Thạch Lam, danh sĩ Tây hồ

 

Posted by ttxcc6 on 05/11/2012

Thoibao Canada

Hoàng Yên Lưu

Thạch Lam có cuộc sống tri túc và tri nhàn. Ngôi nhà của ông ở làng Yên Phụ nằm bên bờ hồ Tây, nghe nói của bà chị, bà Nguyễn Thị Thế, nhường lại khi ông lập gia đình. Dù có bằng tú tài nhưng Thạch Lam không dấn thân vào con đường công chức như anh cả, anh hai và người thứ tư (Hoàng đạo) và cũng không có tham vọng xây dựng sự nghiệp lớn lao như người thứ ba (Nhất Linh). Thạch Lam làm báo, viết văn, một phần vì muốn tìm một lạc thú di dưỡng tinh thần của một người trí thức sống trong không khí ngục tù của chế độ thực dân và phần quan trọng hơn cả là ông muốn bày tỏ

mối cảm thông với người cùng khổ quanh ông, những nhân vật mà trong những ngày thơ ấu ông đã sống cùng họ tại Cẩm Giàng, Hải Dương.
Bản chất của Thạch Lam thẳng tính, trọng tình hơn tiền tài, không thích bon chen, không ham vật chất. Theo Vũ Bằng, một nhà thơ sau này đã kể lại một hành động nghĩa khí của Thạch Lam khi tác giả Sợi tóc được giao cho việc quản lý tài chính của tờ Ngày Nay: “Tôi nợ Thạch Lam rất nhiều về tinh thần. Đối với tôi, anh tốt quá, tốt không thể nào tưởng được, bao nhiêu lần tôi ký bông vay tiền của báo Ngày nay, Thạch Lam đều chuẩn nhận hết, không từ chối một lần nào. Mà phải nói thực rằng mười lần tôi nhận trước tiền bài như thế thì họa hoằn có hai ba lần tôi viết cho báo Ngày Nay. Còn các lần khác thì tôi cứ tiêu đại đi rồi quên mất, không viết trừ… ”
Bạn bè ông, nhất là những người thân cận với ông như Đinh Hùng và Huyền Kiêu, kể lại cuộc sống của ông rất thanh nhàn, đủng đỉnh và mang tính cách một ẩn giả, một kẻ sĩ theo kiểu “hiêu hiêu nhiên điếu Vị, canh Sằn”.
Nơi ông ở cũng cực kỳ đạm bạc. Trước nhà có cây liễu rũ bóng xuống mặt nước hồ và nghe nói do chính Thạch Lam trồng. Thạch Lam trân trọng cây liễu này và thường cùng bạn bè bày cuộc trà đàm hay cạn men bên gốc liễu nhìn ra mặt hồ sương phủ. Cũng vì thế mà thi sĩ Huyền Kiêu (1915-1995) đã tặng Thạch Lam mấy câu, xem ra tả đúng cảnh của một Đào Tiềm đời Tấn có danh là Ngũ liễu tiên sinh vì trước nhà trồng năm cây liễu:

Tây hồ có danh sĩ
Nhà thì ờ nhà Tranh
Cửa trúc cài phên gió
Trước thềm bóng liều xanh

Thạch Lam không có nhiều bạn thân nhưng rất hiếu khách và khách của ông cũng là nhân vật trong đám văn mặc. Trong nhóm Tự lực văn đoàn, có lẽ ông là người được làng văn ngày ấy quý mến nhất. Có người không thích Hoàng Đạo. Lại có người không ưa Thế Lữ và Xuân Diệu nhưng đồng thời với ông không có cây viết nào mà không thích kết giao với danh sĩ Tây hồ kể cả những kẻ từng bút chiến với ông như Vũ Bằng (1913-1984). Để chứng tỏ điều này chúng ta mượn lời Đinh Hùng (1920-1967), một nhà thơ kề cận nhất với Thạch Lam và ngôi nhà Yên Phụ, kể lại một Tết kỷ niệm với Thạch Lam trước khi nhà văn tài hoa qua đời:

“Quê Thạch Lam ở Cẩm Giàng (Hải Dương). Mùa xuân năm đó 1942, mồng ba tết, chúng tôi rủ nhau về họp mặt tại quê anh. Trong một ngôi nhà gạch kiểu ánh sáng, quang đãng mà ấm cúng, giữa một vườn cây nhiều hoa trắng, chúng tôi quây quần thù tạc. Ngày Tết ở miền quê, không khí gia đình hòa lẫn vào không khí thân hữu, tự nhiên đượm một phong vị vừa thân mật, vừa sảng khoái.
Bọn chúng tôi gồm có: cặp vợ chồng kịch sĩ và thi sĩ Song Kim-Thế Lữ, cố văn sĩ Khái Hưng, cố văn sĩ Trần Tiêu, ông Hoàn, quản lý nhà xuất bản “Đời nay”, anh bạn thơ Huyền Kiêu, nhà bác sĩ kiêm nghệ sĩ Nguyễn Tường Bách, Thạch Lam và tôi. Trong bọn thì tôi ít tuổi nhất, nên những người kia gọi tôi là tiểu tử (benjamin) để rồi gọi trệch đi là… tửu tử.
Bữa rượu đầu xuân năm ấy, phải nói rằng chúng tôi đã uống với tất cả chất men say ngây ngất bốc lên từ chính tấm lòng xuân phơi phới của mình, hòa với cái say của hương khói trong nhà, của mưa bụi ngoài trời, của lá hoa xuân huyền diệu, của mùi thơm cây cỏ ngoài vườn…
Câu chuyện “văn nghệ” điển hình nhất của chúng tôi tất nhiên khởi sự chung quanh… mâm cỗ Tết, có đủ các trân vị đặc biệt của cái Tết Việt Nam thuần túy: bánh chưng xanh, thịt mỡ dưa hành, cá kho, giò thủ, thịt đông, cùng các món đồ nấu cổ điển trình bày rất hòa điệu. Bởi vì đây là cỗ Tết của gia đình tác giả Hà Nội băm sáu phố phường, nhà văn đã nâng cao vấn đề ẩm thực lên thành một nghệ thuật tinh vi.
Chúng tôi đều biết cái khiếu thưởng thức món ăn của Thạch Lam rất tế nhị, và chúng tôi thường nói đùa rằng: Thạch Lam ăn có nguyên tắc, uống có lập trường, và phê bình vấn đề ăn uống với một quan điểm siêu đẳng…
Tôi không bao giờ quên cái dáng điệu ngồi rất đẹp của anh, khi nâng chén: cái đầu nghiêng nghiêng, cặp mắt lim dim, anh rung đùi nhắc lại một câu mà anh đã viết trong Hà Nội băm sáu phố phường: Hãy bảo cho tôi biết bạn ăn uống ra sao, tôi sẽ nói cho bạn rõ bạn là hạng người nào.
Chúng tôi đồng thanh lấy giọng ê a như ngâm thơ, và cùng gõ nhịp đũa xuống mâm, đọc to câu đó lên trước khi cạn chén, để rồi gật gù kết luận rằng đó là một câu “danh ngôn” đắc ý nhất của “danh sĩ” Thạch Lam.
Tôi cũng không quên được cái chất men rượu xuân năm ấy, sánh quyện đầu lưỡi ngọt lừ mà tê lịm, có thể cứ uống mềm môi mà say ngất lúc nào không biết. Rượu đựng trong nậm sứ cổ, rót vào chén nhỏ men trắng như ngọc, càng tôn thêm phẩm chất và hương vị. Trong đời tôi, có lẽ chưa bao giờ được uống thứ rượu ngon như thế. Phải chăng vì rượu có thấm đượm cả cái men xuân kỳ diệu? Nhưng không phải tôi tự huyễn hoặc. Tất cả những người khác đều công nhận là rượu ngon lắm: thuần chất hơn Mai Quế Lộ, say hơn Thanh Mai, thanh khiết hơn các thứ rượu cúc, rượu cẩm, và cố nhiên không nên so sánh với rượu Tây, vì đây là chất men hợp với huyết thống con người Đông Phương trầm mặc.
Uống rượu ngon thì biết là rượu ngon duy không ai đoán biết là rượu gì! Thạch Lam cười bí mật, gọi người nhà bưng cả vò rượu lớn ra, chỉ vào mảnh giấy hồng điều dán làm nhãn hiệu có viết bốn chữ Nho “Đào Lê Mỹ Tửu”. Anh nghiêm trang giải thích: “Đào Lê Mỹ Tửu” là rượu ngon đành rồi! Còn đào lê không phải quả Đào với quả Lê, mà còn nói lái lại, chỉ là Đề Lao: Đề Lao là nhà tù, ai mà không biết? Thứ rượu này dẫn người ta đến nhà tù dễ như bỡn; vậy chỉ là rượu ngang, rượu lậu thuế!
Chúng tôi cùng phá lên cười và hô lớn:
“Đào Lê Mỹ Tửu vạn tuế!”
“Đả đảo Tây Đoan!”
Nói đến Tây Đoan, lập tức mọi người nhớ ngay đến anh chàng thi sĩ tác giả Thơ thơ là Xuân Diệu, mà kịch sĩ Đoàn Phú Tứ gọi là Xuân Rượu, vì lúc đó Diệu vừa thi đậu làm cò mi đoan và Diệu đã được làng văn tặng cho hai câu thơ:
Đương làm thi sĩ hóa Tây Đoan.
Nửa mặt nhà thơ, nửa mặt quan…
Nói đến Tây Đoan người ta còn truyền tụng với nhau câu chuyện sau đây: “Một đêm giao thừa, Xuân Diệu và Huy Cận đã rủ nhau về ăn tất niên ở Cẩm Giàng, quê nhà Thạch Lam, nghĩa là cũng ở gần nhà mà chúng tôi đang họp mặt. Hai anh chàng Xuân và Huy đã cùng thức trắng đêm bên cạnh nồi bánh chưng, để rồi, khi bánh chưng vừa luộc chín, một mình nhà thơ Xuân Diệu đã ăn sốt sột hết đúng…  bốn cái bánh chưng lớn còn nóng hổi, bốn tấm bánh chưng lớn vừa bằng bốn viên gạch lá nem vuông vắn, mỗi chiều xấp xỉ 20 phân tây, bề dài ít nhất cũng ba, bốn phân Tây! Thành tích “ăn” đó có thể coi là kỷ lục xuất chúng ở vào cái thời đã khuất bóng cụ Lê Như Hổ.
Người ta kinh dị mà kể với nhau câu chuyện “thi sĩ Xâu Diệu (họ Ngô) một mình ăn hết bốn tấm bánh chưng cỡ lớn, và ăn liền một mạch như voi cuốn, ăn thẳng thừng không ngẫm nghĩ, không suy tư, tất nhiên là không cần “ăn có lập trường” như Thạch Lam!”
Câu chuyện rất thực, không phóng đại mảy may. Chính Thạch Lam xưa nay vẫn được tiếng là không nói phiếm bao giờ, cũng phải xác nhận là đúng. Anh chép miệng phê bình bằng một nửa câu danh ngôn bất hủ: Hãy nói cho tôi biết bạn ăn uống ra sao…  Và anh bỏ lửng câu nói thay thế bằng một nụ cười đầy ý nghĩa”.
(Trích Men xuân quê nhà Thạch Lam -Tạp chí Sóng dội miền Nam -1961)

Trả lời

Điền thông tin vào ô dưới đây hoặc nhấn vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s