trận Phước Long, nên Thiếu Tướng Phú lệnh cho Trung Đoàn 53 Bộ Binh trở về bản doanh Sư Đoàn 53 Bộ Binh ở thành phố Ban Mê Thuột mà cũng là bản doanh của Trung Đoàn.
Trong lúc quân ta di chuyển tái phối trí, thì Sư Đoàn 968 Bắc Việt từ Lào xâm nhập vào lãnh thổ Kontum và Pleikụ Sư Đoàn 968 Bắc Việt đóng quân trong đất Lào đã hai năm, nay nhận lệnh đến thay thế Sư Đoàn 320 được điều xuống mặt trận Ban Mê Thuột, đồng thời với chiến xạ Cuối tháng Giêng, Không Quân Việt Nam phá hủy được 3 chiếc T54 ở phía Bắc Ban Mê Thuột.
Thiếu Tướng Phú điều động Trung Đoàn 53 và Trung Đoàn 45 hành quân tìm kiếm dấu vết Sư Đoàn 320, nhưng chỉ gặp sự kháng cự yếu ớt. Đây là mưu đồ đánh lừa cấp chỉ huy Quân Đoàn II, để Thiếu Tướng Phú cho rằng Sư Đoàn 320 chỉ mở “Diện” (diversion) để che dấu chiến trường “Điểm” chính mà ông cho là sẽ nổ lớn tại Kontum và Pleikụ Trong khi đó thì các chiến sĩ Trung Đoàn 45 Bộ Binh tiếp nhận một cán binh hồi chánh, anh này đã cho biết rằng những đơn vị trinh sát của Sư Đoàn 320 và 10 cộng quân đã có mặt tại Darlac và Quảng Đức. Càng đi gần đến những ngày cuối tháng Hai, có nhiều dấu hiệu nguy hiểm cho thấy có một cái gì đó rất không bình thường sắp diễn ra tại Darlac, hay chính xác hơn, tại thành phố tỉnh lỵ Ban Mê Thuột, rất giống những gì đã xảy ra tại Phước Long hồi cuối tháng 1.1975. Một đoàn công voa của Quân Đoàn II chạy trên Quốc Lộ 21 từ Nha Trang lên hướng Ban Mê Thuột bị quân cộng phục kích gây thiệt hại nặng. Cùng lúc đó một đơn vị Việt Nam Cộng Hòa phục kích một đơn vị trinh sát giặc chỉ cách Ban Mê Thuột 12 cây số về hướng Bắc, đồng thời các chiến sĩ Sư Đoàn 23 Bộ Binh chỉ vài ngày trước ngày mặt trận Ban Mê Thuột nổ ra là ngày 10.3.1975 đã bắt được một Thiếu Úy Truyền Tin Bắc Việt đang thiết trí đường dây gần Quốc Lộ 21.
Tất cả những dấu hiệu lạ thường đó đã khiến cho Đại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng Phòng 2 Quân Đoàn II cùng các cộng sự viên của ông giải đoán, rằng một chiến trường Phước Long thứ hai sắp sửa tái diễn tại Ban Mê Thuột. Phòng 2 Quân Đoàn trình kết luận của mình lên Bộ Tư Lệnh, Thiếu Tướng Phú đồng ý hành động.
Ngày 4.3.1975 Thiếu Tướng Phú lệnh cho Quân Vận chuyển Trung Đoàn 45 đang bảo vệ Pleiku xuống Ban Mê Thuột. Nhưng để làm cho tình hình cao nguyên thêm phức tạp, cộng quân pháo kích dữ dội vào thành phố Kontum và Pleiku ngay trong ngày 4.3.1975, song song đó Trung Đoàn 44 Bộ Binh của Sư Đoàn 23 và Liên Đoàn 25 Biệt Động Quân tại vòng đai bảo vệ thành phố Pleiku bị bộ binh Bắc Việt mở những cuộc tấn công lớn. Thiếu Tướng Phú đã thay đổi kế hoạch điều quân bằng cách cho hủy bỏ cuộc di chuyển của Trung Đoàn 45 về Ban Mê Thuột, đồng thời báo cho Chuẩn Tướng Phan Đình Niệm, Tư Lệnh Sư Đoàn 22 Bộ Binh chuẩn bị gửi Trung Đoàn 42 từ vùng duyên hải lên Pleikụ
Ngày 4.3.1975 đánh dấu ngày thứ nhất Chiến Dịch 275 của Hà Nội khởi diễn trong mưu toan tấn công cao nguyên và có thể đi xa hơn nếu tình hình cho phép. Trước nhất, Đèo Mang Yang trên Quốc Lộ 19 từ Pleiku đổ xuống Bình Định, và Đèo An Khê từ Bình Định đi lên Pleiku bị quân cộng chiếm lấỵ Con lộ tiếp vận cực quan trọng từ duyên hải lên cao nguyên bị chận nghẹt tại hai cao điểm thật hiểm trở. Bằng giá nào quân ta cũng phải khai thông quốc lộ, nên Liên Đoàn 4 Biệt Động Quân vừa từ Quân Khu IV ra tăng viện đã nhận lệnh cùng Lữ Đoàn 2 Kỵ Binh xuất phát từ Pleiku tiến quân giải tỏa chốt địch. Cuộc tiến quân này làm chúng ta nhớ lại những ngày đánh chốt đẫm máu tại Đèo Chu Pao trên Quốc Lộ 14 mùa hè 1972, cũng với Lữ Đoàn 2 Kỵ Binh và Liên Đoàn 2 Biệt Động Quân dưới quyền chỉ huy của Chuẩn Tướng Trần Văn Haị Lần giải tỏa này thật khó khăn quá đỗi, vì hỏa lực yểm trợ cho bộ binh từ phi cơ và pháo binh đã bị giảm sút rất nhiềụ Chiến sĩ Mũ Nâu và Mũ Đen chỉ có thể lấy xương thịt và lòng quyết chiến của mình ra để lấp đầy những thiếu vắng ấy, và để đương đầu với những loại hỏa lực giết người đã quá mạnh của địch. Như các loại súng phóng hỏa tiễn B40, B41, SA7, AT3, đại liên 12 ly 7, 12 ly 8, 13 ly 8, đại bác phòng không 37 ly, đại bác tầm xa 130 ly, 152 ly, 122 ly, hỏa tiễn 122 ly, súng không giật 85 ly, 75 lỵ
Những thứ vũ khí tối tân nhất của khối cộng mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa không có vũ khí tương đương. Cộng thêm với chiến thuật thí quân biển người của bọn tướng tá cộng sản, người lính Việt Nam Cộng Hòa không còn sự chọn lựa nào khác, ngoài việc tận lực chiến đấu đến viên đạn và giọt máu cuối cùng. Trên Quốc Lộ 21 nối liền Ban Mê Thuột với tỉnh Khánh Hòa và thành phố tỉnh lỵ Nha Trang, cộng quân tràn ngập một căn cứ của Địa Phương Quân và hoàn toàn cắt đứt giao thông từ duyên hải lên cao nguyên.
Như vậy hai con lộ huyết mạch đem người và vật lực lên cao nguyên đã bị bóp nghẽn. Thế trận bao vây và cô lập cao nguyên của Tướng Văn Tiến Dũng đã hình thành. Tuy nhiên, với những lợi thế rõ ràng như vậy mà Tướng Dũng vẫn còn ngán ngại sức chiến đấu dũng cảm đến phi thường của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, nên ông ta đã chưa lấy quyết định ngày đánh Ban Mê Thuột là ngày nào gần nhất. Nếu không có chuyện một sĩ quan Truyền Tin Bắc Việt bị quân ta bắt được trên con đường 21 mà chắc chắn sẽ tiết lộ binh tình của địch chung quanh thành phố Ban Mê Thuột, thì có lẽ Tướng Dũng cũng chưa dám liều ra lệnh đánh.
Ngày D ấn định là buổi rạng sáng ngày 10.3.1975. Sự liều lĩnh rất trái với thông lệ thận trọng của tướng lãnh cộng quân đã khiến cho những đơn vị binh đội Bắc Việt tấn công Ban Mê Thuột đã trả một cái giá đắt. Những cán binh non choẹt được huấn luyện qua loa rồi bị thảy vào lò lửa miền Nam đã là những nạn nhân thiêu thân oan khiên của cuồng vọng cướp bóc từ Hà Nộị Cuộc ác chiến Ban Mê Thuột Ngày 8.1.1975, hai ngày sau khi Phước Long của Việt Nam Cộng Hòa thất thủ, Bộ Chính Trị cộng sản Bắc Việt mở cuộc họp bàn thảo mục tiêu tấn chiếm kế tiếp. Ban Mê Thuột được chọn làm mặt trận mở đầu cho Chiến Dịch 275. Nếu chiếm được Ban Mê Thuột rồi, binh đội cộng sản sẽ lấn sâu xuống vùng đồng bằng duyên hải và hy vọng khuấy động được một cuộc “tổng nổi dậy” của nhân dân miền Nam. Chiến dịch này Hà Nội cẩn thận dự trù sẽ kéo dài sang năm 1976 mới có thể đạt được một chiến thắng toàn thể. Như vậy, ngay từ khởi đầu, cộng sản Hà Nội vẫn rất ngán ngại sức kháng cự quyết liệt của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòạ
Tuy rằng Phước Long bị lọt vào tay giặc, nhưng một tiểu đoàn của Sư Đoàn 5 Bộ Binh, Địa Phương Quân, hai đại đội của Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù cùng các Đại Đội Trinh Sát 5, 18 và 25 đã anh dũng kháng cự , đã mở những cuộc đánh cận chiến hạ nhiều xe tăng địch. Trong trận đánh đẫm máu không cân sức ấy Sư Đoàn 7 cộng sản Bắc Việt đã bị quân ta gây thiệt hại nặng. Những chiến xa T54, T59 của giặc được gắn thêm hai tấm bửng sắt dầy hai bên hông xe để chống hỏa tiễn M 72 của quân ta, bình xăng chỉ được đổ một dung tích vừa đủ chạy trong ngàỵ
Điều đó cho thấy phía địch quân rất sợ sức chiến đấu của người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòạ Đại Tướng Văn Tiến Dũng, người nhận trách nhiệm chỉ huy toàn chiến dịch cũng đã để ra gần hai tháng dài nghiên cứu chiến trường mới dám đi đến quyết định tấn công Ban Mê Thuột. Các Sư Đoàn 320, 316 và 10 được đặt thống thuộc chiến dịch. Ngày 8.3.1975, Trung Đoàn 9 của Sư Đoàn 320 cộng quân mở đầu chiến dịch đánh cao nguyên khi chúng tấn công Chi Khu Thuần Mẫn thuộc tỉnh Phú Bổn cách Ban Mê Thuột 60 cây số về hướng Bắc nằm gần ngã ba Quốc Lộ 14 và Tỉnh Lộ 487.
Đại Đội 23 Trinh Sát của Sư Đoàn 23 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa nằm giữ Thuần Mẫn với quân số không quá 150 chiến sĩ bị sức ép quá nặng của Trung Đoàn 9 cộng sản, sau nhiều giờ giao tranh buộc phải rút ra khỏi Chi Khụ Đoàn chiến binh này đã dắt díu nhau về được đến khu vực phi trường Phụng Dực vài ngày sau đó và đã được Trung Tá Võ Ân, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 53 Bộ Binh giao cho trấn giữ một góc phi trường. Một đơn vị của Trung Đoàn 45 Bộ Binh cũng chạm súng lớn với các thành phần của Sư Đoàn 320 Bắc Việt và bị cầm chân trên Quốc Lộ 14.
Kể từ lúc đó đoạn QL14 phía Bắc Ban Mê Thuột đi lên Pleiku và Phú Bổn đã bị quân cộng cắt đứt. Ngày 9.3.1975 đến lượt Sư Đoàn 10 Bắc Việt mở những cuộc tấn công vào Liên Đoàn 24 Biệt Động Quân đang trấn giữ Kiến Đức và Địa Phương Quân ở Đức Lập đều thuộc tỉnh Quảng Đức, nhưng đều bị quân ta đánh tháo luị Cuộc chiến tại Đức Lập diễn ra ác liệt, quân địch cố đánh, quân ta cố giữ. Các chiến sĩ Địa Phương Quân cầm cự được đến rạng sáng ngày 10.3.1975. Trung Tá Nguyễn Cao Vực, Quận Trưởng Quận Đức Lập có mặt cùng với chiến sĩ diện địa đối đầu với quân giặc.
Quân cộng đã dùng đại pháo 130 ly, súng không giật 82 ly bắn dữ dội vào Chi Khu Đức Lập và một Chi Đoàn Kỵ Binh phòng thủ bên trong. Tất cả các xe thiết giáp đều bị bắn cháy ngay từ giờ đầu giao tranh không còn sử dụng được. Quân ta còn chịu một thất bại nữa khi Tiểu Đoàn 1 của Trung Đoàn 53 Bộ Binh bị địch tràn ngập tại khu vực Daksong vào lúc ban trưa cùng ngàỵ Những thành phần còn lại của tiểu đoàn hỗ trợ cho nhau rút lên Darlac và tìm đường về Ban Mê Thuột. Như vậy trong hai ngày khởi diễn chiến dịch cao nguyên 275 quân cộng đã hình thành thế trận gọng kìm bao vây Ban Mê Thuột từ hướng Bắc và hướng Nam. Về phía Đông, Quốc Lộ 21 nối liền Ban Mê Thuột và Nha Trang cũng bị các đơn vị cộng quân chốt giữ. Hướng Tây còn bỏ ngỏ và im lặng một cách lạ thường, cho thấy cơn giông bão chiến tranh sẽ dậy lên dữ dội từ đó. Thiếu Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Đoàn II & Quân Khu II đến lúc này biết chắc tất cả những chiến cuộc rối bời ở Kontum, Pleiku, Quảng Đức trong tháng 2 và đầu tháng 3.1975 chỉ là chiến trường phụ, Ban Mê Thuột mới là mặt trận chánh. Trong lúc tình hình cao nguyên cực khẩn trương, Thiếu Tướng Phú bay xuống Ban Mê Thuột vào Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Đoàn 23 Bộ Binh nghe Đại Tá Vũ Thế Quang, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn, và Đại Tá Nguyễn Trọng Luật, Tỉnh Trưởng Darlac thuyết trình trận liệt phòng thủ với sự có mặt của Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Tư Lệnh Sư Đoàn và Đại Tá Phạm Văn Nghìn, Tỉnh Trưởng Quảng Đức. Đại Tá Quang đã trình Thiếu Tướng Phú trận thế bố trí của ông như sau : – Phía Bắc có Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn 23 Bộ Binh. – Phía Nam là Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Sư Đoàn 23 Bộ Binh và một tiểu đoàn bộ binh. – Phía Đông có Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Darlac và Chi Khu Ban Mê Thuột. – Phía Tây, vùng nguy hiểm nhất, có hậu cứ Thiết Đoàn 3 Kỵ Binh và Kho Đạn Mai Hắc Đế. – Trung Đoàn 53 thiếu, chỉ có một tiểu đoàn đang trấn giữ phi trường Phụng Dực về phía Đông thành phố. Buổi họp kéo dài đến trưa, Đại Tá Luật cho dọn cơm mời mọi ngườị Bữa cơm thời chiến rất đạm bạc. Tất cả đều dùng cơm dĩa, thức uống có nước ngọt hay biạ Thiếu Tướng Phú ăn rất nhanh để còn kịp trở về Quân Đoàn theo dõi tình hình chung. Đại Tá Luật không có thể ngờ rằng, đây là bữa ăn cuối cùng giữa ông và người Tư Lệnh mà sẽ vĩnh viễn đi vào lịch sử một tháng saụ Trọng trách một quân khu với rừng núi mênh mông và dãy Trường Sơn hùng vĩ bạt ngàn đang đè nặng lên đôi vai gầy nhỏ của vị Tướng có vóc đáng mảnh khảnh.
Nhưng nào ai biết được đàng sau khuôn mặt xương xương và khắc khổ đó, là cả một quyết tâm giữ vững từng tấc một của tổ quốc, là một khối óc cứng như thép và một trái tim nồng nàn tình đất nước. Đại Tá Vũ Thế Quang, người sĩ quan Nhảy Dù cùng binh chủng cũ với Thiếu Tướng Phú, đứng nghiêm chào vị Tư Lệnh Quân Đoàn II & Quân Khu II trước khi chia tay với lời thề tử thủ Ban Mê Thuột :”Tôi sẽ giữ vững Ban Mê Thuột và tôi sẽ chết ở đó”. Vẫn chưa được an tâm lắm, về đến Pleiku Thiếu Tướng Phú điện xin Bộ Tổng Tham Mưu gửi cho một Liên Đoàn Biệt Động Quân. Nhưng Bộ Tổng Tham Mưu đã từ chối, viện cớ không còn một lực lượng trừ bị nào nữa, ngoài Liên Đoàn 7 Mũ Nâu đang rất bận rộn hành quân trong lãnh thổ Quân Khu III (Nhưng đột nhiên ngày 14.3.1975, Liên Đoàn 7 Mũ Nâu lại được không vận ra Pleiku, trong lúc Quân Đoàn II đang rất bận rộn với kế hoạch rút quân).
Thiếu Tướng Phú buộc phải sử dụng lực lượng ông có trong tay để đương đầu với trận thế của giặc. Tiểu Đoàn 72 và 96 Biệt Động Quân thuộc Liên Đoàn 21 Biệt Động Quân của Trung Tá Lê Quý Dậu đang trấn đóng trên vùng Đèo Chu Pao QL14 và phòng giữ thành phố Kontum được cấp tốc không vận xuống Buôn Hồ, một làng Thượng cách Ban Mê Thuột 35 km về hướng Bắc. Từ Buôn Hồ, Liên Đoàn 21 Mũ Nâu được dự trù vận chuyển đường bộ xuống Ban Mê Thuột. Song song với cuộc chuyển quân này, Đại Đội 45 Trinh Sát của Trung Đoàn 45 Bộ Binh VNCH đang hành quân ở Ban Don nhận lệnh gấp rút trở về thành phố. Đại Tá Luật gọi Tiểu Đoàn 204 Địa Phương có mặt ở Ban Don nhanh chóng rút về thành phố. Nhưng thời gian đã không còn thuộc về quân ta nữa rồị Lúc 2 giờ sáng rạng ngày 10.3.1975, những trái đạn pháo 130 ly đầu tiên dội xuống thành phố đã mở màn cho trận đánh Ban Mê Thuột. Phố xá còn đang say ngủ giữa đêm trường, bỗng choàng tỉnh vì những tiếng nổ ùng oàng đinh tai nhức óc của đạn pháo địch. Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Darlac báo cáo bị pháo địch dội trúng. Đại Tá Luật từ lầu hai tư dinh Tỉnh Trưởng chạy xuống hầm chỉ huy mà những vị Tỉnh Trưởng tiền nhiệm đã xây cất bằng bê tông cốt sắt rất kiên cố. Hầm có thể chống được đạn pháo, trong hầm có trang bị đầy đủ máy móc truyền tin để liên lạc với những đơn vị trực thuộc cũng như với cấp trên, hay tận trung ương rất dễ dàng.
Từ hướng Tây, các loại đạn đại pháo cộng quân tới tấp nã vào Tiểu Khu, Đài Truyền Tin ở sân bay L19 và Kho Đạn Mai Hắc Đế. Pháo Binh Tiểu Khu và Pháo Binh Sư Đoàn 23 phản pháo mãnh liệt. Tiếng nổ của đôi bên rền trời, những mảng lửa khói của đạn pháo địch nổ bùng lên trên nhà cửa và đường phố Ban Mê Thuột, không khác mấy cuộc đại chiến tại An Lộc hay Kontum hồi Mùa Hè Đỏ Lửa 1972. Cuộc pháo kích kéo dài hai tiếng đồng hồ. Khi màn đạn pháo của địch có vẻ thưa dần, chiến sĩ phòng thủ thành phố biết chắc cuộc xung phong bộ binh của địch sẽ tiếp theo trong vài giây phút ngắn ngủi nữạ Quân ta ghìm súng dưới chiến hào bình tĩnh chờ đợị Những họng đại liên M60 sẵn sàng bắn vào bất cứ cái gì di động trước mặt. Súng bắn tăng M72 được kéo ra trong tư thế sẵn sàng kích hỏa vào những khối thép T54 của lực lượng thiết giáp địch. Lựu đạn chuẩn bị cho những cuộc cận chiến mà chắc chắn sẽ rất đẫm máụ Những đợt sóng xung phong hung hãn của giặc ngay từ những phút đầu đã bị khựng lại thê thảm trước màng lưới hỏa lực rất kiên quyết của quân tạ Quân địch điều động chiến xa rổn rảng lăn bánh xích xông vàọ Sau những trận đại bại mùa hè 1972, lần này bộ binh và xe tăng địch phối hợp nhịp nhàng hơn. Văn Tiến Dũng rất sở trường lối tấn kích tung thâm, hay còn gọi là “Hoa Nở”. Nhiều mũi dùi sẽ thọc rất mạnh và rất sâu vào tận trung tâm kháng cự của quân ta, quậy nát bộ chỉ huy, rồi từ đó đánh bung rộng trở ra mọi hướng, giống như đóa hoa nở. Nhưng cũng chính lối đánh này đã nướng rất nhiều chiến xa địch, vì chúng vào quá sâụ Quân ta lại rất sở trường lối đánh nghênh cản và triệt hạ. Bộ binh địch bị quân ta tập trung hỏa lực tiêu diệt không cho chúng bám vào xe tăng, trong khi đó những toán diệt tăng dùng “Bà Già M72” làm thịt chiến xa của chúng.
Toàn thành phố Ban Mê Thuột sau những ngày yên bình bỗng đã chìm trong cơn bão lửa kinh hồn. Tiếng kêu gào xung phong của giặc nghe rền rền ghê rợn như tiếng của đoàn âm binh từ dưới địa ngục, tiếng đạn nổ ầm ầm khắp mọi hướng, tiếng la hét cận chiến của hai bên vang vọng hãi hùng giữa đêm khuyạ Tại phi trường L19, Đài Truyền Tin đã lọt vào tay giặc. Trong vòng nửa tiếng đồng hồ, cộng quân tiến sát vào căn cứ dùng lựu đạn tung vào hầm phòng phủ làm một số sĩ quan, binh sĩ tử thương và bị thương. Đặc công Bắc Việt tấn công dữ dội vào Kho Đạn Mai Hắc Đế, song chiến sĩ ở đây cang cường đẩy lui nhiều đợt xung phong của chúng. Nhưng đến gần 5 giờ sáng thì vị Đại Úy Chỉ Huy Trưởng Kho Đạn trúng đạn bị thương rất nặng không còn chỉ huy được nữạ Nửa giờ sau Kho Đạn thất thủ. Như vậy hướng Bắc và hướng Tây coi như đã bị bỏ ngỏ, địch đã mở được hai mũi dùi tiến vàọ Khoảng 7 giờ sáng, các đơn vị của Sư Đoàn 320 Bắc Việt đã có mặt trong thành phố, chiến xa địch cũng lăn bánh xích ì ầm tràn vàọ
Bảo vệ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 23 Bộ Binh, Tiểu Đoàn 2/53 chiến đấu anh dũng đánh bung tất cả đợt tấn công của binh đội cộng sản. Chiến sĩ Địa Phương Quân bố trí chung quanh dinh Tỉnh Trưởng làm thành một bức tường vững chãị Những chiếc xe tăng địch chạy lần quầng trên đường phố rất giống cảnh tượng trong lòng thị xã An Lộc và Kontum năm 1972, chẳng mấy chốc mà 5 chiếc T54 đã bị những ống phóng M72 từ Tiểu Đoàn 2/53 Bộ Binh và từ lực lượng Địa Phương Quân bắn hạ. Để thuận tiện phối hợp tác chiến, Đại Tá Luật gọi điện xin Quân Đoàn cho phép ông được di chuyển bộ chỉ huy qua cùng với Bộ Tư Lệnh của Đại Tá Quang. Thiếu Tướng Phú chấp thuận yêu cầụ Những chiếc quan sát cơ L19 của Quân Đoàn II gửi tới chỉ điểm mục tiêu cho Pháo Binh và phi cơ oanh tạc đã đẩy tinh thần chiến đấu của quân cán chính Ban Mê Thuột lên rất cao

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s