THE PENTAGON PAPERS Lịch sử những quyết định của Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam – Kỳ 1

Posted by ttxcc6 on 07/11/2012

Tuần báo Sống

LTS.-Từ hơn 3 thập niên qua, những độc giả Việt Nam đã nghe nói nhiều đến những tài liệu bị tiết lộ này và một thờichúng đã là những trái bom dư luận, không những tại Việt Nam, Mỹ mà còn tại các nước khác có liên hệ trực tiếp hay gián tiếp đến chiến tranh Việt Nam. Nhưng ít người được đọc hay có thời giờ để đọc hết gần 3,000 trang tài liệu được tổng hợp này. Nay, bước qua tuổi 70 cho nên vào cuối đời tôi muốn lựa chọn lại hầu hết những đoạn quan trọng nhất trong tập II và tập III, mỗi tập vào khoảng 800 trang tài liệu của Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ nhan đề “Lịch sử những quyết định của Hoa Kỳ trong cuộc chiến Việt Nam”. Công việc này có sự cộng tác của LS. Lê Công Tâm trong việc sưu tra, cung cấp tài liệu. Phương pháp làm việc của tôi: tôn trọng nội dung nguyên tác, những văn kiện, các phần phân tích của các chuyên viên. Trong trường hợp cần thiết, tôi có thể kèm vào những “lời dẫn truyện” hay “ghi chú” để cho tài liệu thêm mạch lạc phù hợp với độc giả Việt Nam và để cho dễ đọc, dễ nhớ những sự kiện bí mật trong chiến tranh Việt Nam cho đến nay chưa được biết đến.

Phần I NHỮNG CAM KẾT VÀ NHỮNG CHƯƠNG TRÌNH CỦA CHÍNH QUYỀN KENNEDYTẠI VIỆT NAM NĂM 1961

(Lời dẫn: thực sự ra câu chuyện chiến tranh Việt Nam thường được bắt đầu bằng giai đoạn trước Hiệp Định Geneve 1954. Nhưng giai đoạn Mỹ can dự vào cuộc chiến này khởi sự từ đầu thập niên 60, hay nói một cách chính xác hơn là vào thời điểm có những cam kết của chính quyền của Tổng Thống John F. Kennedy năm 1961. Những tranh cãi không thể chấm dứt về chiến tranh Việt Nam khởi đi từ thời kỳ này.

Tóm lược và phân tích vấn đề thay thế Tổng Thống Ngô Đình Diệm và kế hoạch CIP

Khi John F. Kennedy lên nắm quyền tại Hoa Kỳ, viễn tượng một cuộc khủng hoảng tại Việt Nam rút cuộc đã được nhận ra một cách rộng rãi trong chính phủ dù rằng chưa có gì nhiều nhưng cũng đã đủ để đánh giá. Vị đại sứ ở Saigon của chúng ta đã gởi những điện tín ngoại giao bày tỏ sự lo ngại trong suốt một năm và hai lần trong những tháng gần đây (Tháng 9 năm 1960 và một lần nữa vào tháng 12) đã kết thúc sự đánh giá tình hình bằng cách thận trọng nêu lên câu hỏi “liệu Hoa Kỳ không sớm thì muộn cũng phải vận động để thay thế Ngô Đình Diệm”. Chỉ nội trong một tuần lễ sau khi ngồi vào Tòa Bạch Ốc, Tổng Thống John F. Kenney đã nhận được và chấp thuận một Kế Hoạch Chống Nổi Dậy (Counter Insurgency Plan-CIP), một kế hoạch phải mang được cái vẻ thong dong hơn, đang trải qua giai đoạn dự thảo và tổ chức cho 8 tháng đầu tiên.

Kế hoạch CIP là một kế hoạch khiêm tốn nhất theo tiêu chuẩn mà chúng ta (Mỹ) bắt đầu trở nên quen thuộc ở Việt Nam. Kế hoạch này đưa ra đề nghị tài trợ cho thêm 20,000 người vào quân số của quân đội VNCH lúc đó đã lên tới 150,000 quân rồi, cộng thêm với sự trợ giúp cho khoảng nửa lực lượng chống du kích thường được gọi là Bảo An (Civil Guard). Ngược lại, CIP đòi hỏi chính phủ Ngô Đình Diệm phải thực hiện một số những cải tổ mà phía Hoa Kỳ cho rằng là điều thông thường cần làm, chẳng hạn như loại bỏ các khó khăn ra khỏi hệ thống chỉ huy của quân đội, trong đó có việc 42 viên chức khác nhau phải chịu trách nhiệm trực tiếp với ông Diệm (38 tỉnh trưởng, 3 tư lệnh vùng và một Tham Mưu Trưởng) chia sẻ bộ chỉ huy hành quân.

Kế hoạch CIP bị thay thế vào Tháng Năm bởi một một văn bản của một chương trình trong kế hoạch này được nhân rộng thêm và điều ý nghĩa duy nhất lâu dài hơn mà chương trình nguyên thủy có được chính là có thể đưa ra trong một chừng mực nào đó một bài học để thương lượng với ông Diệm cho chính phủ Hoa Kỳ (và lúc đó dù không nhìn thấy trước được, một bài học thương lượng với toàn chính phủ VNCH). Những cuộc thương lượng cứ tiếp diễn mãi; phần lớn những nhân vật quân sự và dân sự của cả hai chính phủ Hoa Kỳ và VNCH bắt đầu mất kiên nhẫn đối với việc giải quyết cuộc chiến. Tổng Thống Ngô Đình Diệm hứa hẹn hành động theo một số điểm đòi hỏi của người Mỹ, nhưng rồi cuối cùng chỉ ban hành một vài sắc lệnh trong đó phần đông không theo kịp tình hình. Về một vài mục đích thực tế, danh sách những “cải tổ cần thiết” được đưa ra như một phần của kế hoạch CIP, kể cả những điều mà ông Diệm hàm ý rằng ông đã đồng ý có thể đã bị thay thế bởi những điều không thay đổi đối với danh sách cải tổ mà chính phủ Hoa Kỳ đưa ra hồi cuối năm với hiệu quả công bằng, nghĩa là những cải tổ sẽ được đền bù bằng việc mở rộng viện trợ Hoa Kỳ theo đề nghị của Phái Bộ Taylor (Taylor Mission).

Thương lượng giữa Mỹ và Ngô Đình Diệm

Những cuộc thương lượng với Tổng Thống Ngô Đình Diệm kết thúc vào Tháng Năm, không phải vì những vấn đề đã được giải quyết mà vì chính phủ Mỹ quyết định tạm quên những nỗ lực thúc ép Tổng Thống Diệm trong giây lát và thay vào đó là chiến thuật dỗ ngon dỗ ngọt ông ta phải cải tổ bằng cách chiếm được lòng tin của ông. Không còn nghi ngờ gì nữa là điều này phản ảnh quan điểm, theo đó, áp lực cũng chẳng đi đến đâu và sự thay đổi cách tiếp cận có thể đạt kết quả tốt hơn.

Bước khởi đầu của cuộc thương lượng với ông Ngô Đình Diệm bắt đầu từ ngày 20 tháng 4, 1961. Tiếp theo ngay sau vụ thất bại của Hoa Kỳ tại Vịnh Con Heo (Cuba) và với triển vọng thảm họa cận kề nhất xảy ra ở Lào, Tổng Thống Kennedy đã đòi Thứ Trưởng Quốc Phòng Gilapatric phải nghiên cứu một chương trình cứu vãn tình hình ở Việt Nam. Theo yêu cầu của Tổng Thống, Gilpatric phải hình thành kế hoạch một tuần sau đó. Đây chỉ là những gì được khai triển rộng thêm từ chương trình CIP với ám chỉ-không được ghi vào văn bản-rằng những nỗ lực mới sẽ có hiệu quả mà không cần đòi hỏi bất cứ điều gì nơi ông Diệm (Đồng thời, Đại Sứ Durbow, đã làm đại sứ 4 năm liên tiếp ở Việt Nam sẽ được thay thế bằng Frederick Nolting và điều này góp phần thêm vào niềm hy vọng một khởi đầu mới mẻ sẽ xảy ra với ông Ngô Đình Diệm).

Thực ra, không ai trông đợi bất cứ một điều gì hon là những điều nằm trong chương trình của Gilpatric và thực tế người ta chỉ thấy rằng điểm chính nằm trong kế hoạch gọi là mới mẻ nói trên là việc đẩy tướng (tình báo-ND) Lansdale vào vai trò “điều hợp viên rộng rãi cấp chính phủ và quản trị viên chương trình thử nghiệm lớn lao về kỹ thuật chống nổi dậy”. Landsale phục vụ như Viên Chức Điều Hành Lực Lượng Đặc Nhiệm (EOTF) mà Gilpatric đã tổ chức, trong đó những gì ông đề nghị sẽ phải cung cấp được tính chất tiếp nối và “vai trò chế ngự trong guồng máy cầm quyền tại Miền Nam Việt Nam”.

(GHI CHÚ: Thật ra, cho đến khi cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng Robert McNamara viết cuốn “Argument Without End”, cái lý do khiến Hoa Kỳ nhanh chóng quyết định can thiệp vào Việt Nam trước cả biến cố tầu Maddock ở vịnh Bắc Việt vẫn còn rất mù mờ và người ta có cảm tưởng Hoa Kỳ non tay trong vụ này chỉ vì hoài nghi là Tổng Thống Ngô Đình Diệm không đủ khả năng điều hành cuộc chiến, nếu nó mở rộng với sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ trên chiến trường Việt Nam. Ngược lại, Washington quyết định nhanh chóng can thiệp vào Việt Nam tích cực hơn là do từ sự thất bại của vụ đổ bộ Vịnh Con Heo (Cuba) và tình hình nguy ngập do áp lực của Cộng Sản Lào với chính phủ Vạn Tượng. Washington sợ sự thất bại của phe quốc gia ở Lào sẽ ảnh hưởng đến Miền Nam Việt Nam. Tổng Thống Kennedy đòi Bộ Quốc Phòng Mỹ phải lập ngay kế hoạch để “cứu Miền Nam Việt Nam” là như vậy)

Rất đúng hạn và mang tính khẩn cấp, bản phúc trình của Gilpatric được đệ nạp vào ngày 27 tháng 4 năm 1961 khi cuộc khủng hoảng ở Lào đã lên tới đỉnh điểm, một hội nghị mới ở Geneve đã được thỏa thuận. Nhưng cũng chính vào thời điểm ấy, mối hoài nghi rằng phe thân Tây Phương ở Lào sẽ chẳng còn gì để thương lượng trong hội nghị Geneve mới này ngày một nghiêm trọng. Ngay cả khi Hoa Kỳ ủng hộ một giải pháp (chính phủ liên hiệp Quốc Cộng tại Lào), nó cũng đã biểu hiện sự nhượng bộ so với quan điểm mà Hoa Kỳ đã theo đuổi những tháng trước khi chính quyền Eisenhower chấm dứt. Nếu như tình hình ở Lào thực sự tệ hại và nếu không thể tránh được, Lào sẽ theo gót chân của vụ đổ bộ thất bại tại Vịnh Con Heo vào đúng lúc mà Liên Xô cũng đang đe dọa có những hành động chống lại Tây Bá Linh. Vì thế người ta có thể hiểu được lý do tại sao sự nhấn mạnh của Đại sứ Gilpatric trong bản phúc trình của Lực Lượng Đặc Nhiệm được chuyển từ việc làm sao cho chương trình viện trợ chống nổi dậy được hữu hiệu sang việc tìm một phương thức chứng tỏ cho chính phủ Miền Nam Việt Nam và những chính phủ khác thấy rằng “sự nhượng bộ xa hơn ở Lào sẽ không báo hiệu sự nhượng bộ nghiêm trọng tại Việt Nam”.

Vào ngày 28 tháng 4 năm 1961, một phụ đính của bản phúc trình của Lực Lượng Đặc Nhiệm đề nghị Hoa Kỳ phản ứng ngay đối với ảnh hưởng do khủng hoảng ở Lào bằng sự hỗ trợ của Hoa Kỳ nhằm gia tăng lực lượng ở Miền Nam Việt Nam (phúc trình nguyên thủy đã đề nghị Hoa Kỳ chỉ nên yểm trợ thêm nhiều tài chánh cho những lực lượng được thành lập theo kế hoạch CIP) và tiến xa hơn bằng một lời cam kết khiêm tốn về việc đưa những đơn vị tác chiến vào Miền Nam Việt Nam với nhiệm vụ được đề nghị là thành lập hai trung tâm huấn luyện.

Vào ngày 29 tháng 4, 1961, Tổng Thống Kennedy ủng hộ bản dự thảo đề nghị nguyên thủy, nhưng không có hành động nào đáng kể đối với những đề nghị trong bản phụ đính.

(GHI CHÚ: Cho đến nay dư luận, không rõ đến từ đâu vẫn cho rằng, Tổng Thống Ngô Đình Diệm là người chống lại việc đổ bộ quân đội Mỹ vào Việt Nam. Ông chỉ muốn Hoa Kỳ viện trợ vũ khí và tiền bạc để VNCH tự chống lại Việt Cộng. Do không muốn Hoa Kỳ đổ quân vào Việt Nam cho nên Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã bị Mỹ giết trong cuộc đảo chánh 1 tháng 11 năm 1963. Thực tế, không có tài liệu nào đáng tin cậy để chứng tỏ điều này. Ngược lại những tài liệu trong Pentagon Papers cho thấy rằng Kennedy là người bác bỏ nhiều lần yêu cầu để đơn vị tác chiến của Hoa Kỳ có mặt trên chiến trường Việt Nam. Áp lực của chính quyền Kennedy là đòi ông Diệm phải cải tổ chính trị, đẩy mạnh dân chủ hóa và làm cho những guồng máy chống nổi dậy của Miền Nam Việt Nam hữu hiệu hơn)

(Còn tiếp)

THE PENTAGON PAPERS Lịch sử những quyết định của Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam – Kỳ 2  -Những gì mà Tướng Mexwell Taylor và Phụ tá Walt Rostow báo cáo chính là việc Saigon sẽ phải đương đầu với cuộc khủng hoảng niềm tin, làm gia tăng mối hoài nghi từ Vương quốc Lào rằng Mỹ sẽ sa lầy tại Việt Nam và mối nghi ngờ chính quyền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm thiếu khả năng ngăn chặn và đánh tan Việt Cộng.
(Còn nữa)

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s