TRẦN VĂN BÁ: “CON RỒNG LẠC LONG CỦA BIỂN ĐÔNG”!

Theo:hennhausaigon2015

“Con rồng Lạc Long của Biển Đông đã u sầu câm nín

Vì xác người bạc sóng kêu than”

(Thơ Dương Như Nguyện)

Trong cuộc chiến Việt Nam vừa qua, một trong những tờ báo mà người Việt Quốc Gia miền Nam hết sức căm ghét là tờ l’Express của Pháp. Trong cuộc chiến tranh tự vệ của quân dân miền Nam chống lại cuộc xâm lăng của Cộng sản miền bắc, tờ báo này đã gây ra không biết bao nhiêu thiệt hại cho phía những người Quốc Gia.

Tờ báo này qua tay bỉnh bút thiên tả nặng ký Oliver Todd đã ra rả tung hô Hồ Chí Minh, đã bỏ công lặn lội vào các vùng do Cộng sản kiểm soát ở miền Nam và ca tụng, thần thánh hóa những cán binh Cộng Sản như những anh hùng của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc.

Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau tháng Tư năm 1975, sự thật đã làm Oliver Todd mở mắt. Tháng 6-1978, tuần báo l’Epress đã đăng một bài mang tựa đề “Le Goulag Indochinois”(tạm dịch Đông Dương: Quần đảo Ngục Tù). Đây là một bài viết chứng minh sự phản tỉnh hoàn toàn của Oliver Todd.

Trong bài viết, ký giả phản tỉnh Oliver Todd đã nhắc tới một lời phát biểu của văn hào Nga lưu vong Solzhenitsyn. Trong cơn hấp hối của miền Nam, đoán trước sự chiến thắng của Cộng sản và những gì họ sẽ làm trong tương lai ở Việt Nam, ngày 11 tháng Tư năm 1975, văn hào người Nga này đã gửi đến thế giới một thông điệp vắn tắt: “Toàn thể nước Việt Nam sẽ trở thành một trại tập trung.” Lời tiên đoán này đã trở thành sự thật.

Tiếp theo đó, Oliver Todd còn viết nhiều bài vạch trần những mặt trái của xã hội Cộng sản mà bấy lâu nay được che lấp bởi hào quang và huyền thoại. Một trong những tác phẩm của Todd là quyển “Cruel Avril 1975: La Chute de Saigon” (tạm dịch Tháng Tư Đen 1975: Sự sụp đổ của Sàigòn) để tưởng niệm và tôn vinh một người ViệtNam mà ông đã có dịp gặp gỡ: Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Paris Trần Văn Bá.

Có lẽ mọi người còn nhớ, Trần Văn Bá là con của cố Dân biểu Trần Văn Văn, du học tại Pháp từ trước 1975 và giữ chức Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Việt Nam tại Paris. Trong những ngày cuối cùng của chế độ Việt Nam Cộng Hòa, Đại sứ Việt Nam Cộng Hòa tại Pháp lúc ấy làNguyễn Duy Quang đang chuẩn bị bàn giao Đại sứ quán VNCH tại Paris cho đại diện Ngoại giao của Cộng sản và không thiêu hủy các hồ sơ mật. Chính Trần Văn Bá đã cùng các sinh viên trong Tổng hội Sinh viên Việt Nam trèo lên tầng lầu chứa các hồ sơ và tiêu hủy các hồ sơ đó.

Ai đã từng theo dõi cuộc đấu tranh chống Cộng của người Việt tại Pháp trong giai đoạn 1975-1980 chắc hẳn không ai mà không biết Trần Văn Bá, một trong những người lãnh đạo chủ chốt.

Cùng với các ông Lê Quốc Túy, Mai Văn Hạnh (đồng Chủ tịch Mặt trận Thống nhất các Lực lượng Yêu nước Giải phóng Việt Nam), Trần Văn Bá  trở thành một trong những bộ óc lãnh đạo của tổ chức kháng chiến này.

Ngày 6 tháng 6 năm 1980, sau năm năm chuẩn bị và trăn trở suy nghĩ, chán ngán các trò tranh đấu chống Cộng bằng những cuộc thảo luận tại những phòng khách sang trọng ở các thành phố, thủ đô Pháp, Mỹ, Trần Văn Bá bay sang Thái Lan. Dưới bí danh C.4 trong tổ chức, anh đã góp phần tuyển mộ, tổ chức, huấn luyện cho các chiến sĩ kháng chiến, chuẩn bị xâm nhập quốc nội.

Kỷ niệm hai năm ngày rời Paris, từ vùng hoạt động, anh gửi ra ngoài một lá thư, có đoạn viết:

 “Tôi vẫn mạnh khoẻ. Thật là gay go và cực khổ. Nhưng tôi cảm thấy được sự liên đới mật thiết giữa tôi với quê hương nghèo khổ, bất hạnh và đói khát. Công cuộc giải phóng đất nước, chủ yếu sẽ là công trình của những người kháng chiến quốc nội, chứ không phải của các chính trị gia lưu vong. (do tác giả bài này in đậm).

Trong những ngày anh còn ở Thái Lan, ông Trần Văn Tòng, anh ruột của anh (sau này là Chủ tịch Ủy ban Quốc tế Trần Văn Bá, trụ sở ở Paris) đã đến thăm và đã được anh tâm sự:“Quả thật là em đang làm cái chuyện đội đá vá trời.”

Và rồi, từ giã C.1 (bí danh của ông Lê Quốc Túy) anh cùng C.2 (bí danh của ông Mai Văn Hạnh) và một số chiến hữu khác mang vũ khí, đạn dược, phương tiện liên lạc xâm nhập quốc nội.

Sa cơ, anh và ông Mai Văn Hạnh cùng một số chiến hữu cùng xâm nhập và một số chiến hữu cơ sở quốc nội bị Cộng sản bắt.

Bạo quyền Hà Nội đã mở một phiên tòa hát bội, được quảng cáo rùm beng ngày 19-12-1984 tại Nhà hát Thành phố Sàigòn để xử anh cùng 21 chiến hữu khác trong tổ chức.

Phiên tòa này, thực chất chỉ là một cuộc trình diễn hình thức và đọc lên các phán quyết đã được định trước: 5 án tử hình dành cho các ông Mai Văn Hạnh, Trần Văn Bá, giáo sư Hồ Thái Bạch, Huỳnh Vĩnh Sanh  Lê Quốc Quân (em của ông Lê Quốc Túy).

Trước phiên tòa, Trần Văn Bá đã giữ trọn vẹn khí phách của một chiến sĩ Quốc Gia can trường. Mặc dù theo luật, các tử tội có thể xin ân xá, nhưng anh đã thẳng thừng từ chối.

Trong số những người từ bên ngoài xâm nhập Việt Nam để hoạt động, có hai người lãnh án tử hình là Trần Văn Bá và Mai Văn Hạnh. Ba người còn lại thuộc cơ sở quốc nội.

Trong những người này, chỉ có ông Mai Văn Hạnh là thoát khỏi mũi súng của đội hành quyết. Là công dân Pháp, ông được chính phủ Pháp tích cực can thiệp và đã được thả về Pháp sau nhiều năm tù. Trần Văn Bá và các chiến hữu khác đã lần lượt đền nợ nước trong năm 1985.

Trong phiên tòa, một cán bộ cao cấp của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao, đóng vai trò công tố viên, đã lồng lộn quy kết cho Trần Văn Bá và các chiến hữu của anh những tội danh nặng nề nhất. Đồng thời cũng lên án các “thế lực phản động quốc tế, bọn bành trướng Bắc Kinh, quân phiệt Thái Lan” đã tiếp tay hỗ trợ cho Mặt trận Thống nhất các Lực lượng Yêu nước Giải phóng Việt Nam. Đặc biệt Hà Nội đã tố cáo đích danh Tình báo Lục quân Thái Lan do Tướng Yongchaiut, Tham mưu trưởng Lục quân Thái lan vào lúc đó chỉ huy đã tận tình giúp đỡ tổ chức này. Youngchaiut sau này trở thành Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Thái Lan và đã qua thăm ViệtNam.

Anh Trần Văn Bá đã chết. Hơn hai mươi năm đã trôi qua. Oliver Todd đã đặt câu hỏi:

“Cũng như những người kháng chiến vô danh khác, Trần Văn Bá là người của lý tưởng hay thực tế, can đảm hay mạo hiểm? Anh là một anh hùng gương mẫu hay là một kẻ tuễn đạo vô ích? Cuộc đấu tranh mà anh bá theo đuổi là một cái gì đó mơ hồ, tuyệt vọng hay một thách đố xứng đáng để chúng ta kính phục, thông cảm và ủng hộ?”

Đối với người Việt Nam chúng ta, có lẽ không cần thiết phải đặt ra một câu hỏi như vậy. Rõ ràng anh Trần Văn Bá là một người tranh đấu vừa lý tưởng vừa thực tế, can trường và dám mạo hiểm. Anh là một anh hùng gương mẫu và là một kẻ tuẫn đạo, và con đường anh đã theo đuổi, cuộc đấu tranh của anh là một thách đố hết sức xứng đáng để chúng ta kính phục và hết lòng biết ơn.

*

Trong 27 năm qua, đã có nhiều người làm thơ ca tụng anh hùng Trần Văn Bá.

Trong đó có bài thơ “TÔI CHƯA BIẾT MÀ ĐÃ GỌI TÊN ANH” của nhà văn Dương Như Nguyện, tác giả “Daughters of the River Hương”, theo tôi, là một bài thơ chắc chắn sẽ sống mãi với thời gian.

“Trần Văn Bá

Tôi chưa biết anh

Mà đã hình dung ra đứa bé trai chạy chơi ở Cù Lao Cát,

Đứa bé thích hội họa, thích máy bay, ở tuổi ngây thơ chắc đã mơ làm nên vũ trụ, như họa sĩ, như nhà phát minh cơ khí.

Ngày mẹ đặt vào nôi, đặt luôn tên anh là chính đạo.

Mộng bá vương là mộng giúp đời, như tùng bách trong rừng sâu,

Cô độc mà nghênh ngang,

Cao vời mà nhân đạo

Cương quyết trong ân cần.

Anh đó,

Nuôi dưỡng bằng đất bồi Cửu Long,

Tim đỏ thắm như bã trầu quê mẹ, sinh con trai lớn lên làm cách mạng, ôi cách mạng Thế Giới Thứ Ba nổi trôi hơn thân phận con người.

Thóc thơm,

Gạo trắng,

Gió hiền

Miền Nam phì nhiêu nắng ấm.

Mang vào đời anh chân thiện mỹ giữa hai lằn tư tưởng Đông Tây

Tư tưởng mở tung xích xiềng nhược tiểu, cởi trói lý thuyết vô bằng.

Anh không chỉ nói mà làm.

Anh chỉ làm, mà không cần nói.

Đứa bé trai lớn lên ở vựa lúa phương Đông, rồi đứng ở phương Tây,

Đọc sách mà trông về phương Đông, ửng một khối trùng trùng khí phách.

Khí như khí hiên ngang của loài cây không biết ngã

Phách như phách linh thiêng của rừng già không dấu chân người qua.

 

Tôi chưa hề biết tên anh

mà đã hình dung ra một thiếu niên có đường môi cong, mặc áo len trong trời thu Đà Lạt.

Tôi hình dung ra

phố thị cao nguyên khi tấp nập khi đìu hiu mà anh đã một lần đi qua, với đôi chân đùa nghịch của tuổi trẻ.

Trời Đà Lạt thấp sương mù, mang cái lạnh của Hoàng Triều Cương Thổ, anh đã mang mùa thu Đà Lạt vào đôi mắt hiền lương.

Đôi mắt của niềm tin chính đạo, của loài cây vương bá trong rừng già.

Khi sách vở bạn bè Yersin chưa nhận ra chân dung người đi tìm công lý trong cuộc đời,

thì trường lớp cao nguyên vẫn là hàng rào không hoa trái, cản chân anh trong khuôn khổ bình an.

Nhưng rồi

Bình an không còn nữa

Khuôn khổ xóa đi

Một lần

trong hoa lệ Sài Thành, trên vũng máu chính trị vô nhân,

giây phút cha anh nằm xuống,

là ngày vương đạo lên ngôi.

Vương đạo trong lòng bàn tay anh

Chỉ tay ngoằn ngoèo của những người luôn mơ tạo dựng lại vũ trụ,

Chỉ tay phức tạp mà an bài như định mệnh, cho cuộc đời đã trót đi theo đường đã vạch rồi.   

Đường đã vạch rồi.

 Tôi chưa hề biết anh

mà đã hình dung ra người thanh niên mặc áo sô trắng, chít khăn tang

khóc cha trong lòng dân tộc

Ôi trong lòng dân tộc…

 

Anh có hay chăng… một ngày

Cũng trong lòng dân tộc, anh bắt đầu cuộc hành trình

Để rồi

bên ngoài dân tộc.

Có tiếng khóc anh

Ở hành lang đại học

Ôi hành lang đại học

Là nơi giấc mộng của loài cây trong rừng già bắt đầu ươm trái

Cho anh và cho tôi.

Khi Phương Tây rộng mở, đón anh vào

vành môi cong thiếu niên đã đượm nét ưu tư,

Tim óc anh đã nhập vào vòng lịch sử.

Lịch sử oái oăm khi lá cờ đổ xuống, anh đã hăm hở dựng lên.

Lịch sử thách thức vương đạo trong lòng bàn tay anh,

Lịch sử réo gọi trái tim nuôi dưỡng bằng gạo trắng Cửu Long,

chảy vào Đông Hải.

Anh đã làm theo đường đã vạch rồi, trong khi bao người còn đứng nói.

Bao người nói cũng không thành một bước anh đi, một việc anh làm, theo đường đã vạch rồi.

Ôi đường đã vạch rồi…

Như Cửu Long đổ vào Đông Hải,

Định mệnh anh thành dòng huyết nhục cội nguồn tan biến vào ngàn khơi.

 Tôi chưa hề biết anh

Mà hình dung ra những con đường mang dấu chân anh.

Từ bầu trời rực nắng của tháng 6 Paris mùa oi ả, khi âm nhạc đổ dồn vào phố xá tưng bừng.

Ai đó còn nghe tiếng kèn đồng của người nhạc sĩ vĩa hè…

Qua đến tháng 12, mưa tuyết Paris phủ trắng dòng sông Seine.

Đâu đây vọng tiếng hồ cầm trong giai điện cuối cùng.

Còn văng vẳng tấu khúc không trọn vẹn của Schubert trước khi đêm xuống là đứt ngang giấc mộng.

Những nơi chốn anh đã nằm, ngồi, cười, nói, đã suy tư, đã uất nghẹn, từ Đà Lạt đến Paris.

Từ Paris quay lại những nẻo đường đất nước.

Anh đã trở về.

Ôi lục tỉnh lầm than, nơi bùn lầy nước đọng, con rồng Lạc Long của Biển Đông đã u sầu câm nín

Vì xác người làm bạc sóng kêu than.

Này đây biên giới

Này đây rừng nước với cù lao.

Này đây những người vất vưỡng trong nghèo đói, trong chính sách tiêu diệt hết một thế hệ phải buông súng, chịu cúi đầu.

Anh đã thấy, đã nhìn, và đã biết.

Đã chua xót đau lòng,

Đã bất nhẫn, đã buồn hiu.

Ngày một ngày hai.

Anh đội đá vá trời.

Dầm ưa, dãi nắng,

Giã từ nhung lụa,

Chối bỏ vinh thân,

Tất cả.

Đưa bàn chân anh tới,

Lót đường cho anh đi,

Đẩy anh về Cha,

Cho anh xa rời Mẹ.

 Ôi đường vào dân tộc là túi mật của kẻ tử tù. Ôi Cửu Long, Cù Lao Cát, Đà Lạt, Sàigòn, Paris và Biên Giới.

Tuồng diễn trâng tráo nhà hát lớn, vách tường vô nhân, cay nghiệt nhà lao, và tiếng súng nổ sau cùng…

 Tôi chưa hề biết anh

Nhưng đã nghe nhân loại kể chuyện những người không chịu chết, chỉ biết khuất phục trước hai sức mạnh: Tình Yêu và Tổ Quốc.

 Trong anh, TìnhYêu chưa một lần đến,

Mà Tổ Quốc đã một lần đưa.

 

Tôi chưa hề biết anh

Nhưng đã khóc ngày anh nằm xuống.

Anh nằm xuống như cha già đã nằm xuống,

Anh nằm xuống cho mẹ già đứng bên cạnh biểu ngữ trước nhân loại, khi nước mắt xót thân con phải chảy ngược vào lòng.

Trên con đường Thiên Lý và Thiên Cổ

Bên vong linh những Thiên Tài không chịu chết…

Anh đã đi vàoThiên Thu.

Tôi chưa hề biết tên anh

Đứng cho vơ bên này bờ đại dương,

tôi sẽ gọi tên anh cho tất cả những thiếu nữ có ánh mắt làn môi Gina Lolobrigida ngoài lòng đất nước,

con tim vẫn óng ánh đường gươm của rừng già Mê Linh,

nơi mà tùng bách ngàn đời còn đứng vững,

đôi môi son còn mang guốc mộc của rừng Thanh Hoá,

muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp làn sóng dữ, trên con đường anh đã đi qua,

Trong âm thầm.

Tôi sẽ gọi tên anh cho tất cả những nam nhân ở ngưỡng cửa đại học đường, mặc áo len, mang giấc mộng kinh bang tế thế,

Trên viền môi cong nghịch ngợm, nói tiếng Anh, tiếng Pháp, nhưng vẫn đánh vần chữ Việt,

Đôi mắt hiền lương đọc Camus, Steinbeck, nhưng trên diện mạo vẫn còn phảng phất vầng trán vuông và chiếc cằm vuông Nguyễn Thái Học…

Ngày xưa đã có người viết sử cho 13 người trai trẻ lên đoạn đầu đài…

Nay mai, ai sẽ là người viết sử do anh làm ra,

Nhánh thông non,

Cây cao rừng già

TRẦN VĂN BÁ

TRẦN VĂN BÁ

vì thế

Tôi chưa hề biết anh

Nhưng sẽ gọi tên anh

Những sáng tuyết trắng trời Tây.

Những trưa nắng khét sa mạc bên này biển,

Khi người nhạc sĩ blue jazz đã buông kèn đồng trong hầm rượu tối.

Khi tiếng réo rắt cuối cùng Hồ Cầm đã ngừng giai điệu.

Tôi sẽ gọi tên anh,

Trong trầm tư mộng mị

Trong thương nhớ u hoài,

Trong ánh nến lung linh tôi thắp trong lòng, ngọn nên không bao giờ tắt, cho riêng anh.

 Tôi chưa hề biết anh

Nhưng đã gọi tên anh

TRẦN VĂN BÁ”.

 

*

Ai  đó đã nói: “Chết vì nước là sống mãi với thiên thu!” Cũng như anh hùng Nguyễn Thái Học và 12 liệt sĩ lên đoạn đầu đài ở Yên Báy vào thập niên 1930 đã sống mãi với thiên thu!

Trần Văn Bá – “Con Rồng Lạc Long của Biển Đông” cũng sẽ sống mãi với Thiên Thu!

Cũng như bài thơ “Tôi Chưa Biết Mà Đã Gọi Tên Anh” của nữ sĩ Dương Như Nguyện sẽ là bài sử thi sống mãi trong giòng lịch sử đấu tranh của dân tộc Việt Nam bất khuất, hào hùng!

NGUYỄN THIẾU NHẪN

One comment on “TRẦN VĂN BÁ: “CON RỒNG LẠC LONG CỦA BIỂN ĐÔNG”!

  1. http://hanoiparis.com/construct.php?page=poeme&idfam=12&idpoeme=2411


    Trường Thi Anh hùng Trần Văn Bá
    ========================

    BẤM XEN DI ẢNH
    Để Tưởng niệm các Anh hùng Trần Văn Bá, Lế Quốc Quân, Huỳnh Vĩnh Sanh và Hồ Thái Bạch bị xử bắn ngày 08-1-1985 trên pháp trường hành quyết Chí Hòa, Sài Gòn.

    Để Tưởng niệm hàng triệu Anh hùng hữu danh và vô danh khác gục ngã trong các nhà tù Sơn La, Côn Đảo, Côn Sơn, Chí Hòa từ đầu Thế kỷ 19 đến năm 1985 (ngày đóng cửa tù Côn Đảo)

    Nếu có Đa đảng Đa nguyên và Dân trí cao trong xã hội dân sự Dân chủ, chắc chắn hàng triệu Người Mẹ Việt Nam đã không mất hàng triệu đứa con Tinh hoa Lý tưởng .. ..

    Pàng ! Pàng ! Pàng !
    Những phát đạn AK vội vàng xử bắn
    Nổ trong ngục khám Chí Hòa in vết hằn
    Anh dáng đứng bất khuất thắm máu đỏ
    Giảng sư đại học Pháp tuổi tròn 40 Mùa Xuân
    Hình hài còn mang Quốc tịch Quốc Hồn Việt Nam

    Giữa điêu tàn trong tuyệt vọng
    Thời Hậu chiến Đất Nước phân hận suy vong
    Nhiễu nhương tháo chạy tán loạn hàng triệu

    Anh lội ngược dòng về Quê Hương mở sinh lộ
    Hai bàn tay trắng lên đường làm lại Lịch sử .. ..

    Bưng biền núi đồi bình nguyên
    Người kháng chiến quân khắp đồng bằng Nam bộ ngang qua
    Máu anh truyền làm nóng đỏ tĩnh mạch chúng tôi
    Trời Việt Nam dư chấn mãi không thôi

    *


    Pàng ! Pàng ! Pàng !
    Những phát đạn AK vội vàng xử bắn
    Đã cướp tàn bạo Người Con yêu quý của Tổ Quốc Việt Nam
    Hôm ấy Anh dáng đứng bất khuất thắm máu đỏ
    Bên cạnh ba Chiến sĩ Tự do
    Dáng đứng hiên ngang tạc vào Thế kỷ
    Chiến sĩ Tự do Trần Văn Bá vẫn sừng sững tượng đài

    Tinh anh mãi mãi vào Thanh Sử
    Thể phách vĩnh viễn vào Lòng Đất Mẹ
    Vành móng ngựa Ý hệ bạo quyền hành quyết
    Tòa án Lương tâm Lương tri Nhân loại vinh danh mộ huyệt
    Anh Hùng Trần Văn Bá
    Hình tượng hiến dâng vì Dân tộc vì Đại nghĩa
    Người yêu chuộng Dân chủ Tự do

    Người đề xướng Hòa giải Dân tộc


    Pàng ! Pàng ! Pàng !
    Những phát đạn AK vội vàng xử bắn
    Hương Nguyên Xuân Tết Nguyên Đán gần về
    Người Mẹ già sương tóc bạc lòng xin ân xá cho con hôn mê

    Nghe hung tin từ Quê Hương
    Từ trên Đỉnh cao Lịch sử
    Nơi Thái dương tỏa sáng
    Bằng lòng dũng cảm Anh
    Trên pháp trường hành quyết
    « Việt Nam Tổ quốc muôn năm ! »
    Nơi Quê Mẹ yêu quý muôn vàn
    Đây trường bắn Chí Hòa

    Mảnh đất Sài Gòn thân yêu
    Nơi còn muôn thuở Ánh Vinh quang
    Trong suốt thân thương pha lê
    Những Người Con yêu dấu của Mẹ Việt Nam

    Nguyễn Văn Trỗi ! Trần Văn Bá !
    Và bao anh hùng vô danh khuyết danh
    Thành Lịch sử chung thành quốc tang gia tài
    Còn trường tồn với Non Sông mãi mãi

    Tinh hoa thể phách hình hài
    Lý tưởng Chân thành thay ý hệ phi nhân


    Anh lội ngược dòng mở huyết lộ về đây
    Nhiệt tình thắp lại ngọn hải đăng heo hắt hao gầy
    Về lại cố hương mang gió lành gió mới

    Tay trắng lên đường làm lại Lịch sử cuộc đời .. ..

    Với Mặt trời mùa Xuân
    Dựng ngọn cờ mới: Dân chủ Hòa giải Tự do Canh tân
    Với ánh sáng nụ cười hiền lành
    Tình yêu Dân chủ Hòa giải Pháp quyền
    Chuyến đò định mệnh đưa về cố quận
    Dấn thân vào cuộc chống lại nguồn gốc chiến tranh

    Chống lại tội ác chống lại lăng nhục
    Chống lại hủy hoại Tâm hồn Tâm linh Việt Nam
    Toàn trị độc tài đang làm
    Giương cao ngọn cờ Văn minh Nhân bản

    * * *

    Pàng ! Pàng ! Pàng !

    Những phát đạn AK xử bắn vội vàng
    Trong ngoài Nước bàng hoàng tâm tang quốc tang
    Nhà Dân chủ Trần Văn Bá !
    Trên pháp trường hành quyết
    « Việt Nam Tổ quốc muôn năm ! »
    Nơi Quê Mẹ yêu quý muôn vàn
    Đây trường bắn Chí Hòa
    Nơi còn muôn thuở Ánh Vinh quang

    Trong suốt thân thương pha lê
    Thành phố Sài Gòn buồn
    Sài Gòn khóc thương Anh
    Hai ý hệ phi nhân cướp đi
    Nguyễn Văn Trỗi – Trần Văn Bá
    Và hàng triệu đứa con dấu yêu của Mẹ Việt Nam bất hạnh đau thương
    Trên hai miền Bắc – Nam Tổ Quốc
    Nhưng các anh để lại Bài học lớn bao dung:
    Dân trí – Dân quyền – Dân chủ – Đa đảng – Đa nguyên

    Cho chúng ta thương yêu trong khác biệt lẫn nhau

    * * *

    Những Người Con yêu dấu của Mẹ Việt Nam
    Nguyễn Văn Trỗi ! Trần Văn Bá !
    Và bao anh hùng vô danh khuyết
    Triệu Người Mẹ Việt Nam xót thương

    Thành Lịch sử chung thành quốc tang gia tài
    Còn trường tồn với Non Sông mãi mãi
    Tinh hoa thể phách hình hài
    Tên Anh thành Bia Tưởng niệm Vương Quốc Bỉ
    Tên Anh thành Con đường phố Falls Church Virginia Hoa Kỳ
    Vinh danh truy tặng Huân Chương Tự Do Truman-Reagan
    Sứ Quán Hung Gia Lợi thủ đô Hoa Thịnh Đốn
    Tinh thần Mùa Xuân Budapest lảng vảng hương hồn .. ..

    Chúng ta sẽ tiếp nối
    Bên cạnh Anh
    Tinh thần Trần Văn Bá đời đời bất diệt !


    Pàng ! Pàng ! Pàng !
    Những phát đạn AK xử bắn vội vàng

    Trong ngoài Nước bàng hoàng tâm tang quốc tang
    Nhà Dân chủ Trần Văn Bá !
    Trên pháp trường hành quyết
    « Việt Nam Tổ quốc muôn năm ! »
    Nơi Quê Mẹ yêu quý muôn vàn
    Cái chết Chiến sĩ Tự do Trần Văn Bá

    Vẫn ám ảnh Việt Nam Thời Hậu chiến
    Vết thương trong triệu tâm thương chưa lành trên Quê Hương
    Khi họng súng bịt miệng cướp đi nhà thơ Garcia Lorca

    Vết thương ung thư nhức nhối nội chiến Tây Ban Nha

    * * *

    Giã từ Paris nôi sinh Cách mạng Tư tưởng Nhân quyền
    Giã từ Paris vườn khai sinh mầm mống ý hệ không tưởng
    Giã từ Paris Paris gắn bó da diết tang thương định mệnh Dân tộc

    Giã từ Paris định hình thảm trạng Quê Hương Thế kỷ 20
    Giã từ Paris âm thầm làn sóng ngầm mâu thuẫn trong Việt Nam hiện đại
    Anh lội ngược về Quê Hương dấu yêu chân thành


    Sao lại thế khung trời bưng biền xám lạnh
    Vẫn cánh rừng buồn thêm mặt nước long lanh

    Anh không về sau chiến dịch
    Sông Núi lắng nghe đây trầm tư hồn bể dâu
    Bàng bạc sông dài Cửu Long sương khói
    Không-Thời gian trùng phùng u hoài chuyện dòng sông Dịch
    Tiễn Chiến sĩ Tự do từ Paris
    Hào khí Thăng Long chung thủy lời thề
    Nối chí cha anh Nguyễn Thái Học – Phạm Hồng Thái

    Tình anh dấu vết ngàn sau Thiên thai
    Cửu Long chào đón cánh rồng về
    Tráng sĩ bao năm mài bút mài gươm dưới Trăng huyết
    Sông Seine trữ tình nghe Hồn Thép hương Sen
    Nợ Nước nợ Nhà nợ sách đèn

    Sông Hồng – Sông Hương – Sông Hậu Dịch thủy hàn
    Tiễn người đi sáo trúc véo von tiếng địch lan man
    Mây trắng mây trắng biên cương Miên – Việt
    Nhịp vó câu tung bụi Sông Tiền
    Ngang bưng biền phất phới màu tang
    Kinh Kha Việt trường giang Cửu Long chiều biền biệt
    Việt Sử ơi kìa bãi bể nương dâu

    Vầng trắng khăn sô thấp thoáng phủ đầu
    Biệt thự xe hơi nhà lầu hay cỏ khâu ?
    Sinh tồn vượt Thời gian viễn trình cho Đại nghĩa
    Sao Mai tâm hồn Anh hùng
    Dáng đứng tạc vào Thế kỷ muôn thuở đẹp
    Kìa uy dũng Người lội ngược dòng không trở lại
    Ôi Kinh Kha Việt !

    Ôi Trần Văn Bá !
    Hào khí Anh sang sảng với Non Sông
    Nước Cửu Long trường giang còn trôi về sa mù
    Gương Anh hùng ngời sáng thiên thu
    Gió hiu hiu kể câu chuyện dòng sông Cửu Long mù sương
    Cánh Hải Âu chim biển bạt gió lạc loài kêu thương
    Tráng sĩ Ba Lê một đi không trở về .. ..
    Gió thổi Trường giang Cửu Long lạnh lùng ghê

    Kinh Kha Việt một đi không trở về.. ..

    Triệu Lương Dân

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s